Thứ Bảy, ngày 29 tháng 11 năm 2008

Thanh Thảo bình thơ Trần Quốc Thực

Khi nhà thơ Trần Quốc Thực mất, anh Nguyễn Việt Chiến viết bài "Anh đã về miền Tháp Cúc" tiễn đưa anh Thực đăng trên Thanh Niên. Anh Chiến là một trong những bạn bè thủy chung nhất của người thi sĩ tài hoa nghèo khó suốt đời này. Tui cũng viết một bài "Trần Quốc Thực, thi sĩ" đăng trên Thanh Niên, bài đó tui nói ở Việt Nam chỉ có dăm sáu thi sĩ, trong đó có Trần Quốc Thực. Biết tui viết bài về anh Thực, anh Chiến đã tìm các tập thơ cũ của anh Thực gửi bưu điện vào cho tui. Hôm qua tự nhiên ông Thanh Thảo gửi cho tui bài này bảo tui đăng trên Blog. Thấy nhớ Trần Quốc Thực và nhớ Nguyễn Việt Chiến đến ứa nước mắt.


Nhận giải thưởng Hội Nhà văn VN 2004.
Người thứ nhất tính từ bên phải là anh Trần Quốc Thực,
người thứ hai tính từ bên trái là anh Nguyễn Việt Chiến


THANH THẢO


Một nét thơ Trần Quốc Thực



"Mẹ ơi tay mẹ mười năm nắng

Tóc mẹ phơ phơ dáng lặng thầm

Mẹ ơi tay mẹ mười năm trắng

Chân mẹ mười năm mưa nắng ngâm” ( Không đề)


Tôi muốn gọi “một nét thơ Trần Quốc Thực” vì lẽ: người thơ ấy chỉ chọn từng nét trong số phận, từng nét nhỏ trong đời người-những nét khía vào ta lặng thầm mà nhói buốt. Sao áo mẹ chỉ “mười năm nắng”, sao tay mẹ chỉ “mười năm trắng”, và sao chân mẹ chỉ “mười năm mưa nắng ngâm” trong suốt cuộc đời nhiều những “mười năm” của mẹ ? Chỉ với bốn nét hay bốn chấm nhỏ: tay (), chân (trắng bợt), áo ( trắng bạc), tóc ( trắng phơ), nhà thơ đã điểm nhãn chân dung mẹ mình-một người mẹ nông dân Việt Nam chung và một người mẹ nông dân vùng đồng chiêm trũng Bắc bộ rất riêng mà một chữ ngâm đủ nói lên tất cả nỗi nhọc nhằn triền miên trên những cánh đồng chiêm khê mùa thối. Và một chữ trắng đủ cho ta giật mình!
trắng mờ


Thơ Trần Quốc Thực đã ngâm trong số phận của mẹ mình, của quê hương mình như thế, như tre ngâm vật vã trong bùn, như bông sen bông súng ngâm thân trong đồng nước, nhưng cứ thấp thoáng hừng lên, trắng lên một ngọn lửa khôn nguôi: “ Phấn trắng mẹ phơi sườn sông vắng/Tóc trắng mẹ phơi dưới trời/” . “ Ngâm” và “Phơi”, xin chú ý đến hai chữ, hai động từ này. Nếu ai đã về những vùng đồng chiêm trũng dưới trưa hè, thử “ngâm” và “phơi” mình dù trong chốc lát dưới cái nắng thiêu đốt oi ả, nắng từ trời dội xuống và nóng từ nước hắt ngược lên, sẽ cảm thấu được tất cả cái ngặt nghèo của hai con chữ tầm thường ấy. Có thể phải sống ở vùng đồng chiêm trũng nửa đời mình cộng với nghìn đời ông bà cha mẹ mình-gấp nghìn lần cái “mười năm” mới có thể viết được bài thơ ngắn này.


Đọc thơ Trần Quốc Thực nhiều lúc khiến tôi nhớ tới thơ Quang Dũng, những bài thơ mang một nỗi buồn u ẩn không thể giải thích, và không cần giải thích. Quang Dũng thường có cảm giác lưu lạc-một cảm giác thân phận mơ hồ mà ông lắng nghe được đâu đó từ trong máu huyết mình. Thơ Trần Quốc Thực cũng mang một nỗi u hoài, một cảm giác lưu lạc như thế, nhưng rõ ràng hơn. Địa chỉ quê nhà anh cũng rõ hơn địa chỉ quê nhà trong thơ Quang Dũng, dù người ta đều biết Quang Dũng sinh ra ở đâu. Nghĩa là cảm giác thất lạc trong thơ Trần Quốc Thực có những nét khác với cảm giác thất lạc trong thơ Quang Dũng. Nó định vị, định dạng nhưng không định thời. “ Mười năm” đó chỉ là một cách nói, như người khác nói “trăm năm” hay “nghìn năm”, và ở bài thơ ngắn này, thì “mười năm” ấy chính là “trăm năm” cuộc đời mẹ. Nhưng ai cũng biết, chỉ cần “ngâm” và “phơi” trong đồng chiêm trũng ấy “mười năm” là đủ thấm thía cho trăm năm, đủ nhận biết cho nghìn năm.


Cuộc đời những người mẹ nông dân chúng ta không dài, không thể dài. Vì lẽ gì thì ai cũng biết. Tôi cũng có một người mẹ nông dân như vậy cho riêng đời mình, dù mẹ tôi không sinh và sống ở vùng đất chiêm khê mùa thối như mẹ Trần Quốc Thực. Nhưng tôi cảm được những câu thơ rất thực của một người tên Thực viết về mẹ mình. Và đó cũng là người mẹ chung, người mẹ Việt Nam của chúng ta đã nghìn năm “bán mặt cho đất bán lưng cho trời” qua từng vụ từng mùa từng năm. Vì vậy, chỉ cần lấy nét “mười năm” là đủ cho tất cả.


Xin chép lại cả bài thơ 12 câu này mời bạn đọc ngẫm nhân Tết đến Xuân về:


KHÔNG ĐỀ


Đi một trưa hè, con thương mẹ

Chợ Bầu, sông Đáy nắng nôi

Phấn trắng mẹ phơi sườn sông vắng

Tóc trắng mẹ phơi dưới trời

Mẹ ơi áo mẹ mười năm nắng

Tóc mẹ phơ phơ dáng lặng thầm

Mẹ ơi tay mẹ mười năm trắng

Chân mẹ mười năm mưa nắng ngâm

Đi một trưa hè. Đi suốt trưa

Vóc người đổ sáng những năm xưa

Trưa nay sông Đáy mơ hay thức

Sóng vật mình lên trông xanh chưa ?


Ghi thêm: Mẹ ơi tay mẹ mười năm trắng, là suốt một đời mẹ trắng tay. Mẹ trắng tay và con tay trắng, có lẽ ý Trần Quốc Thực muốn nói vậy. Nhưng không hẳn vậy đâu! Mẹ dẫu trắng tay vẫn còn đứa con hiếu thảo. Và con dù trắng tay vẫn còn bài thơ nhỏ tặng mẹ, một trong những bài thơ viết về mẹ hay nhất trong thơ Việt đương đại.


Quảng Ngãi, trong những ngày mưa lụt sau hăm ba tháng mười

T.T

Chiêm ngưỡng anh Hồ Giáo (3)

Ký sự nhân vật

Kỳ 3 : Cõi riêng


Hồ Giáo chăm sóc trâu bò như bố chăm sóc cho con, người ta bảo ông yêu thương trâu bò là do vậy. Điều đó không sai. Nhưng bảo vì ông yêu thương trâu bò mà 79 tuổi rồi vẫn không nghỉ là không chính xác.


Chúng tôi đưa ông về nhà, trên đường tôi hỏi xin số điện thoại, ông nói : “Nhà có điện thoại nhưng tôi không biết số, tôi có bao giờ gọi cho ai đâu”.


Nhà ông Hồ Giáo ở thị xã Quảng Ngãi. Ông sống với vợ là bà Huỳnh Thị Thành, con gái Hồ Thị Tuyết Minh, con rể Huỳnh Ngọc Quang và một cháu ngoại còn bé. Trong nhà không treo bằng anh hùng, không treo huân chương, không treo ảnh ông chụp với các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, ngoài bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh được treo như bao nhà khác. Tôi không hỏi lý do, vì ông là Hồ Giáo, không thể có lý do làm mình làm mẩy nào.

Hỏi nhỏ chuyện riêng, ông tủm tỉm cười : “Năm 1982 tôi mới lấy vợ, khi ấy tôi đã lớn (52 tuổi). Ở Sông Bé đi phép về Quảng Ngãi, thằng cháu con bà chị tôi làm mối cho bà này, bả là bộ đội chuyển ngành làm ở cửa hàng ăn uống thị xã”. Ông thật thà kể tiếp : “12 ngày phép nhưng mất 6 ngày đợi tàu xe, chỉ còn có 6. Bọc vé tàu trong túi rồi, tôi dự định dành 2 tiếng để gặp, nhưng rủi là lúc đó có khách, nên chỉ còn nửa tiếng, tàu xe lúc đó rất khó khăn, không trễ được”. “Chỉ nửa tiếng bác làm gì mà lấy được vợ ?”. “Chỉ chào rồi hỏi thăm cha mẹ có còn không, anh chị em như thế nào…Nói chuyện thế thôi, sau đó tôi phải đi cho kịp tàu. Vào đó mới viết thư”. “Bác viết thư nói gì ?”. Lại cười : “Thì giới thiệu tôi trước đây ở bộ đội, chuyển ngành làm cái này cái kia, cha mẹ mất hết, còn mấy đứa em… Hoàn cảnh của tôi như thế, nếu cô ưng tôi thì tôi về tổ chức, không ưng thì thôi”. “Cô ấy trả lời như thế nào ?”. “Tôi viết ba lá thư. Viết thư đã khó, gửi được thư rồi chờ mãi không thấy gì hết. Mãi rất lâu tôi mới nhận thư trả lời đồng ý. Đồng ý rồi thì làm đám cưới. Cũng may hồi đó đúng kỳ họp Quốc Hội (ông Hồ Giáo là đại biểu Quốc Hội 3 khóa liền), tôi họp xong mua một túi bánh kẹo từ Hà Nội về đám cưới luôn. Hồi đó đơn giản chứ như bây giờ thì cưới không nổi đâu anh”.

Cưới xong ông lại vào Sông Bé, mỗi năm về phép một lần, mãi đến năm 1991 vợ chồng mới sum họp. Bà Huỳnh Thị Thành năm nay 62 tuổi, người hiền lành thật thà như đếm. Bà bảo hồi đó nhận thư ông bà chỉ viết lại “vài chữ đồng ý” thôi.

Căn nhà cấp bốn rộng khoảng 120 mét vuông gia đình ông Hồ Giáo đang ở không phải do nhà nước cấp cho một lão đồng chí hai lần anh hùng, mà là của vợ chồng ông tự mua, từ tiền lương công nhân mà ông bà tiết kiệm được trong nhiều năm và của một số người giúp đỡ, đầu tiên mua với giá một cây sáu vàng với diện tích một nửa của bây giờ, sau đó mới tích cóp mở rộng thêm. Ai giúp ông cái gì ông đều nhớ rõ. Ông kể một công ty Canada (có lẽ là Việt kiều, ông không nói rõ) đọc bài báo ông Hùynh Dũng Nhân viết về ông, đã giúp ông hai chỉ rưỡi, Viện chăn nuôi cho hai triệu, Bộ Nông nghiệp cho một triệu, công ty hàng hải Khánh Hòa cho hai triệu rưỡi…Bà Thành nhớ lại : “Khi ở Sông Bé, dành dụm được bao nhiêu ổng đều gửi về cho tôi, khi hai triệu, khi năm trăm, khi hai trăm, khi một trăm ngàn. Ổng nói nếu hồi ở Ba Vì mà dành dụm thì bây giờ chắc giàu rồi, hồi đó tiền lương ăn tiêu còn dư ổng cho người ta hết”. Tôi hiểu “giàu” theo quan niệm của vợ chồng ông Hồ Giáo là hơn bây giờ một chút, chứ lương công nhân dù không ăn tiêu gì cũng có đáng là bao.

Tôi lại tò mò hỏi bà Thành vì sao chính quyền không cấp đất cho anh hùng Hồ Giáo làm nhà, trong khi rất nhiều cán bộ khác thì được cấp, bà Thành nói : “Thật ra là có cấp, nhưng họ chỉ một cái ao rất sâu. Vợ chồng tôi làm gì có tiền mà lấp được cái ao đó nên không nhận. Họ lại chỉ một chỗ khác cạnh nghĩa địa, ở đó sợ quá nhận làm gì”. Tôi ghi lại chuyện này là cho vui thôi, ông bà không hề có bất cứ thắc mắc nào, tôi cũng không viết ra để đề nghị chính sách. Vả lại trên nguyên tắc đất ao cũng là đất, đất cạnh nghĩa địa cũng là đất, có gì đâu mà thắc mắc. Chỉ là do vợ chồng ông Hồ Giáo không cần thôi.

Vào nhà ông Hồ Giáo tôi lại nhớ câu “tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc” (biết đủ là đủ, đợi cho đủ thì biết bao giờ mới đủ). Ông làm việc ở trại trâu Hành Thuận mỗi tháng được nhà nước trả bảy trăm ngàn đồng, lương hưu của ông bây giờ lên một triệu tám (ông tính tròn hai triệu), lương hưu của bà một triệu tư, lương con rể một triệu tám, lương giáo viên con gái một triệu tư. Ông cho biết ngày tết ông được tặng “vài cân gạo, vài cân thịt và ba bốn trăm ngàn”. Thu nhập của ông, ông “kê” chung không tính toán, nhưng cần hiểu rằng công lao động chăn trâu của ông Nhà nước chỉ trả bảy trăm ngàn một tháng, là tiền công lao động rẻ mạt nhất trong thị trường lao động hiện nay. Không thể nói là ông “làm thêm”, vì ông làm toàn thời gian, không chỉ toàn thời gian mà còn vượt rất xa cái toàn thời gian ấy. Cũng không thể tính lương hưu một triệu tám và phụ cấp anh hùng ba trăm ngàn của ông vào đây được, đó là khoản tiền không làm gì ông vẫn được hưởng, vì nó là lao động quá khứ của chính ông. Tôi phải nói rõ điều ai cũng biết này vì thấy quá bất nhẫn.

Chừng đó thu nhập cho 5 nhân khẩu. Đối với ông Hồ Giáo như vậy là đủ. Thời gian gần đây ông không xách theo cặp lồng cơm để ăn trưa, mấy anh thanh niên nuôi heo gần đó nấu cơm trưa cho ông ăn, tiền ăn trưa mỗi tháng một trăm ngàn. Tôi hỏi bà Thành đến bao giờ thì vợ chồng con gái bà ra ở riêng, bà nói : “Ở chung như vậy là được rồi, ở riêng lấy tiền đâu mua nhà anh”.

Anh hùng Hồ Giáo, hai lần anh hùng, năm lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, người được Thủ tướng Phạm Văn Đồng thương yêu như con, nhưng chưa bao giờ, đúng hơn là không bao giờ ông “khoe”với ai về điều đó. Mà ông khoe để làm gì kia chứ, ông có ý định nhờ vả ai việc gì đâu. Có lẽ đời ông chỉ có một nguyện vọng riêng, đó là mong cô con gái độc nhất của ông được công tác gần nhà. Nguyện vọng đó là hoàn toàn chính đáng đối với một người cống hiến trọn vẹn cả cuộc đời cho nhà nước như ông, càng chính đáng hơn khi vợ chồng ông sinh con rồi mà do bận nhiệm vụ nhiều năm sau ông mới được gần con mặc dù đất nước đã hòa bình, nhưng chị Hồ Thị Tuyết Minh con gái ông học sư phạm ra trường “được” ngành giáo dục địa phương đưa lên dạy tận trên vùng xa Sơn Bao. “Tôi biểu ổng đi xin cho con về dạy gần nhà nhưng ổng không chịu, ổng nói biết có được không mà xin”, bà Thành kể. Ông Thanh Thảo thấy không chịu được, tức khí viết luôn bài lên tiếng trên báo Thanh Niên, nhưng mãi đến năm ngoái chị Minh mới được điều về thị xã, sau ba năm tít mù trên núi. Nhưng không sao, cuối cùng con gái ông vẫn được về gần nhà.

Tôi hỏi ông có vị lãnh đạo nào đến thăm ông ở trại trâu không, ông bảo không. Điều này thì đúng, cũng không nhất thiết đến thăm ông với 4 con trâu làm gì. Hỏi tết nhất có ai đến thăm ông không, ông bảo không luôn. Điều này ông sai. Vì tôi hỏi vợ ông thì bà nói có, chỉ do ông không biết mà thôi. Ông có ở nhà đâu mà biết. Ông chưa bao giờ ăn tết ở nhà ban ngày, tết nhất ông vẫn ở trại trâu như những ngày thường, lãnh đạo đến thăm nhà làm sao ông biết. Còn vợ ông thì có lẽ thấy chuyện thăm viếng này bình thường thôi nên không nói lại với ông.

Hồ Giáo chăm sóc trâu bò như bố chăm sóc cho con, người ta bảo ông yêu thương trâu bò là do vậy. Điều đó không sai. Nhưng bảo vì ông yêu thương trâu bò mà 79 tuổi rồi vẫn không nghỉ là không chính xác. Hỏi ông có muốn nghỉ không ? Ông trả lời : “Không, ở nhà cực quá”. “Ở nhà làm gì mà cực ?”. “Không làm gì nên cực”. Hỏi giờ nếu người ta mang 4 con trâu đó ra Hà Nội (tôi có nghe nói vậy) thì ông có buồn không ? Trả lời : “Buồn lắm. Tôi sẽ về quê kiếm một miếng đất để làm. Đất thị xã khó chứ đất ở quê dễ kiếm”. “Làm sao bác có tiền mua được trâu bò mà nuôi ?”. “Có trâu bò thì vui hơn, nhưng không có thì tôi làm việc khác, ở không cực lắm, tôi không chịu được”. Bạn đọc nghĩ sao về điều đó ? Ông là một người lao động, không lao động ông không sống được, chỉ đơn giản vậy thôi.

Khi tôi đang viết bài này ông Thanh Thảo gọi điện nói : “Hồ Giáo là tấm kính chiếu yêu. Người chính trực soi vào đó sẽ thấy mình chính trực. Yêu quái đội lốt người mà soi vào đó, sẽ hiện nguyên hình”. Xin mượn lời ông Thanh Thảo để kết thúc ký sự này ở đây.

Quảng Ngãi – TP.HCM, tháng Mười âm lịch 2008
HOÀNG HẢI VÂN
Bài đăng trên Thanh Niên, 29-11-2008
-------------------------
Chú thích ảnh (từ trên xuống) :
-Ồng Hồ Giáo. Ảnh : Hiền Cừ
-Gặp bạn cũ ở Ba Vì. Ảnh : Trà Sơn
-Bà Huỳnh Thị Thành và cháu ngoạ. Ảnh Hiền Cừ

Thứ Sáu, ngày 28 tháng 11 năm 2008

Chiêm ngưỡng anh Hồ Giáo (2)

Ký sự



Kỳ 2: Lý luận về trâu Mura

Mục đích phát triển đàn trâu Mura là sức kéo và sữa. Nhưng đồng ruộng bây giờ đã dùng máy, rất í
t nơi cày bằng trâu, nên trâu dù hay đến bao nhiêu cũng đâu có ai cần đến nữa. Sữa trâu Mura, từ Sông Bé đến Quảng Ngãi, vắt ra đem cho các cháu nhà trẻ mẫu giáo ở làng quê, điều này là rất tốt rất nhân văn, nhưng chỉ như vậy thôi, sữa trâu không ai mua.


Ông Hồ Giáo kéo xe cỏ vào trại, xếp từng bó vào cái kho đối diện với 4 ngăn chuồng có trâu. Bốn con trâu chồm lên phía trước khịt mũi mừng rỡ. "Đây là con Tây Trà mười tuổi, đây là con Trà Câu cũng mười tuổi, còn kia là con Cà Đam hai tuổi, con ở ngăn cuối cùng là Núi Tròn một tuổi", ông Hồ Giáo mở bó cỏ cầm một nắm đưa vào miệng con Tây Trà rồi trân trọng giới thiệu tên từng con với khách. Ông lấy tên của các địa danh Quảng Ngãi để đặt cho những con trâu của mình.

Tôi hỏi ông hồi ở Ba Vì ông có đặt tên cho những con bò hay không, ông bảo bò Ba Vì không có tên mà chỉ gọi theo số. Việc đặt tên là đặt từ lứa trâu Mura đầu tiên đến Sông Bé. Ông kể: "Sau giải phóng, Ấn Độ tặng Việt Nam 502 con trâu, trong đó có 2 con Thủ tướng Ấn Độ tặng riêng cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ba chuyến máy bay chở đàn trâu xuống sân bay Tân Sơn Nhất năm 1977. Từ đó tôi chuyển qua nuôi trâu".


"Ở Sông Bé bác gi chức vụ gì?", tôi lại hỏi một câu vô duyên. "Không. Tôi chỉ nuôi trâu thôi. Hồi ở Ba Vì tôi nuôi bò, làm đội trưởng đội 1, lãnh đạo bảo tôi làm phó giám đốc, nhưng tôi không làm được, tôi nói với mấy ổng: tôi lớn tuổi, trình độ không có, để người trẻ có trình độ làm. Về Sông Bé cũng bảo tôi làm phó giám đốc, tôi cũng không nhận. Trước khi về đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gọi tôi lên, có ông Viện trưởng Viện Chăn nuôi nữa. Tôi nói: đưa tôi vào làm chăn nuôi trực tiếp thì tôi làm, làm quản lý thì không". Ông bảo ở Ba Vì thời ông làm có 1.200 công nhân nhưng chỉ có 8 kỹ sư, còn ở Sông Bé công nhân có 330 người, có 30 kỹ sư. "Ở Sông Bé vắt sữa trâu mệt hơn, ở Ba Vì vắt sữa bò nhẹ hơn, nhưng bò có con trái nết nếu không khéo bị nó đá. Tính chung lại thì hai bên như nhau".


Đưa đàn trâu Mura về Sông Bé lúc ấy mục đích là phát triển nhân giống cho dân làm sức kéo và xây dựng một cơ sở làm sữa trâu, đáp ứng nhu cầu sữa cho nhân dân, vì lãnh đạo nghĩ sữa trâu rất tốt. Ông Hồ Giáo lại đem hết tài nghệ để chăm lo cho đàn trâu. Các chuyên gia Ấn Độ hồi ấy đã kinh ngạc khi chứng kiến từng con trâu do ông Hồ Giáo chăm sóc tự bước lên bàn cân để kiểm tra trọng lượng khi được gọi tên. Tại đây, ông được phong anh hùng lao động lần thứ hai (1986).


"Đàn trâu nhân ra nhanh, nhân dân nuôi rất nhiều, có ông nuôi tới 100 con, đến lúc tôi nghỉ hưu Sông Bé có 1.404 con". Ngừng một lát, ông buồn rầu: "Nhưng bây giờ chỉ còn 40 con thôi". Nghĩ đến trâu, ông tiếc nuối, cũng như bây giờ đây ông tiếc nuối cho cái trại trâu Hành Thuận này. Điều quan trọng nhất khiến cho đàn trâu không phát triển mà ông Hồ Giáo không hiểu được: thị trường!


Lấy tiếp nắm cỏ cho con Núi Tròn ăn, ông Hồ Giáo kể tiếp: "Năm 1990 tôi đến tuổi hưu. Đầu tiên tôi định ở lại thành phố (TP.HCM), một số anh bảo đừng về Quảng Ngãi làm chi cho cực, ở lại đây làm, lương tháng 800 ngàn". "Họ muốn bác làm gì?". "Cũng nuôi bò sữa. Nhưng ông Phạm Văn Đồng nghe tôi về hưu gọi ra. Ổng đưa 15 con trâu Mura về Quảng Ngãi, bảo tôi về nuôi đàn trâu, là cái trại này đây". Ông lại hào hứng: "Cái trại này lúc nhiều nhất là 20 con. Nhưng từ 15 con đầu tiên nhân ra nhiều lắm. Đẻ bao nhiêu phân cho các huyện, Nghĩa Hành bao nhiêu, Tư Nghĩa bao nhiêu… Huyện giao trâu về xã, xã giao xuống cho dân. Sông Bé trước đây cũng vậy. Xã chọn người để giao, không bán. Yêu cầu là, trâu nuôi lớn rồi phải lai tạo với trâu mình, một trâu đực phải phối cho ra 15 trâu con, một trâu cái phải đẻ 2 con. Làm được như vậy thì tất cả trâu mẹ trâu con là của anh, cho anh hết, Nhà nước không thu tiền, cũng không lấy lại trâu".


Ông nắm rất chắc những ưu điểm nhược điểm của trâu Mura so với trâu ta. Ông nói: "Lúc đầu nhiều ông già bà già chê trâu Mura: chóp đuôi có chòm lông trắng, trán cũng có chòm lông trắng. Ông bà ta coi trâu trước hết là coi xoáy, nhưng xoáy của trâu này lung tung không giống trâu ta. Còn mắt thì trâu này có con hai con mắt đều đen hết, có con mắt phải đen mắt trái trắng, bà con nói trâu này mù. Giải thích cho họ khó lắm. Tôi nói: bác đứng đó tôi đem nắm cỏ cho nó ăn xem nó có thấy không. Nó thấy và ăn hết. Giải thích mãi mấy ổng mới chịu". Ông giải thích cho dân và chứng minh trong thực tế là trâu Mura rất nhiều ưu điểm: "Trâu Mura đuôi dài, ăn khỏe. Cỏ, rơm rạ, đọt mía non, bột mì (sắn), bắp, đậu tương… thứ gì cũng ăn tuốt. Trâu này kéo cày rất tuyệt, mỗi ngày cày được 3-4 sào trong khi trâu mình chỉ cày 2 sào là cùng, thêm cái hay nữa là nó đi tới đầu bờ thì đứng lại, khác với trâu ta. Hồi xưa có ông mới nuôi đem ra cày, thấy hay dân xúm lại xem đông quá chừng. Còn kéo xe thì nó nhất, 2 con kéo bằng một chiếc công nông, xe công nông sa lầy không lên được, còn nó thì lên như không".


Tôi hỏi: "Nó nhiều ưu điểm vậy tại sao không phát triển được?". Ông đáp: "Do trên. Do mấy ổng không tính toán. Cuba mỗi người dân có một con bò sữa, còn mình thì mấy ông cán bộ cả đời không đến trại chăn nuôi".


Như đã nói, ông Hồ Giáo không kịp hiểu thị trường, ông cũng không hiểu mấy những chuyện bên ngoài trại trâu. Mục đích phát triển đàn trâu Mura là sức kéo và sữa. Nhưng đồng ruộng bây giờ đã dùng máy, rất ít nơi cày bằng trâu, nên trâu dù hay đến bao nhiêu cũng đâu có ai cần đến nữa. Sữa trâu Mura, từ Sông Bé đến Quảng Ngãi, vắt ra đem cho các cháu nhà trẻ mẫu giáo ở làng quê, điều này là rất tốt rất nhân văn, nhưng chỉ như vậy thôi, sữa trâu không ai mua. Ông Hồ Giáo bảo: "Sữa trâu giá trị cao hơn sữa bò, hàm lượng bơ đến 70 phần trăm trong khi sữa bò 30, 40, nhiều nhất là 50 phần trăm; đạm đến 7 phần trăm, sữa bò cao nhất 5-6 phần trăm. Hồi ở Sông Bé mỗi ngày được cấp một lít sữa trâu, tôi uống hết". Dù nhiều người biết vậy, báo chí cũng có nói như ông Hồ Giáo, nhưng sữa trâu vẫn khó mà bán được, khó mà thành thương phẩm như sữa bò. Do thói quen, do tập tính. Tôi thầm nghĩ nếu như các nhà khoa học phát hiện trong sữa trâu có những chất rất hay, như chất chống ung thư chẳng hạn, và báo chí tuyên truyền rầm rộ về giá trị của nó, thì liệu sữa trâu có bán được không? Khó nói lắm. Thực tế là thị trường đã đẩy ông Hồ Giáo cùng với đàn trâu thu hẹp còn 4 con vào cảnh đơn chiếc, không ai ngó tới. Chỉ thỉnh thoảng mới có người đến chiêm ngưỡng, ví dụ như tôi đây.


Cho 4 con trâu ăn xong, ông Hồ Giáo bảo: "Thôi, tôi phải đi tắm. Các anh về nhé". Tôi nói chúng tôi đợi để đưa ông về. Ông vui vẻ đi tắm, rồi đi ngược lên một gian nhà phía trước trại để thay quần áo. Cuối cùng ông xuất hiện, trên đầu đội chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu "Honda" hẳn hoi. Tôi ngạc nhiên hỏi ông đi bộ thì đội mũ bảo hiểm làm gì, ông cười: "Đội để trên đường gặp ai quen đi xe máy thì đi nhờ". Hằng ngày, ông đi bộ đến trại trâu này từ năm 1991 đến nay, đi 6 km về 6 km, mỗi năm 365 ngày, kể cả chủ nhật, ngày lễ, ngày tết. Cho đến gần đây ông mới có con rể, mỗi tuần ông chỉ đi bộ… 6 ngày, thỉnh thoảng trên đường mới gặp người quen đi xe máy. Con rể ông, anh Huỳnh Ngọc Quang, là kỹ sư làm ở Dung Quất, sáng phải đi rất sớm bằng xe đưa đón công nhân, chiều lại về muộn. Chủ nhật anh mới ở nhà đưa đón bố vợ. (còn tiếp)


HOÀNG HẢI VÂN

Bài đăng trên Thanh Niên, 28-1-2008

---------------------------

*Chú thích ảnh : Từ trên xuống dưới :

- Ông Hồ Giáo với đàn nghé Mura ở trại trâu Hành Thuận trước đây. Ảnh Trà Sơn

- Với Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi được phong anh hùng lần thứ nhất. Ảnh tư liệu

- Cho trâu ăn. Ảnh Hiển Cừ

- Đội mũ bảo hiểm để đi nhờ xe máy. Ảnh HHV

Thứ Năm, ngày 27 tháng 11 năm 2008

Chiêm ngưỡng anh Hồ Giáo (1)

Ký sự nhân vật

Kỳ 1 : “Hỏi anh : có thú vui gì…”


Báo chí đã viết nhiều về Hồ Giáo, đã có truyện về Hồ Giáo, có thơ về Hồ Giáo, có bài hát về Hồ Giáo. Nhưng mấy chục năm nay Hồ Giáo vẫn là một đơn nhất, không lặp lại.


Tôi đến trại trâu Mura của ông Hồ Giáo vào ngày 23 tháng Mười âm lịch – cái ngày gắn với câu ca của bà con xứ Quảng “Ông tha bà chẳng tha/Làm ra cái lụt hăm ba tháng Mười”. Kinh nghiệm dân gian quá chính xác. Ngày này mà không có lụt lớn thì là ngày cuối cùng của mùa mưa bão.

Quảng Ngãi bắt đầu tạnh, trời chỉ còn mưa lất phất. Trại trâu “đóng” tại xã Hành Thuận (huyện Nghĩa Hành), cách thị xã khoảng 6km. Nghe nói hàng ngày ông Hồ Giáo sáng đến chiều về, đi bộ một khoảng đường 12 km. Nói là trại nhưng không rào giậu, là một dãy nhà cũ lợp ngói, bên trong là một hàng chuồng phần lớn trống không, chỉ 4 ngăn có 4 con trâu to vạm vỡ, đen mướt. Không một bóng người. “Ông ấy đi cắt cỏ ngoài kia kìa, các anh đi vòng qua phía sau thì gặp”, một thanh niên đi ngang qua chỉ chúng tôi.

“Ở Quảng Ngãi này ai cũng biết ông Hồ Giáo là người chăn bò hai lần được phong anh hùng, ai cũng biết giờ ông đã sắp 80 tuổi rồi mà vẫn còn chăn trâu. Hàng ngày ông vẫn đi từ thị xã đến trại trâu, ai đi qua đều nhìn thấy. Nhưng người ta chỉ biết vậy thôi. Hồ Giáo vẫn là một bí mật, ngay cả đối với người Quảng Ngãi”, nhà thơ Thanh Thảo nói đầy ẩn ý trước khi nhờ một anh bạn đưa tôi đến đây. Tôi hiểu ý ông Thanh Thảo. Báo chí đã viết nhiều về Hồ Giáo, đã có truyện về Hồ Giáo, có thơ về Hồ Giáo, có bài hát về Hồ Giáo. Nhưng mấy chục năm nay Hồ Giáo vẫn là một đơn nhất, không lặp lại. Phải nhìn ở một góc khác mới hiểu được người chăn bò siêu phàm này.

Tôi không hiểu vì lý do gì mà có đến mấy thế hệ học trò cứ nhầm lẫn Hồ Giáo là nguyên mẫu của nhân vật Nhẫn trong truyện Cỏ Non của nhà văn Hồ Phương. Truyện Cỏ Non tôi không rõ được đưa vào sách giáo khoa năm nào, nhưng nó được giải thưởng báo Văn Nghệ năm 1959, năm đó ông Hồ Giáo còn là anh

bộ đội, chưa về nông trường Ba Vì để đi chăn bò. Giáo viên nhầm lẫn, học sinh nhầm lẫn, thậm chí nhiều nhà báo viết về ông Hồ Giáo, đã gặp người thật việc thật, mà cứ nghĩ mình vừa gặp nguyên mẫu của Cỏ Non. Cho đến gần đây ông Hồ Phương mới cãi chính (xem Nhà văn Hồ Phương: Đừng nhầm nhân vật trong Cỏ Non với anh Hồ Giáo! đăng trên website báo VH -TT ngày 12-6-2008). Sự nhầm lẫn như vậy không có hại gì, nó chỉ khiến cho người ta nghĩ về ông Hồ Giáo không giống như ông Hồ Giáo thật.

Giữa đám cỏ voi cao quá đầu, Hồ Giáo đang mặc áo mưa lom khom cắt, lom khom bó cỏ thành từng bó, sắp vào chiếc xe cút kít. Thấy khách đến ông không ngạc nhiên, không khó chịu, không vui mừng, cũng không hỏi gặp ông có việc gì. Nghe lời chào, ông ngước mặt lên mỉm cười, rồi tiếp tục lom khom cắt cỏ. Tôi hiểu thông điệp của ông là: lúc này không có chuyện gì quan trọng hơn cắt cỏ.

Hỏi anh : có thú vui gì ?

Anh cười : vui thú đời đi chăn bò…

Nghĩ đến Hồ Giáo ai cũng nhớ hai câu thơ đó. Ông Tố Hữu viết bài thơ Gặp anh Hồ Giáo hồi hồi trước là để cổ vũ tinh thần lao động xã hội chủ nghĩa, nhưng ông Thanh Thảo bảo hai câu thơ trên đây có lẽ là hai câu thật nhất về Hồ Giáo.

Ông vừa cắt cỏ vừa nói chuyện với chúng tôi. Tôi hỏi ông vì sao sau khi tập kết ông lại đến Ba Vì đi chăn bò, ông chậm rãi : “Tập kết ra Bắc tôi vẫn là bộ đội, ở sư đoàn 350 bảo vệ thủ đô. Đến năm 1960 theo lời kêu gọi của Bác Hồ giảm 8 vạn quân, ai ở miền bắc thì về nhà, ai ở ở miền nam ra thì được chuyển ngành, ưng đi đâu thì đi. Tôi nghĩ mình bộ đội cũng là nông dân, làm nghề nông là chắc chắn nhất. Làm việc khác tôi không thích, như ngành xây dựng xây xong công trình rồi đi mất, mình không ở lại với cái mình làm ra. Nghĩ thế nên tôi tình nguyện đi Ba Vì làm chăn nuôi luôn. Về đó nuôi heo 5 năm, sau nông trường có bò tôi được điều qua nuôi bò sữa, nuôi bò sữa miết đến năm 1976 chuyển về Sông Bé nuôi trâu sữa, nuôi trâu sữa miết đến năm 1991 thì về hưu…”. Tự thấy đã đáp ứng đủ yêu cầu của khách, ông dừng lại không nói nữa.

“Bác có thành tích gì ở Ba Vì mà được phong anh hùng ?”, tôi hỏi tiếp, một câu hỏi hơi vô duyên. Ông nói : “Phong anh hùng là cho cả nuôi bò lẫn nuôi heo. Trình độ chăn nuôi của mình hồi đó chưa như bây giờ. Có cái phức tạp người khác không làm được nhưng tôi làm được. Ví dụ bò sinh khó, heo bị bịnh, bê bị bịnh, thuốc tây chữa khó hết, còn tôi thì chữa hết”. “Bác học ở đâu mà biết chữa ?”. “Hồi nhỏ ở quê đã biết một ít, ra đây học bà con xung quanh. Đầu tiên là từ chuyện thụ tinh nhân tạo cho heo, anh em học năm sáu tháng về làm không có kết quả. Tôi chỉ đi theo phụ việc, coi họ làm rồi làm có kết quả luôn. Biết nông trường phối tinh lợn được, dân nhờ giúp. Tôi xuống giúp, cũng có kết quả. Giúp họ rồi mình hỏi họ kinh nghiệm. Ví dụ như lợn đi tả, phân trắng, phải chữa như thế nào, bà con chỉ tôi vào rừng, xuống dưới khe suối có một thứ lá như lá gừng, nhổ về phơi khô nấu nước; bò, bê, nghé, trâu, heo bị đi tả đổ vào cho uống là hết bịnh ngay. Cả con người bị bịnh, uống cũng hết. Tôi hái rất nhiều lá đó về phơi khô để dành cho nông trường…”.

Tôi không cần phải nói lại những thành tích và niềm say mê lạ lùng của Hồ Giáo đối với nghề chăn nuôi. Sách báo đã tốn nhiều giấy mực. Nhưng từ miệng ông nói ra thì đại để là như vậy. Ông chỉ biết làm, không biết nói những lời hoa mỹ.

Hình như chuyện gì ông vụng về thì ông nhớ rất kỹ. Ông bảo cuộc đời ông khó nhất là đi học. Sau khi trở thành anh hùng lần thứ nhất, ông học mãi vẫn không qua khỏi lớp hai. “Ở nông trường mỗi tuần tôi học 3 buổi tối, thứ hai thứ tư thứ sáu, nhiều khi có mấy chữ mà học ba bốn ngày không thuộc. Bộ Nông trường cho tôi xuống Bắc Ninh học. Đi đợt đó có 3 người chưa hết lớp hai, là tôi, một ông ở Cà Mau, một ông người Lào. Ông Bí thư trường bổ túc nói : trường này tối thiểu phải xong lớp bốn mới nhận, riêng ba anh thuộc diện đặc biệt không xong lớp nào hết. Phải ở lại đây học cho đến bao giờ đỗ cấp 2 mới được về. Học khó quá anh ơi, một bài toán chia 2 con số mà ba đứa tôi ướt hết cả áo vẫn không chia được. Nhưng tôi quyết tâm học, học cho xong để về. Học ngày học đêm, mười tháng tôi dớt* luôn cái bằng cấp hai. Lớp có 43 người chỉ một mình tôi đậu. Hai ông kia phải vào Đồng Dao học tiếp”. Xếp bó cỏ vào xe cút kít, ông cười nói thêm : “Tôi cũng gặp may. Ba bốn ngày trước khi thi tôi tập trung ôn bài, hôm đó đề thi ra đúng phần tôi học kỹ, bây giờ gọi là trúng tủ đó”. “Môn toán tôi dở chứ môn văn tôi điểm mười”, ông lại cười tươi như hoa.

Rồi ông hứng thú kể tiếp : “Sau khi hoàn thành vệc học, ông Bí thư gọi tôi bảo : Chuyến này anh về chắc chắn sẽ đi xa. Tôi hoảng quá. Đi học tiếp thì tôi sợ quá, chuyển đi làm việc khác chắc tôi không làm được. Tôi chỉ biết nuôi bò nuôi heo tôi, nên rất lo. Hỏi ổng tôi sẽ đi đâu thì ổng nói : Xuống Hải Phòng. Hỏi xuống Hải Phòng để làm chi thì ổng bảo : Để nhận bò. Trời đất ơi, vậy mà ổng làm tôi lo quýnh lên. Đó là đợt bò sữa đầu tiên do Cu Ba viện trợ, tôi xuống cảng Hải Phòng nhận đưa thẳng về Ba Vì. Ông Bí thư này trước là thiếu tá quân đội chuyển ngành về đây. Ổng là đồng hương Quảng Ngãi của tôi, vui tính lắm”.

Sắp xong 12 bó cỏ vào xe, trời dứt mưa hẳn. Ông đứng thẳng cởi áo mưa, tôi thấy rõ lưng ông đã còng. Ông đã quá già. 79 tuổi ít người lưng còn thẳng. Chúng tôi nói để chúng tôi kéo xe giúp, ông bảo : “Các anh kéo không nổi đâu. Tránh ra cho tôi lấy trớn”.

(còn tiếp)

HOÀNG HẢI VÂN

Bài đăng trên Thanh Niên, 27-11-2008

----------------------

* Dớt : lấy, đoạt, giật (tiếng lóng miền trung)

Thứ Bảy, ngày 22 tháng 11 năm 2008

Kiệt tác của người sắp chết


Chinh cổ huyên huyên sắc
Hoàng hôn nhật dĩ tà
Tuyền đài vô khách điếm
Kim dạ túc thùy gia

Bài thơ chữ Hán đó tui đọc ở đâu đó hồi còn nhỏ, vì nó quá hay nên vẫn nhớ đến bây giờ (không nhớ là có đầu đề hay không), vẫn nhớ luôn tác giả của nó là Vũ Tân, người Việt Nam ta nhưng không biết sống vào thời nào, có thể ông là một sỹ phu yêu nước thời Cần Vương. Sau này tui tra cứu mãi vẫn không tìm ra tông tích của tác giả. Nghĩa của bài thơ tạm dịch là :

Tiếng chiêng trống đã gióng lên huyên náo
Trong ánh hoàng hôn ngày sắp tàn rồi
Dưới âm phủ không có quán trọ
Không biết đêm nay ta sẽ nghỉ chân ở đâu.

Chúng ta biết Cao Bá Quát từng hiên ngang trước pháp trường "Ba hồi trống giục mồ cha kiếp/Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời". Đó cũng là khí phách, nhưng vẫn còn thường, nhiều người vẫn có. Trước pháp trường mà đạt đến tầm vóc như tác giả bài thơ trên mới là hiếm. Bài thơ là một kiệt tác thi ca. Nhưng không có một khí phách đến mức như không ấy thì không có thi ca cỡ ấy. Khí phách mà như không mới là khí phách thượng thừa.






Thứ Ba, ngày 18 tháng 11 năm 2008

Đọc sách Suối Nguồn (*)

“Số lượng người” không thể thay cho chân lý


"Đây là cuốn sách đứng đầu bảng xếp hạng những tiểu thuyết hay nhất thế kỷ 20 do Báo The New York Times công bố theo bình chọn của độc giả", một biên tập viên Nhà xuất bản Trẻ giới thiệu khi chuyển cho tôi xem bản dịch tiểu thuyết Suối nguồn (Fountainhead) trước khi nó được in.

Tôi không tin mấy vào những lời giới thiệu nghe "quen quen" như vậy, nhưng khi đọc cuốn sách, tôi bị cuốn hút, từ trang đầu cho đến trang cuối, đến mức vừa đọc vừa mong cho cuốn sách tiếp tục dài ra, mặc dù nó đã dài đến gần... 1.200 trang.

Howard Roard, nhân vật chính của tiểu thuyết, là một kiến trúc sư chưa bao giờ có bằng cấp. Một giáo sư khi nhìn bản đồ án của chàng sinh viên 22 tuổi này đã phải thốt lên "đây là một thiên tài", nhưng anh đã bị đuổi học một năm trước khi tốt nghiệp, vì anh không chấp nhận việc "lấy số lượng người thay cho nội dung chân lý". Nhà trường tuyên bố: "Mỗi phong cách thiết kế của quá khứ là một mỏ vàng. Chúng ta chỉ có thể lựa chọn từ những gì các nhà thiết kế vĩ đại đã nghĩ ra. Chúng ta là ai mà dám đòi cải tiến?". Còn anh thì: "em muốn trở thành một kiến trúc sư, chứ không phải một nhà khảo cổ". Anh chấp nhận bị đuổi học, ở đó không còn gì để cho anh học nữa.

Với một niềm tin sắt đá vào chính bản thân mình, anh đã bước vào đời để chống chọi với số đông những kẻ "thứ sinh", dù họ nổi tiếng và có quyền lực đến đâu, dù họ đông đến bao nhiêu anh cũng không lùi bước.

Người đọc hồi hộp, bất lực, đau đớn rồi hào sảng theo từng bước đi của Roard. Với tài năng bẩm sinh, anh có thừa khả năng để dễ dàng thành đạt, nhưng anh đã vào đời bằng "cửa hẹp". Henry Cameron, một kiến trúc sư vĩ đại, sự vĩ đại mới mẻ mà nước Mỹ non trẻ vừa bắt đầu chấp nhận, rồi "không dùng" ông nữa. Ông không còn việc làm, sống nát rượu, nhưng ông dứt khoát không thỏa hiệp, không "bán" tài năng của mình. Roard đã tìm đến ông để lập nghiệp. Cameron vừa nhìn thấy tài năng của Roard đã lập tức tuyên bố sa thải anh. Sa thải để cứu anh, để anh không phải lâm vào cảnh thân tàn ma dại như ông. Ông khuyên Roard thỏa hiệp, khuyên Roard "bán" tài năng của mình cho "bọn họ": "Sẽ có rất nhiều người nổi tiếng sẵn sàng nhận cậu, dù cậu có bị đuổi học hay không". Nhưng Roard quả quyết: "Nếu vào lúc cuối đời, tôi trở thành người như ông vào lúc này, tại đây, trong văn phòng này, thì tôi sẽ coi nó như một vinh dự mà tôi lẽ ra không xứng đáng". Cameron chết trong thất bại.

Roard vẫn không lùi bước. Anh tự mình mở văn phòng. Một vài người biết anh, giao việc cho anh, những người riêng lẻ đó thích công trình của anh, nhưng số đông thì không. Có lúc anh đã phải đi làm công nhân mỏ đá chứ không thỏa hiệp, dù là thỏa hiệp nhỏ để nhận một công trình lớn.

Người ta nhân danh số đông, nhân danh lòng từ thiện, nhân danh "sống vì người khác" để đè bẹp anh, đè bẹp những “cái tôi” sáng tạo. Không để cho người khác can thiệp vào sự sáng tạo của mình, anh đã phải ra tòa và thua cuộc. "Người ta căm thù sự đam mê, bất kỳ sự đam mê vĩ đại nào". Cameron đã đấu tranh, ông thất bại vì ông không còn thời gian. Roard thì không cam chịu. Cao điểm của sự không lùi bước đó là việc Roard đã phá hủy một công trình khi nó được xây lên không giống như anh thiết kế. Nó đã bị biến dạng theo ý kiến của “đa số”, của “tập thể”, của “hội đồng” mà không một cá nhân cụ thể nào chịu trách nhiệm. Anh bị truy tố ra tòa.

… “Hàng ngàn năm trước đây, có một người lần đầu tiên tìm được cách tạo ra lửa. Người đó có lẽ đã bị thiêu sống bằng chính ngọn lửa mà anh ta dạy những người anh em của mình cách thắp lên. Anh ta bị coi là một kẻ xấu vì đã có quan hệ với ma quỷ, thứ mà loài người luôn khiếp sợ. Nhưng từ đó trở đi, loài người có lửa để giữ ấm, để nấu nướng, để thắp sáng trong hang động. Anh ta đã để lại cho họ một món quà mà họ từng không hiểu và anh ta đã xua bóng tối ra khỏi trái đất này. Nhiều thế kỷ sau, có một người lần đầu tiên tạo ra cái bánh xe. Người đó có lẽ đã tan xác dưới những bánh xe mà anh ta dạy những người anh em của mình cách làm. Anh ta bị coi là một kẻ phạm tội vì đã mạo hiểm vào vùng đất cấm. Nhưng từ đó trở đi, loài người có thể đi tới mọi chân trời. Anh ta đã để lại cho họ một món quà mà họ đã không hiểu được và anh ta đã mở những con đường trên mặt đất".

..."Trong những thế kỷ qua, đã có những người đặt bước chân đầu tiên của họ trên những con đường mới; họ không được trang bị vũ khí gì ngoài tầm nhìn của riêng họ. Họ có mục đích khác nhau, nhưng tất cả đều có một số điều chung: bước chân của họ là bước chân đầu tiên, con đường của họ là con đường hoàn toàn mới, nhãn quan của họ không hề do vay mượn, và phản ứng mà họ nhận được luôn là sự căm ghét. Những nhà phát minh vĩ đại - những nhà tư tưởng, những nghệ sĩ, những nhà khoa học, những nhà sáng chế - đều phải đơn độc chống lại những người cùng thời với họ. Tất cả những ý tưởng mới và vĩ đại đều bị chống đối kịch liệt. Tất cả những phát minh mới và vĩ đại đều bị lên án. Động cơ máy đầu tiên bị coi là ngu xuẩn. Chiếc máy bay đầu tiên bị coi là không tưởng. Chiếc máy dệt đầu tiên đã bị coi là ác quỷ. Việc gây mê bị coi là tội lỗi. Nhưng những người đó, với tầm nhìn không vay mượn, vẫn tiếp tục tiến lên. Họ đã chiến đấu, họ đã đau khổ và họ đã phải trả giá. Nhưng họ đã chiến thắng".

... "Loài người đã được dạy dỗ rằng đức tính tốt đẹp nhất không phải là đạt được một cái gì đó mà là cho đi một cái gì đó. Nhưng một người không thể cho đi những gì mà anh ta không tạo ra. Đầu tiên phải có sáng tạo, sau đó mới là phân phối, nếu không thì chẳng có gì để phân phối cả. Phải có người sáng tạo trước khi có những người hưởng lợi từ sự sáng tạo. Thế mà chúng ta lại được dạy dỗ để ngưỡng mộ những kẻ sống thứ sinh - những kẻ phân phát những món quà mà họ không tạo ra; chúng ta được dạy để xếp họ lên trên những người đã sản sinh ra những món quà đó. Chúng ta ca ngợi công việc từ thiện. Nhưng chúng ta lại nhún vai coi khinh những nỗ lực để thành công".

... "Loài người đã được dạy dỗ rằng mối quan tâm đầu tiên của họ là giúp cho người khác bớt khổ đau. Nhưng khổ đau là một căn bệnh. Chỉ khi có người bị bệnh thì mới cần có người đến để giúp giảm bớt sự đau đớn. Còn nếu chúng ta biến việc giảm khổ đau thành phép thử lớn nhất của đức hạnh thì chúng ta đã biến khổ đau thành một thứ quan trọng nhất trong cuộc sống. Do vậy người ta sẽ mong muốn được nhìn thấy những người khác đau khổ - để người ta có thể trở thành người đức hạnh... Trong khi đó, người sáng tạo không quan tâm đến bệnh tật, họ quan tâm đến cuộc sống. Nhưng công việc của người sáng tạo lại giúp loại bỏ hết bệnh này đến bệnh khác, cả bệnh tật của thể xác lẫn bệnh tật của tâm hồn"...

Anh không cần luật sư. Đó là những lời tự bào chữa của anh trước tòa. Người đọc còn tìm thấy trong cuốn sách một nhà báo như Ellsworth Toohey. Ông ta uyên bác nhưng đạo đức giả "toàn tòng", mỗi bài viết của ông ta đều được người ta nghiền ngẫm đến từng dấu phẩy, bởi ông ta tạo được cho mình một quyền lực điều khiển công chúng, đến mức có thể "đẻ ra" các kiến trúc sư nếu ông ta muốn. Ngoài ông nhà báo thấy "quen quen" đó, người đọc còn biết đến một Gail Wynand, điển hình của một chủ báo Mỹ lừng danh...

Cuốn sách như một bản anh hùng ca tôn vinh con người, nhưng con người mà tác giả cuốn sách - nữ văn sĩ kiêm triết gia người Mỹ gốc Nga Ayn Rand (1905-1982) - hướng tới là những người sáng tạo, những người "xoay chuyển thế giới và mang lại ý nghĩa cho cuộc sống". Dường như cuốn sách không đứng về phía số đông, nhưng mỗi một người trong số đông đó đều có thể thấy mình được tôn vinh, được chia sẻ. Bởi mỗi một người trong chúng ta đều từng là, đang là hoặc sẽ là thiểu số trong những nỗ lực tự khẳng định bản thân mình để làm cho cuộc sống trở nên có ý nghĩa hơn.

HOÀNG HẢI VÂN
(Bài đăng trên Thanh Niên, 19-12-2007)

_____________________
(*) Suối nguồn, NXB Trẻ, 12.2007

Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động

HOÀNG HẢI VÂN
(Loạt bài đã đăng trên Thanh Niên từ 27.2 - 5.3.2008)

Kỳ 1

Với những khám phá của ông, chúng ta có đủ tư liệu để dựng lạilịch sử vẻ vang của dân tộc ta từ hai ngàn năm trước…

Là một nhà tu hành xuất gia từ bé, nhưng Thượng tọa Thích Trí Siêu (tức giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát) vẫn để tóc. Thú thật là quá tò mò về chuyện đó, tôi mạnh dạn hỏi ông vì sao như vậy. Ông cười phá lên, chỉ vào bức ảnh Đức Bồ đề Đạt Ma: "Ông ấy có cạo đầu đâu! Tôi còn thua ông ấy một bộ râu". Tôi ngộ ra rất nhiều điều trong tiếng cười của ông.

Tôi đã gặp ông nhiều lần, trước hết là để viết bài về Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc (VESAK) được tổ chức tại Việt Nam sắp tới mà ông là Chủ tịch Ủy ban quốc tế (IOC) đồng thời là Tổng thư ký Ủy ban điều phối quốc gia Đại lễ này. Tôi cũng đã đọc nhiều sách ông viết. Nhưng với trình độ nông cạn của tôi, hiểu về con người cùng sở học mênh mông vi diệu của vị cao tăng này thật không dễ chút nào.

Ông không chỉ là một thiền sư, là nhà khoa học có nhiều bằng tiến sĩ, thông thạo hơn 15 ngôn ngữ (Anh, Pháp, Nga, Đức, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, Do Thái, Hy Lạp, Ả Rập, Tây Tạng, chữ Phạn, chữ Hán cổ...), ông còn là một người Việt Nam "nguyên chất" với tất cả lòng tự trọng tự hào về dân tộc mình, thể hiện một cách lạ lùng ngoạn mục ở tất cả các công trình khoa học của ông.

Trước khi nói về VESAK, tôi xin ghi lại một vài điều tâm đắc sau khi đọc, sau khi nghe ông nói và hỏi lại thật rõ những khám phá của ông về cội nguồn dân tộc, về nhiều sự thật của lịch sử nước nhà hàng ngàn năm bị che lấp hoặc bị hiểu sai lệch.

“Ông Lê Qúy Đôn mà cũng lôi thôi quá”

Xin chép ở đây hai bài thơ chữ Hán, theo tôi bài nào cũng hay đến "lạnh cả người":

Nhị bát giai nhân thích tú trì
Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly
Khả liên vô hạn thương xuân ý
Tận tại đình châm bất ngữ thì

(Tạm dịch nghĩa:
Người đẹp mười sáu tuổi nhẹ tay thêu trên gấm
Dưới khóm hoa tử kinh con chim hoàng ly đang chuyền
Thật đáng thương nỗi lòng vô hạn đối với mùa xuân
Ngưng đọng nơi mũi kim, lặng lẽ không nói)

Đó là bài Xuân nhật tức sự, được Lê Quý Đôn chép trong Kiến văn tiểu lục và ghi là của thiền sư Huyền Quang thời nhà Trần (1254-1334). Từ đó nhiều thế hệ học giả đã dẫn giải, bình luận, coi là một kiệt tác thi ca chữ Hán của Việt Nam. Trên tạp chí Văn học số 1-1984, lần đầu tiên giáo sư Lê Mạnh Thát đã đưa ra tài liệu chứng minh bài thơ trên không phải của thiền sư Huyền Quang mà của thiền sư Ảo Đường Trung Nhân (?-1203) thời nhà Tống bên Trung Quốc.

Một bài khác:

Nhạn quá trường không
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô di tích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm

(Tạm dịch nghĩa:
Chim nhạn bay dài qua không trung
Ảnh chìm dưới dòng sông lạnh
Nhạn không có ý để lại dấu tích
Sông không có lòng lưu lại bóng hình)

Bài thơ này cũng được Lê Quý Đôn chép trong Kiến văn tiểu lục, ghi là của Hương Hải thiền sư thời nhà Lê. Nhưng trong công trình nghiên cứu rất công phu về thiền sư Hương Hải (Toàn tập Minh Châu Hương Hải), giáo sư Lê Mạnh Thát cũng đã “trả" bài thơ này lại cho tác giả thật của nó là thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài bên Trung Quốc thời Tống. Nhưng không chỉ có vậy. Giáo sư Thát còn liệt kê trong số 59 bài thơ được coi là của thiền sư Hương Hải do học trò của thiền sư chép trong Hương Hải thiền sư ngữ lục, có đến 47 bài không phải của thiền sư. Từ đó, Lê Quý Đôn đã chép lại 43 bài trong Kiến văn tiểu lục, cả 43 bài đều của các thiền sư Trung Quốc. Ông đã chỉ rõ từng bài, là của ai, ở trong tài liệu nào, tờ số mấy. "Ông Lê Quý Đôn mà cũng lôi thôi quá!", ông cười cười nói với tôi. Là ông nói đùa thôi, chứ ông biết rõ Lê Quý Đôn là người rất cẩn trọng. Ông bảo sở dĩ có sai sót này là do Lê Quý Đôn chắc chắn không biết, tức không có dịp đọc các bộ chính sử thiền tông Trung Quốc. "Hơn nữa, Lê Quý Đôn, với tư cách là một Phật tử, có thể đã quá tin tưởng vào bản in Hương Hải thiền sư ngữ lục, nghĩ rằng các thơ kệ và ngữ lục trong đó là đúng của Minh Châu Hương Hải, vì chúng đã được môn đồ của vị thiền sư này cho khắc in, nên đã không tiến hành kiểm tra, tìm hiểu và so sánh", ông viết.

Toàn tập Minh Châu Hương Hải là một trong rất nhiều công trình sử học của giáo sư Lê Mạnh Thát. Trong khi sưu tầm, đối chiếu, xác minh và giới thiệu những cống hiến quan trọng về lịch sử tư tưởng, văn học và Phật giáo Việt Nam của vị thiền sư lỗi lạc này, ông đồng thời đã cẩn trọng "trả lại cho người khác" những gì không phải của thiền sư, dù đó là những viên ngọc quý (như bài thơ nói trên). Đối với những nhân vật khác, ông cũng làm tương tự. Ông bảo những nhầm lẫn trong các công trình sử học kiểu đó không những không làm vinh dự thêm cho dân tộc mà còn rất tai hại, nó khiến cho người ta nghi ngờ chính những cống hiến quan trọng của các nhân vật lịch sử nước ta, đặc biệt khi các bậc thức giả nước ngoài tiếp cận những tài liệu này.

Dẫn ra chi tiết nhỏ trên đây để thấy sự nghiêm cẩn trong nghiên cứu của giáo sư Lê Mạnh Thát. Nhưng ngoài sự nghiêm cẩn, ông còn có một lợi thế tự nhiên khó có học giả nào có được. Là một thiền sư, ông đã đọc hết những bộ kinh sách đồ sộ như Đại tạng kinhTục tạng kinh chữ Hán, ông đọc trước hết là "để thưởng thức". Chính vì vậy mà chẳng hạn như đối với trường hợp hai bài thơ nói trên, ông đã biết đến khi đọc bộ sử thiền tông Trung Quốc (trong Tục tạng kinh), nên khi nghiên cứu về Huyền Quang và Hương Hải ông đã phát hiện ngay sự nhầm lẫn.

Lịch sử dân tộc bảo tồn trong kinh Phật

Lục độ tập kinh là một tập kinh quan trọng trong Đại tạng kinh của Phật giáo thế giới. Tập kinh này được dịch ra chữ Hán vào thế kỷ thứ 2, truyền bản của nó đến ngày nay gồm 8 quyển, 91 truyện, trình bày sáu hạnh vượt bờ của Bồ tát gồm bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Các vị cao tăng đông tây kim cổ đều biết đến tập kinh này và từ lâu nó đã được dịch ra tiếng Pháp và tiếng Nhật.

Lần đầu tiên sau gần hai ngàn năm lưu truyền của Lục Độ tập kinh, giáo sư Lê Mạnh Thát có những phát hiện cực kỳ quan trọng từ tập kinh này. Ông khẳng định tập kinh đó là của Việt Nam, nó được dịch ra chữ Hán từ một bản tiếng Việt chứ không phải từ bản tiếng Phạn; Tăng Khương Hội, người dịch bản kinh đó, người mà sử sách cổ Trung Quốc coi là "bậc thánh hiền", là một người Việt Nam (ít nhất là sinh ra, lớn lên, học hành, theo đạo Phật, hành đạo và trước tác đều tại Việt Nam). Bằng kiến thức uyên bác về lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ, ông đã truy tận gốc tất cả những tài liệu cổ xưa nhất có liên quan, tiến hành khảo sát, đối chiếu, giám định và đưa ra một loạt những kết luận với các chứng cứ không thể phản bác. Ông bảo tập kinh đó chứa đựng "một lượng bất bình thường" các tư tưởng, quan điểm và đạo lý mang sắc thái chính trị và lịch sử Việt Nam.

Phát hiện đầu tiên là Lục độ tập kinh chứa đựng truyền thuyết khởi nguồn của dân tộc, đó là chuyện một trăm trứng. Điều này hết sức có ý nghĩa, là vì truyền thuyết đó được ghi vào sử sách bắt đầu từ bộ Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên. Truy lùi lại thì thấy chuyện này được chép trong Lĩnh Nam chích quái. Truy nữa thì "bó tay", không biết nó xuất phát từ đâu, chỉ thấy nó liên quan tới truyện Liễu Nghi đời... Đường bên Trung Quốc. Từ trước tới nay mọi bàn cãi đều tập trung vào việc chấp nhận hay không truyền thuyết đó, mà chấp nhận hay phủ nhận nó không phải là vấn đề của lịch sử. Dân tộc nào cũng có truyền thuyết khởi nguyên, mà đã là truyền thuyết thì ít nhiều đều mang yếu tố hoang đường, nhưng đó là hồn thiêng dân tộc. Với Lục độ tập kinh, chúng ta đã truy ra thời điểm khởi nguồn của hồn thiêng dân tộc của mình.

Trong khi phát hiện truyền thuyết trăm trứng nằm trong Lục Độ tập kinh, giáo sư Lê Mạnh Thát còn khám phá một sự thật lịch sử thú vị liên quan đến An Dương Vương và Triệu Đà. Từ truyền thuyết trăm trứng nằm trong truyện 23 của Lục Độ tập kinh, ông đối chiếu với một dị bản bằng tiếng Phạn và lại phát hiện truyền thuyết An Dương Vương giống như câu chuyện về trận đánh quyết định trong anh hùng ca Mahàbhàrata giữa hai anh em Pandu và Duryodhana. Đối chiếu với tất cả những gì được ghi trong Sử Ký của Tư Mã Thiên và các tài liệu cổ sử khác của Trung Quốc, ông khẳng định truyền thuyết An Dương Vương đánh bại vua Hùng Vương thứ 18 rồi lập nên một triều đại (dưới ngòi bút của Ngô Sỹ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư) là không có thật, nó chẳng qua chỉ là một phiên bản của câu chuyện Mahàbhàrata từ Ấn Độ truyền vào Việt Nam thời Hùng Vương mà thôi. Ông cũng tiếp tục đối chiếu sử sách và khẳng định không những không có chuyện Triệu Đà đánh An Dương Vương (vì làm gì có An Dương Vương mà đánh!) mà nước ta cũng không bao giờ bị Triệu Đà chiếm. Nước Nam Việt của Triệu Đà chưa bao giờ bao hàm nước ta trong đó cả. Có nghĩa là, cho đến năm 43 (sau dương lịch), trước khi cuộc chiến tranh vệ quốc của Hai Bà Trưng thất bại, nước ta vẫn là một nước độc lập. Đó là triều đại Hùng Vương, là nhà nước Hùng Vương. Nhà nước đó đã được xây dựng trên một nền văn hiến với điển chương riêng của nó, có luật pháp, có chữ viết, có lịch số, có âm nhạc, có văn học... Nhà nước đó, nền văn hiến đó hoàn toàn không do người Trung Quốc đến "khai hóa" mà có. Nó có đủ bản lĩnh, đủ sức mạnh để tiếp thu những gì là tinh hoa và để tự vệ trước âm mưu nô dịch của ngoại bang. Nó có đủ sự nổi trội để đóng góp vào nền văn minh chung của nhân loại mà Lục Độ tập kinh là một trong những dẫn chứng sống động. Với những khám phá của ông, chúng ta có đủ tài liệu để dựng lại lịch sử vẻ vang của dân tộc ta từ hai ngàn năm trước...

Kỳ 2

Nếu nói các truyền thuyết An Dương Vương là không có thật thì phải giải đáp như thế nào về Loa thành ? Nếu nói nước ta đến năm 43 vẫn là nước độc lập thì các “thái thú” Tích Quang, Nhâm Diên sang “cai trị’ ở đâu ?

Tất cả những kết luận của giáo sư Lê Mạnh Thát đều được đưa ra kèm theo sự so sánh đối chiếu hết sức cẩn thận, kèm theo là các tài liệu dẫn chứng cụ thể có thể tra cứu đến tận gốc. Rất tiếc giới hạn của một bài báo không cho phép chúng tôi dẫn ra đây, vì nó quá nhiều. Về vấn đề chúng tôi đang đề cập, có thể xem: Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta - Lê Mạnh Thát, NXB Tổng hợp TP.HCM, 2006.

Làm trong sạch những trang sử của tổ tiên bờ cõi

Như chúng tôi đã đề cập, giáo sư Lê Mạnh Thát đề nghị dứt khoát loại bỏ truyền thuyết An Dương Vương và nước Nam Việt của Triệu Đà ra khỏi lịch sử nước ta. Cần biết, toàn bộ cơ sở để dựng lên thời kỳ An Dương Vương và Triệu Đà trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu từ Đại Việt sử lược, rồi Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục... cho đến sử sách ngày nay mà chúng ta biết, là lấy từ 4 tài liệu cổ sử Trung Quốc, đó là Giao châu ngoại vức ký, Quảng Châu ký, Nam Việt chí và Nhật Nam truyện. Theo giáo sư Lê Mạnh Thát, trong 4 tài liệu đó, 3 tài liệu không rõ nguồn gốc và niên đại (chỉ phỏng đoán được đại khái là vào thế kỷ thứ VI, thứ VII), riêng Nam Việt chí thì có nguồn gốc niên đại rõ ràng (thế kỷ thứ V), nhưng tất cả đều mơ hồ, mâu thuẫn và không đáng tin cậy. Trong khi đó, căn cứ vào những tài liệu lịch sử chính thống xưa nhất của Trung Quốc, cụ thể là Sử ký của Tư Mã Thiên và Tiền Hán thơ, chúng ta hoàn toàn không thấy có chuyện Triệu Đà đánh An Dương Vương hay tương tự, mà các tài liệu đó còn có những thông báo xác định rõ ràng là cho đến hết thời Triệu Đà cùng cháu chắt ông ta làm vua Nam Việt bên đất Trung Quốc, nước ta vẫn đang có vua và đang là một nước độc lập. Nước ta chưa bao giờ thuộc Nam Việt của Triệu Đà bên Trung Quốc là điều đã rõ. Vấn đề là xác định đất đai Nam Việt của Triệu Đà đến đâu? Kết luận là: Nước Nam Việt không bao giờ lan ra khỏi địa phận tỉnh Quảng Đông, một phần tỉnh Hồ Nam và Quí Châu cũng như Quảng Tây ngày nay. Ông bảo kết luận này cũng không phải mới. "Tư không Trương Hoa đời Tấn viết Bác vật chí 2 tờ 4b11-12 cũng nói: "Nước Nam Việt cùng tiếp với Sở, Ngũ lĩnh về trước đến tới Nam hải, là nước tiếp giáp biển. Đất Giao chỉ gọi là Nam duệ". Viết như thế, Giao chỉ rõ ràng không thuộc đất Nam Việt. Một khi đã kết luận như vậy, Triệu Đà dĩ nhiên không quan hệ gì đến nước ta. Phần gọi là "Triệu kỷ" trong các cuốn sử ta từ Đại Việt sử lược trở đi do thế đáng nên loại bỏ" (sách đã dẫn).

Việc dùng những tài liệu không đáng tin cậy để ghi vào sử sách nước nhà, rồi cứ đinh ninh như vậy cho đến ngày nay, từ Đại Việt sử lược trở đi, theo giáo sư Lê Mạnh Thát, là do "những người viết sử đã không bao giờ chịu nghiên cứu và cân nhắc một cách kỹ càng những sử liệu mà họ dùng". Ông cho rằng, để viết lịch sử nước ta vào những thế kỷ trước và sau công nguyên, phải dùng "những báo cáo của Sử ký và Tiền Hán thơ như những tài liệu cơ bản cho việc kiểm soát..., dù biết rằng sự kiện của mọi cuốn sử chính thống Trung Quốc từ Sử ký trở đi không nên được chúng ta tin cậy hoàn toàn" (như trường hợp về Nhâm Diên, Tích Quang nói dưới đây và nhiều trường hợp tương tự khác). Tuy nhiên, theo ông, "nó vẫn có giá trị và đáng tin gấp bội lần" so với những thứ như 4 tài liệu đã dẫn, bởi vì ngay cả tài liệu có nguồn gốc rõ ràng như Nam Việt chí, nó cũng xuất hiện sau Sử ký đến những sáu trăm năm (sách đã dẫn).

Với những sử liệu đã dẫn, vấn đề An Dương Vương đã rõ là một phiên bản Việt Nam trong bản anh hùng ca Mahãbhãrata, thế thì xử lý như thế nào về quan hệ giữa An Dương Vương với thành Cổ loa? Giáo sư Lê Mạnh Thát viết: "Để trả lời câu hỏi đó, trước hết cần có một ý niệm tổng quát về quá trình hình thành quan hệ giữa các kỳ quan tự nhiên hay nhân tạo với các nhân vật kỳ vĩ, cụ thể là chuyện con trâu vàng của Không Lộ với Hồ tây. Không Lộ là vị thiền sư mất năm 1119, thế mà lại có một kết nối việc hình thành Hồ tây trong truyền thuyết dân gian như Lĩnh Nam chích quái và Việt điện u linh đã ghi lại. Vậy, việc kết nối An Dương Vương với thành Cổ loa trong truyền thuyết không nhất thiết là một sự thật lịch sử, dù sau Lĩnh Nam chích quái, một kết nối như thế đã được Ngô Sỹ Liên đưa vào Đại Việt sử ký toàn thư và khoác cho nó một bộ áo lịch sử chính thức". Dĩ nhiên triều đại Hùng Vương của chúng ta không thể nào không có thành quách, nên chắc chắn chúng ta có một cái thành như vậy, nhưng 4 tài liệu đã dẫn nói về An Dương Vương cũng không nói gì về tên thành Cổ loa, do đó Cổ loa chẳng qua là một tên gọi được Ngô Sỹ Liên lấy từ truyền thuyết của Lĩnh Nam chích quái để đưa vào Đại Việt sử ký toàn thư gắn vào An Dương Vương mà thôi.

Như vậy, các triều đại An Dương Vương và Triệu Đà đã được các sử gia Việt Nam từ Lê Văn Hưu đến Ngô Sỹ Liên dựng lên từ những tài liệu không đáng tin cậy, kiểm chứng tới đâu thấy sai tới đó. Nay với những sử liệu tin cậy có thể kiểm chứng được đến tận gốc mà giáo sư Lê Mạnh Thát đã chỉ ra, chúng ta có đủ cơ sở loại chúng ra khỏi lịch sử, để làm trong sạch tổ tiên bờ cõi chúng ta. Một người thì tiêu diệt vua Hùng (An Dương Vương), một người thì chiếm nước ta (Triệu Đà), khi đã có đủ chứng cứ là không đúng sự thật, thì vinh dự gì mà vẫn để tồn tại trong những trang sử của dân tộc?

Nhưng khi khẳng định nước ta là nước độc lập cho đến năm Mã Viện đánh bại cuộc kháng chiến của Hai Bà Trưng, thì giải quyết như thế nào đối với các nhân vật như Tích Quang, Nhâm Diên được coi là các "thái thú" Trung Quốc cai trị nước ta trước đó? Hai nhân vật này được sử sách Trung Quốc cho là những người đến "khai hóa" dân tộc ta, bằng những lời lẽ vô cùng xấc xược, coi dân tộc ta là "mọi", là "cầm thú", là "sâu bọ chồn cáo" (lời trong Hậu Hán thơ). Bằng những sử liệu khó chối cãi, giáo sư Lê Mạnh Thát chứng minh Tích Quang, Nhâm Diên chưa bao giờ làm thái thú ở nước ta cả, đó chỉ là sự "hư cấu lố bịch khôi hài". Lấy thí dụ như Nhâm Diên, Hậu Hán thơ viết ông này được cử làm thái thú Cửu Chân (nước ta) vào năm Kiến vũ thứ nhất (năm 25 sau dương lịch), nhưng thời điểm đó cũng theo Hậu Hán thơ, tình hình chính trị Trung Quốc từ sông Dương Tử về phía nam cực kỳ phức tạp, các tướng mỗi nơi chiếm một phương, thiên hạ loạn lạc đến nỗi "vua tự đem quân thân chinh mà còn bị cản đường, xe ngựa không tiến lên được", thì làm sao Nhâm Diên đến được Cửu Chân để làm thái thú ? Vả lại, chứng cứ đanh thép nhất mà sử gia Lê Mạnh Thát tiếp tục dẫn ra là, sau khi Mã Viện "chém Trưng Trắc, Trưng Nhị, đưa đầu về Lạc Dương", Hậu Hán thơ viết: "Viện (Mã Viện) điều tấu Việt luật cùng Hán luật, sai hơn 10 việc, bèn cùng người Việt nói rõ để ước thúc". Như vậy rõ ràng nước ta đã có luật pháp. Bộ luật đó một chính quyền ngắn ngủi không làm nổi, nó phải là sản phẩm của một nhà nước độc lập tồn tại từ lâu đời. Nếu nói nước ta lúc đó chỉ là quận, huyện của Trung Quốc, do các thái thú của Trung Quốc sang cai trị, thì chỗ đâu để có bộ Việt luật cho Mã Viện điều tấu? Mà nếu có Việt luật, nghĩa là có một nhà nước độc lập, thì Tích Quang, Nhâm Diên "cai trị" ở đâu?

Kỳ 3

Lê Thánh Tông nói : Một tấc đất của tổ tiên cũng không để mất ! Kèm theo câu nói đó là việc dựng lại Ngọc phả Hùng Vương

Tiếp tục hành trình về thời đại Hùng Vương

Cho đến nay, với nhiều nỗ lực nghiên cứu, các nhà sử học nước ta đã phát hiện rất nhiều tài liệu quan trọng về nền văn minh của nước ta thời đại Hùng Vương, đặc biệt là đã thu thập, giám định, phân tích một khối lượng đồ sộ các di chỉ khảo cổ học từ văn hóa Phùng Nguyên, văn hóa Đồng Đậu, văn hóa Gò Mun đến văn hóa Đông Sơn. Những nỗ lực đó cho phép phác thảo bước đầu diện mạo của thời đại khởi nguồn của dân tộc, đủ để bác bỏ những mưu đồ phủ nhận hoặc hạ thấp công lao dựng nước của tổ tiên. Ghi nhớ lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Các vua Hùng có công dựng nước...", Nhà nước ta đã chính thức quyết định lấy ngày Giỗ tổ Hùng Vương làm Quốc Giỗ.

"Sau ngày độc lập, cụ Hồ Chí Minh rất chính xác khi lấy tên Hùng Vương đặt cho con đường chính giữa thủ đô, ngang qua Hội trường Ba Đình, đó là điều hết sức có ý nghĩa", giáo sư Lê Mạnh Thát nói với chúng tôi. Ông lưu ý rằng, không phải ngẫu nhiên mà trong khi Ngọc phả nhà Lý mất, Ngọc phả nhà Trần mất, Ngọc phả nhà Lê cũng mất thì Ngọc phả Hùng Vương lại được lưu giữ, hiện còn 3 truyền bản, 2 truyền bản có từ thời Tiền Lê (Lê Đại Hành) và 1 có từ thời Lê Thánh Tôn. "Lê Đại Hành dựng lại Ngọc phả Hùng Vương giữa lúc chuẩn bị đánh Tống. Đánh Tống là cuộc kháng chiến chống một cường quốc chứ không phải chống đội quân lèo tèo như Nam Hán. Lê Thánh Tôn nói: Một tấc đất của tổ tiên cũng không để mất! Kèm theo câu nói đó là việc dựng lại Ngọc phả Hùng Vương". Ông nói tiếp: "Giữa lúc người Mỹ tuyên bố đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá thì Việt Nam lại có một cuộc khảo sát lớn nhất về thời đại Hùng Vương do chính Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ đạo. Giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ, chúng ta đã thực hiện 4 tập sách về thời đại Hùng Vương. Đó là một cuộc nghiên cứu nghiêm túc nhất từ trước tới nay. Lần đầu tiên chúng ta có một cuộc nghiên cứu khoa học về thời đại Hùng Vương với quy mô lớn, do Nhà nước chủ trương, chứ không phải là nghiên cứu lẻ tẻ. Chúng ta thu được những thành quả quan trọng về khảo cổ học và tập hợp được một số tài liệu chữ Hán giai đoạn đầu. Điều đó rất có ý nghĩa và cần được tiến hành tiếp tục".

Tuy nhiên, rất nhiều vấn đề quan trọng về lịch sử của thời đại này vẫn đang bị bỏ ngỏ hoặc bế tắc, trong đó có vấn đề chữ viết, luật pháp cùng những vấn đề căn bản khác của một nhà nước mà chắc chắn là nó phải có trong thời đại Hùng Vương. Bởi vậy, những khám phá của giáo sư Lê Mạnh Thát có ý nghĩa vô cùng.

Sau khi đưa ra các minh chứng để đề nghị loại bỏ hai triều đại An Dương Vương và Triệu Đà ra khỏi lịch sử và xác định thời đại Hùng Vương tồn tại cho đến năm 43, giáo sư Lê Mạnh Thát tiếp tục phát hiện thêm những tài liệu quan trọng có thể khai thông những bế tắc từ bấy lâu nay.

Việc tồn tại của Việt luật (mà Mã Viện "điều tấu"), theo giáo sư Lê Mạnh Thát, cho phép chúng ta giả thiết rằng tiếng nước ta vào thời điểm đó (thời Hai Bà Trưng) đã phát triển đến một mức độ chính xác nhất định và có một hệ thống chữ viết đủ rõ ràng để ghi chép các quy định của luật pháp.

Vấn đề là Việt luật hiện nay không còn, điều đó không có gì là lạ, vì chính Hán luật cũng không còn. Chúng ta cũng chưa tìm được chữ viết trong các di chỉ khảo cổ học. Điều đó cũng không có gì lạ và chưa tìm được không có nghĩa là nó không có, bởi ngay đến chữ viết thời Lý - Trần mà vẫn không tìm được trên các di chỉ khảo cổ học khai quật tại Hà Nội, trừ bia Lý Thường Kiệt và vài tấm bia ít ỏi khác tìm được ở rất xa ngoài Thăng Long. "Lịch sử Lý - Trần rực rỡ như vậy mà không còn một tấm bia nào ở thủ đô hết, chúng (nhà Minh) nhất định không để lại một vết tích nào của lịch sử. Đến nỗi, ông Hoàng Xuân Hãn phải đề nghị một hướng mới là tìm nó dưới nước, tức là khảo sát dưới hồ Tây", thiền sư Lê Mạnh Thát bức xúc. Nói thế để thấy kẻ thù thâm độc như thế nào trong mưu đồ triệt hạ văn hóa của dân tộc ta, triệt hạ tận gốc để dân ta không biết gốc tích của mình.

Truy lại chữ viết của tổ tiên vì vậy mà trở nên thiên nan vạn nan. Nhưng không phải không có cách. Giáo sư Lê Mạnh Thát nói đầu thế kỷ trước, người Pháp đã khai quật một ngôi mộ cổ ở Bắc Ninh, phát hiện một thứ chữ viết trên gốm, "giống chữ Hán nhưng người Hán không đọc được", nghĩa là một thứ chữ viết theo kiểu Hán nhưng không phải chữ Hán, đó rất có thể là chữ Việt.

Theo ông, chúng ta hiện có hai nguồn tư liệu cơ bản: Nguồn thứ nhất là Lục độ tập kinh cùng các dịch phẩm khác của Khương Tăng Hội là Cựu tập thí dụ kinh, An ban thủ ý kinh chú giải và Tạp thí dụ kinh do một tác giả vô danh thực hiện. Ông đã khảo cứu một cách công phu tường tận ngữ âm tiếng Việt còn lưu giữ trong những tập kinh này. Chẳng hạn, để diễn tả ý niệm "trong lòng", Lục độ tập kinh có hai dạng cấu trúc. Dạng thứ nhất tập trung ở quyển 7 có 7 trường hợp dùng "tâm trung" (cấu trúc ngữ âm tiếng Trung Quốc), dạng thứ hai có 8 trường hợp rải đều trên 6 quyển dùng từ "trung tâm" (cấu trúc ngữ âm tiếng Việt). Khảo sát tiếp Kinh Thi do Khổng Tử san định, trong 305 bài thì có 15 bài dùng "trung tâm". Sau Kinh Thi là Lễ ký do ảnh hưởng của Kinh Thi có 4 lần sử dụng "trung tâm". Và trong 300 năm đầu sau dương lịch, dạng "trung tâm" hầu như không được các học giả Trung Quốc dùng tới, nếu có vài trường hợp thì đều là ở dạng trích từ Kinh Thi hoặc nhái theo Kinh Thi mà thôi. Thế mà Lục độ tập kinh, với 91 truyện, có 8 lần sử dụng cấu trúc đó, tỷ lệ gần 1/10, cao hơn nhiều so với Kinh Thi (15/305). Trong 7 lần sử dụng dạng "tâm trung", có khả năng ban đầu cũng dùng dạng "trung tâm", sau bị điều chỉnh lại, là do nó chỉ tập trung trong quyển 7, là quyển chủ yếu trình bày về thiền, chắc chắn do nhu cầu tìm hiểu về thiền nên nó được lưu hành rộng rãi qua nhiều tay người đọc Trung Quốc và quá trình đó đã được nhuận sắc cho đến khi được khắc bản vào năm 927, trong khi cấu trúc dạng "trung tâm" tiếp tục tồn tại trong các quyển kia của Lục độ kinh. Trong Lục độ kinh còn có một số cấu trúc ngữ âm tương tự, ví dụ như cấu trúc "thần thọ" có nghĩa là "thần cây" chứ không phải "cây thần" như tiếng Trung Quốc...

Kỳ 4

"Bộ Việt luật còn đó. Bài Việt ca còn đó. Truyện trăm trứng còn đó... Thế mà cứ nhắm mắt nói càn nước ta thành ra nước văn hiến từ Sỹ Vương. Thật khốn nạn hết chỗ nói !" (Thiền sư Lê Mạnh Thát).

Thiền sư nổi giận

Ngoài việc phát hiện việc Lục độ tập kinh chữ Hán "không chấp hành" nguyên tắc ngữ âm tiếng Trung Quốc như trường hợp cấu trúc "trung tâm", trong khi dịch tập kinh này ra tiếng Việt hiện nay, giáo sư Lê Mạnh Thát còn phát hiện các trường hợp Khương Tăng Hội dùng "tá âm" hoặc dùng thuần túy tiếng Việt, chỉ phiên âm ra nó lập tức biến thành những câu tiếng Việt dễ hiểu. Ông lưu ý do Khương Tăng Hội "sinh ra, lớn lên và đào tạo thành tài ở nước ta" cho nên khi phiên dịch và trước tác dứt khoát không thể nào không chịu ảnh hưởng của tiếng Việt trên cả ba mặt ngữ vựng, ngữ pháp và cú pháp, song Khương Tăng Hội lại là người sử dụng tiếng Trung Quốc tới mức "nhuần nhuyễn của một diệu thủ" thì lẽ ra những ảnh hưởng đó phải bị hạn chế tối đa, thế thì tại sao Lục độ tập kinh tồn tại nặng nề và sâu đậm đến vậy những "tàn dư" của ngữ vựng, ngữ pháp và cú pháp tiếng Việt ? Chỉ có thể giải thích là tập kinh đó đã được dịch ra chữ Hán bằng một nguyên bản tiếng Việt.

Tôi hỏi giáo sư Lê Mạnh Thát: "Khi đối chiếu cấu trúc "trung tâm" trong Lục độ tập kinh chữ Hán với ngôn ngữ của Trung Quốc, thầy viết rằng, "kiểm soát toàn bộ văn liệu" tiếng Trung Quốc (do người Trung Quốc viết) từ đầu thế kỷ thứ I sau dương lịch trở về sau cho đến thế kỷ thứ III, trong khoảng thời gian 300 năm, cấu trúc "trung tâm" chỉ được dùng đúng 3 lần, trong khi cấu trúc này được dùng phổ biến trong Lục độ tập kinh. Nói như vậy có nghĩa là để đối chiếu chỉ hai chữ "trung tâm", thầy đã phải đọc hết tất cả của Trung Quốc trong 3 thế kỷ?". Ông bảo: "Đúng vậy. Không đọc hết thì làm sao mà khảo sát, đối chiếu được!". Liên quan đến tiếng Việt trong Lục độ tập kinh, ông còn chỉ ra một nguồn tài liệu quan trọng thứ hai. Đó là sách Thuyết Uyển của Lưu Hướng, tồn tại từ năm 16 trước dương lịch mà "không có nhà nho nào là không biết". Đây là bộ sách duy nhất chép lại nguyên văn một tác phẩm văn học khác với tiếng Trung Quốc, đó là bài Việt ca. Thuyết Uyển không phải là một cuốn sách thường, nó là cuốn sách được viết để "dâng vua", cho nên tài liệu được nó sử dụng phải là những tài liệu được kiểm chứng, trong đó có tài liệu lấy từ "Trung thư", tức là một loại thư viện của hoàng gia. Điểm hết sức thú vị của bài Việt ca chép trong Thuyết Uyển là nó "ghi bằng chữ Hán mà người Hán không đọc được", phải "dịch ra tiếng Sở", tức là kèm theo một bản dịch tiếng Trung Quốc. Dù Lưu Hướng nói rõ đó là bài ca "do người Việt ôm mái chèo mà ca", nhưng hơn hai ngàn năm nay chưa một ai nghiên cứu giải mã bài ca này, ngoài sự cố gắng tìm hiểu của Quách Mạt Nhược (từng là Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc) cho rằng bài ca này là của người Choang vùng Quảng Tây Trung Quốc ngày nay, và một học giả người Nhật cho bài ca đó là của... Chiêm Thành. Giáo sư Lê Mạnh Thát đã dành nhiều thời gian, thông qua nhiều tài liệu để giải mã và bước đầu phục chế diện mạo tiếng Việt của bài Việt ca này (xem Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguồn của dân tộc ta, chương IV, sđd, và Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát, NXB Tổng hợp TPHCM, trang 41-47).

Như đã nói, mỗi lần tràn sang là mỗi lần kẻ xâm lược hủy diệt một cách tàn độc tất cả những gì có thể để cho văn hóa được lưu truyền, đặc biệt là việc tận diệt bia đá một cách có hệ thống sau khi "thu gom" hết sách vở, nhưng với những gì còn lưu lại của bốn ngàn năm văn hiến và những nỗ lực mới nhất của những nhà khoa học đầy tâm huyết và trách nhiệm với tổ tiên như Lê Mạnh Thát, chúng ta có cơ sở để khẳng định chắc chắn là chúng ta đã có chữ viết từ thuở các vua Hùng. Kẻ xâm lược quyết không cho người Việt biết đến "mặt chữ" của tổ tiên, nhưng dấu tích nó vẫn còn đó: trong kinh Phật, trong chính sách vở của Trung Quốc và còn lẩn khuất ở đâu đó nữa. Cùng với việc khảo sát trong lòng đất và "dưới nước" như hướng mà giáo sư Hoàng Xuân Hãn đề nghị, hướng nghiên cứu của giáo sư Lê Mạnh Thát rất cần được sự đồng hành, phối hợp của nhiều nhà sử học khác.

Tôi hỏi ông: "Thầy nghĩ gì về ý kiến cho rằng có thể tìm vết tích chữ viết thời Hùng Vương trên mặt trống đồng?". Ông nói: "Có giả thiết như vậy, nhưng khảo sát những hoa văn trên trống đồng chúng ta không thấy chúng có liên quan đến chữ viết, vì chữ viết phải có quy luật về cấu trúc của nó. Suy đoán từ những giả định không có cơ sở sẽ khó có sức thuyết phục". Việc nghiên cứu ngôn ngữ cổ, nhất là ngữ âm cổ rất phức tạp. Chẳng hạn người Trung Quốc cũng như người Việt 2.000 năm trước phát âm như thế nào ngày nay chúng ta không biết được, để nghiên cứu nó giáo sư Lê Mạnh Thát đã phải dùng hệ phát âm tiếng Trung Quốc thời Hán của Karlgren, là công cụ mà các nhà Hán học đều thống nhất, rồi đối chiếu với những tài liệu đánh dấu sự biến đổi ngôn ngữ để truy lùi về thời điểm nghiên cứu, và cũng bằng phương pháp tương tự, ông đối chiếu những mối liên hệ giữa tiếng Trung Quốc, tiếng Việt và các loại ngôn ngữ khác trong vùng (chữ Phạn, Chăm, Khmer, tiếng nói các dân tộc Trung Quốc giáp giới với Việt Nam...) để phác thảo diện mạo tiếng Việt của bài Việt ca, bác bỏ kết luận sai trái của Quách Mạt Nhược và học giả người Nhật nói trên... (bạn đọc muốn tìm hiểu sâu hơn, xin xem các sách đã dẫn).

Tiếp theo và cùng với chữ viết là lịch pháp. Lâu nay chưa ai biết dân tộc ta thời đại Hùng Vương sắp xếp ngày tháng như thế nào. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn từng đoán: "Văn hóa Trống đồng của nước Văn Lang chắc đã dùng năm 12 tháng, tháng lần lượt 29-30 ngày cũng không hẳn là vô lý" (Lịch và lịch Việt Nam, Tập san Khoa học xã hội, Paris, 1982, trích từ Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 1, NXB Tổng hợp TP.HCM 2006, trang 71). Nay những phát hiện trong Lục độ tập kinh cho phép khẳng định được lời đoán của giáo sư Hoàng Xuân Hãn. Những câu chuyện ghi trong tập kinh này cho thấy, nước ta thời Hùng Vương đã dùng hệ thống lịch chia năm ra 360 ngày, phân bổ thành 4 mùa, mỗi mùa có 3 tháng và đã dùng đơn vị tuần, mỗi tuần 7 ngày. Đối chiếu với những tài liệu cổ Trung Quốc thì thấy hệ thống lịch nước ta khác với lịch Trung Quốc cùng thời, vì lịch Trung Quốc thời đó mỗi năm 366 ngày và một đơn vị tuần của họ có tới 10 ngày. Nó cũng không giống Ấn Độ, vì tuần của Ấn Độ thời đó có 15 ngày. Phát hiện này cho phép kết luận nước ta thời Hùng Vương đã có lịch pháp riêng của một nhà nước độc lập. Giáo sư Lê Mạnh Thát cho rằng, để bảo lưu được một hệ thống lịch pháp như thế, các câu chuyện trong Lục độ tập kinh chắc chắn phải được lưu truyền "vào thời hệ thống lịch đó còn hiệu lực", tức là từ năm 43 trở về trước, bởi vì sau năm đó nhà Hán đã chiếm nước ta, một sự bảo lưu như thế dứt khoát không thể nào xảy ra dưới bộ máy đàn áp của Mã Viện...

Những kết luận của giáo sư Lê Mạnh Thát có thể và cần được các nhà sử học tiếp tục bổ sung, nhưng không có gì thái quá khi nói rằng với phát hiện đó trên nền tảng những thành quả quan trọng trong cuộc nghiên cứu lớn về thời Hùng Vương trong thời gian chống Mỹ, chúng ta có thể và phải dựng lại lịch sử thời đại Hùng Vương với những sự thật của nó. Nó một lần nữa chứng minh việc Nhà nước ta lấy ngày giỗ tổ Hùng Vương làm Quốc Giỗ là vô cùng đúng đắn.

Là nhà tu hành nhưng thiền sư Lê Mạnh Thát đã không kìm nén tức giận khi thấy người ta "thóa mạ làm nhục tổ tiên mình với kiểu ăn nói của Ngô Sỹ Liên: Nước ta hiểu thi, thơ, tập Lễ Nhạc thành ra nước văn hiến, bắt đầu từ Sỹ Vương. Bộ Việt luật còn đó. Bài Việt ca còn đó. Truyện trăm trứng còn đó... Thế mà cứ nhắm mắt nói càn nước ta thành ra nước văn hiến từ Sỹ Vương. Thật khốn nạn hết chỗ nói!". Sự nổi giận của vị thiền sư này rất cần được sự hưởng ứng của tất cả những ai còn coi mình là con cháu Lạc Hồng...

Kỳ 5

Không có cái gọi là thời kỳ “Bắc thuộc lần thứ nhất”. Việc lập 9 quận, trong đó có Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam thuộc Hán chỉ là sự “đọat khống” đất đai nhằm thỏa mãn não trạng và ao ước bành trướng của nhà Hán mà thôi.

Nhà Hán đọat khống đất đai nước ta

- Nếu nước ta thời Hùng Vương vẫn là một nước độc lập kéo dài cho đến năm 43, nghĩa là giai đoạn “Bắc thuộc lần thứ nhất” không tồn tại? - Tôi hỏi giáo sư Lê Mạnh Thát.

- Đúng vậy. Phải loại phần đó ra khỏi lịch sử. Chúng ta có đủ chứng cứ để làm như vậy.

- Nhưng sử sách vẫn còn ghi: năm 214 trước công nguyên, Tần Thủy Hoàng đem quân đánh lấy đất Bách Việt, sau đó chia làm ba quận: Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận mà Tượng Quận là nước ta?

- Nam Hải, Quế Lâm ngày nay nằm trong hai tỉnh Quảng Đông và Quý Châu Trung Quốc thì đã rõ rồi, nhưng Tượng Quận thì không phải. Một số tài liệu Trung Quốc có chép một cách lầm lạc rằng nó là Nhật Nam (nước ta) sau này, nhưng đối chiếu với những tài liệu tin cậy cũng của chính Trung Quốc, từ rất sớm người ta đã biết Tượng Quận nằm giữa hai quận Uất Lâm và Tường Kha của Trung Quốc chứ không phải nước ta.

- Sử Trung Quốc cũng ghi rõ, năm 111 trước công nguyên, Hán Vũ đế đã chiếm nước Nam Việt của Triệu Đà và đặt 9 quận: Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu Nhai và Đàm Nhĩ thuộc Hán. Nếu cho đến năm 43 nước ta vẫn độc lập thì giải thích làm sao việc nước ta gồm ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam nằm trong đất nhà Hán trước đó?

- Đối chiếu với chính sử Trung Quốc ta đã thấy Triệu Đà chưa bao giờ chiếm Tây Âu lạc cả và Hán Vũ đế cũng chỉ chiếm Nam Việt của Triệu Đà. Rõ ràng là họ đã gom Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam vào đất Hán một cách vô căn cứ. Việc này không có gì lạ, sử Trung Quốc còn chép rằng năm 202 (trước CN) Hán Cao tổ Lưu Bang, ông cố của Hán Vũ đế lấy các đất Tượng Quận, Quế Lâm, Nam Hải của Triệu Đà phong cho Ngô Nhuế, nhưng ba nơi đó là của Triệu Đà. "Đà chưa hàng, xa đoạt khống, lấy phong cho Nhuế vậy". Đất chưa lấy được mà "đoạt khống" làm đất của mình, chuyện đó là bình thường, không chỉ Lưu Bang mà trở thành thói quen cho các triều đại về sau này nữa... Bởi vậy việc "đoạt khống" ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam của ta không có gì lạ. Việc "đoạt khống" này có ba chứng cứ: Thứ nhất, Tiền Hán thơ ghi rõ rằng Thứ sử Giao Chỉ "đóng ở Thương Ngô", nghĩa là quân Hán chưa bao giờ đặt chân tới Giao Chỉ. Thứ hai, sử liệu Trung Quốc cũng cho thấy, việc đưa những người phạm tội đi đày thời đó chỉ đưa tới Hợp Phố chứ không hề thấy đưa đi xa hơn, tuy chưa phải là chứng cứ quyết định, nhưng cũng biểu thị rằng biên cương cực nam của nhà Hán chưa qua khỏi Hợp Phố, là vùng giáp giới với nước ta. Chứng cứ thứ ba là việc sử liệu Trung Quốc ghi "Phiên Ngung là một đô hội", đây là chi tiết khá khác thường, bởi Tiền Hán thơ đưa ra con số thống kê nhân khẩu cho thấy quận Nam Hải có 6 huyện chỉ vỏn vẹn có 94.253 dân, bình quân mỗi huyện, trong đó có Phiên Ngung, có trên dưới 15 ngàn dân, trong khi số dân Giao Chỉ 10 huyện số dân lên tới 764.237 người, bình quân mỗi huyện trên 75 ngàn dân, gần bằng số dân của cả Nam Hải. Đó là chưa kể Cửu Chân và Nhật Nam, dân số cộng lại cũng có trên 200.000 người. Thế mà lại nói "Phiên Ngung là một đô hội". Điều không hợp lý này chỉ có thể được giải thích là 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam trong thực tế không thuộc đất Hán. Có thể hỏi tại sao ba quận này không phải của nhà Hán mà nhà Hán lại có số liệu về "hộ khẩu", câu trả lời cũng thật đơn giản: Đọc trong Tiền Hán thơ, ta có thể bắt gặp một loạt tên các quốc gia độc lập ở Trung Á, chưa bao giờ "thuộc Hán", nhưng vẫn có số liệu hộ khẩu như thường. Cho nên, nhà Hán có số liệu về hộ khẩu không nhất thiết nó thuộc nhà Hán.

Dù là Âu Lạc, Tây Âu, Tây Âu Lạc, Tây Vu, Việt Thường Thị hay Giao Chỉ - Cửu Chân - Nhật Nam, cũng đều là những tên gọi khác nhau của nước ta. Cần biết, các triều đại phong kiến Trung Quốc không bao giờ muốn nước ta độc lập cả, ngay cả khi nước ta có quốc hiệu đàng hoàng như Vạn Xuân (Lý Nam Đế), Đại Cồ Việt (Đinh Tiên Hoàng) hay Đại Việt (Lý-Trần), sử sách Trung Quốc vẫn tiếp tục dùng những cái tên Giao Chỉ, An Nam để gọi một cách tùy tiện. Việc "đoạt khống" đất đai, theo giáo sư Lê Mạnh Thát, là "nhằm thỏa mãn não trạng và ao ước bành trướng" của họ.

Trao đổi với chúng tôi, giáo sư Lê Mạnh Thát cho rằng chỉ riêng văn minh trống đồng thôi mà chúng ta đã có chứng cứ rành rành. Với một nền khoa học kỹ thuật phát triển rất cao thời đó như vậy, một nền kỹ thuật không ai có thể chối cãi, thì không có lý gì mà chúng ta lại không có một nền văn hóa - giáo dục tương ứng.

Nền văn hóa đó vẫn được bảo tồn. Trung Quốc có Thi Thơ Lễ Nhạc. "Nếu nói Thi chúng ta có cùng chùm truyện trong Lục độ tập kinh, Cựu tạp thí dụ kinh và bài Việt ca. Nếu nói Thơ chúng ta có truyền thuyết trăm trứng. Nếu nói Lễ chúng ta có bộ Việt luật. Nếu nói Nhạc ta không chỉ có bài Việt ca mà còn có trống đồng...". Nói thêm về văn học, ông cho rằng "nền văn học thành văn của dân tộc ta không phải bắt đầu từ Trần Nhân Tông và Nguyễn Trãi, hay Khuông Việt và Từ Đạo Hạnh... mà nó đã bắt đầu từ thời Hùng Vương mà bằng chứng còn lại là bài Việt ca, cụm chuyện thần thoại và cổ tích đầu tiên tìm thấy trong Lục độ tập kinh. Phân tích trong Lục độ tập kinh, giáo sư Lê Mạnh Thát chỉ ra 5 truyện trong tập kinh này tương đương với 5 truyện cổ tích do Nguyễn Đổng Chi tập hợp trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, như vậy "chúng ta không còn bàn cãi một cách tùy tiện không có cơ sở về nền văn học "dân gian" chung chung phi thời gian, phi lịch sử".

Như vậy là từ thời Hùng Vương chúng ta đã có một nền văn hóa riêng, tạo nên bản lĩnh dân tộc. Đó là nền tảng cho những cuộc đấu tranh trường kỳ, khốc liệt bảo vệ đất nước, bảo vệ nòi giống. Dân tộc ta không những không bị đồng hóa, mà nền văn hóa của dân tộc ta còn được du nhập vào văn hóa Trung Quốc mà Lục độ tập kinh - không chỉ là kinh Phật mà còn là tác phẩm của "bậc thánh hiền" như chính người Trung Quốc gọi - là một trong những ví dụ.

Nhưng không chỉ có vậy. Theo giáo sư Lê Mạnh Thát, từ sau khi Mã Viện đánh bại Hai Bà Trưng cho đến khi Chu Phù, Sỹ Nhiếp cai trị nước ta, lịch sử cũng có nhiều vấn đề cần đặt lại. Và trong thời gian này xuất hiện một nhân vật lớn là Mâu Tử, một người Việt Nam, với tác phẩm nổi tiếng Lý hoặc Luận được lưu truyền trong nền văn hóa điển chương Trung Quốc, một bằng chứng hùng hồn về sự nổi trội của văn hóa Việt Nam...

Kỳ 6
"Giá như người nước ta không ghi lại những sự việc của Lê Hoàn (Hoàng đế Đại Hành) và chúng ta phải nghiên cứu qua tư liệu của người Trung Quốc, thì một đoán án đương nhiên phải xảy ra , đó là Lê Hoàn không xưng đế xưng vương hay đặt quốc hiệu lập xã tắc gì hết, ngược lại chỉ là một Tiết độ sứ, một quan chức của nhà Tống” (thiền sư Lê Mạnh Thát)

Sỹ Nhiếp là ai ?

Có thể có ai đó trong giới sử học "ý kiến ra ý kiến vào" về những phát hiện của giáo sư Lê Mạnh Thát mà chúng tôi đang giới thiệu một phần hết sức tóm lược. Mong rằng những người quan tâm có thể tìm đọc các công trình của ông để trao đổi học thuật. Chúng tôi xin lưu ý, những gì mà chúng tôi giới thiệu ở đây, giáo sư Lê Mạnh Thát đã công bố từ cách đây trên dưới 40 năm, nay được in lại trong hai bộ Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam (tập 1) và Lịch sử Phật giáo Việt Nam (tập 1), đều do NXB Tổng hợp TP.HCM phát hành năm 2006, ngoài sách Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta mà chúng tôi đã dẫn. Trong những công trình này, mỗi một vấn đề đưa ra ông đều dẫn kèm theo tất cả các tài liệu có liên quan bằng những ngôn ngữ gốc. Những tài liệu đó được ông giới thiệu cụ thể, chỉ rõ số trang, số tờ, nơi ấn hành hoặc lưu trữ, nếu ai nghi ngờ thì có thể tra tận gốc, bằng tiếng Việt, chữ Hán cổ và chữ Trung Quốc hiện nay, cùng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nhật, chữ Phạn cổ...

Ông dẫn việc nhà Tống với Lê Hoàn như trên để nói rằng những sử liệu từ Trung Quốc là "không hoàn toàn đáng tin cậy", ví dụ như chính sử Trung Quốc ghi nhiều thứ sử Giao Châu (nước ta) nhưng thực tế những người đó chỉ được "phong khống" chứ chưa bao giờ bước chân qua nước ta. Việc nghiên cứu lịch sử nước nhà phải sử dụng tất cả những tài liệu của tổ tiên ta để lại, rồi đối chiếu với chính sử Trung Quốc để thẩm định, xác minh tìm ra sự thật. Cho nên, mỗi một cuộc truy tìm, mỗi một phát hiện được tài liệu của tổ tiên đều khiến cho lịch sử nước nhà trở nên sáng rõ.

Ông bảo nói "một ngàn năm đô hộ giặc Tàu" như lời bài hát của Trịnh Công Sơn là cách nói đau buồn mà không chính xác. Cuộc đấu tranh của dân tộc ta từ sau khi cuộc kháng chiến của Hai Bà Trưng thất bại chưa bao giờ ngưng nghỉ. Bởi chưa đầy 60 năm sau, cuộc khởi nghĩa Tượng Lâm lần thứ nhất đã nổ ra vào năm 100, dẫn tới việc người anh hùng Khu Liên lập khu tự do vào năm 138, làm hậu phương cho các cuộc khởi nghĩa về sau, cho đến thời Chu Phù, Sỹ Nhiếp. Thực chất trong hơn 150 năm bị các thái thú Trung Quốc đến đô hộ, chúng ta "mất nước chứ không mất hạnh", nghĩa là dân tộc vẫn còn, nền văn hóa dân tộc được xây dựng từ thời Hùng Vương vẫn được bảo tồn và phát triển. Sự quật cường của dân tộc chính người Trung Quốc cũng phải thừa nhận: "Trưởng lại đặt ra, tuy có cũng như không".

Có một nhân vật lạ lùng trong lịch sử nước ta, đó là Sỹ Nhiếp. Cả sử Trung Quốc và sử ta đều nói ông là thái thú Giao Chỉ (sau đổi thành Giao Châu). Tuy là một "thái thú" đến cai trị, nhưng các sử gia Việt Nam đều dành những lời lẽ mến mộ khi nói về Sỹ Nhiếp. Lê Văn Hưu viết: "Sỹ Vương biết lấy khoan hậu khiêm tốn để kính trọng kẻ sĩ, được người thân yêu mà đạt đến thịnh một thời". Ngô Sỹ Liên cũng vậy. Trần Trọng Kim thì viết: "Sỹ Nhiếp trị dân có phép tắc, và lại chăm sự dạy bảo dân cho nên lòng người cảm mộ công đức, mới gọi tên là Sỹ Vương". Khi nhân dân gọi Sỹ Nhiếp là "Sỹ Vương", tức là vua của mình, còn có lý do nào nữa không ?

Phần trước chúng tôi có nêu sự "nổi giận" của giáo sư Lê Mạnh Thát khi trích lời Ngô Sỹ Liên "Nước ta hiểu thi thơ, tập Lễ Nhạc thành ra nước văn hiến, bắt đầu từ Sỹ Vương", cần nói rõ là ông bất bình với việc cho rằng nước ta hiểu thi thơ, tập Lễ Nhạc mới thành ra nước văn hiến, chứ hoàn toàn không xem thường Sỹ Nhiếp. Cũng như Trần Trọng Kim viết: "Nhà làm sử thường cho nước ta có văn học là khởi đầu từ Sỹ Nhiếp. Cái ý kiến ấy có lẽ không phải" (Việt Nam sử lược).

Đưa ra nhiều tài liệu dẫn chứng, giáo sư Lê Mạnh Thát cho rằng, trong thực tế chính quyền Sỹ Nhiếp (từ 187), cũng như trước đó là Chu Phù (khoảng 180), là "chính quyền Việt Nam độc lập". Sử Trung Quốc chép rõ Chu Phù "vứt điển huấn tiền thánh, bỏ pháp luật Hán gia". Còn đối với Sỹ Nhiếp, sử Trung Quốc (Ngô chí) viết rằng: "(Sỹ Nhiếp) tổ tiên vốn người Mấn Dương nước Lỗ, đến loạn Vương Mãng tỵ nạn Giao Châu, tới Nhiếp là sáu đời". Ông cho rằng một người có tổ tiên 6 đời ở Việt Nam thì đã "Việt Nam hóa", trở thành người Việt Nam rồi. Cũng theo Ngô chí: "Sỹ phủ quân (Sỹ Nhiếp) của Giao Chỉ học vấn đã ưu bác, lại thành công về chính trị, ở trong đại loạn, bảo toàn một quận hơn 20 năm, cương trường vô sự, dân không thất nghiệp, những bọn lệ thuộc đều được nhờ ân"; "Anh em Nhiếp đều là người hùng các quận, làm tướng một châu, riêng ở vạn lý, uy tôn vô thượng. Ra vào đánh chuông khánh, đầy đủ uy nghi, kèn sáo cổ xuy, xe ngựa đầy đường. Người Hồ theo sát đốt hương, thường có mấy mươi. Thê thiếp đi xe màn, tử đệ theo lính kỵ. Đương thời quý trọng, chấn phục trăm mọi. Úy Đà cũng không đủ hơn". Từ tài liệu trên, theo giáo sư Lê Mạnh Thát: "Sỹ Nhiếp dẫu được đào tạo trong khuôn mẫu Trung Quốc, đã có những hành vi xa lạ với phong tục tập quán Trung Quốc. Nói rõ ra, ông đã được Việt hóa. Việc Ngô chí so sánh Sỹ Nhiếp với Triệu Đà cho thấy nền cai trị nước ta thời bấy giờ độc lập tới mức nào. Thực tế có thể nói chính quyền độc lập đầu tiên sau chính quyền Hai Bà Trưng là chính quyền Chu Phù - Sỹ Nhiếp". Theo ông, dưới thời Sỹ Nhiếp, nước ta đã có một nền nông nghiệp rất phát triển. "Lúa Giao Chỉ mùa hè chín, nông dân một năm trồng hai lần" (theo Kinh Dương dĩ nam dị vật chí). "Một năm tám lứa kén tằm đến từ Nhật Nam" (Văn tuyển 5 tờ 9b4). "Nhiếp mỗi khi sai sứ đến Quyền đều dâng tạp hương, vải mỏng thường tới số ngàn. Món quý minh châu, sò lớn, lưu ly, lông thú, đồi mồi, sừng tê, ngà voi, các thứ vật lạ quả kỳ như chuối, dừa, long nhãn, không năm nào không đưa đến" (Ngô chí 4 tờ 8b1-3 nói về những cống vật mà Sỹ Nhiếp gửi đến Tôn Quyền).

Giáo sư Lê Mạnh Thát dẫn giải tiếp: Sau khi Sỹ Nhiếp chết (226), lúc ấy Tôn Quyền đã chiếm cứ phía Nam Trung Quốc để tranh hùng với Tào Tháo và Lưu Bị, nên nhân cái chết của Sỹ Nhiếp tiến hành thôn tính nước ta, lúc đó "là một nước độc lập dựa trên điển huấn và pháp luật của người Việt". Con Sỹ Nhiếp là Sỹ Huy nối nghiệp cha, chống lại Tôn Quyền, tuy nhiên do mất cảnh giác, nên đã thất bại, Sỹ Huy bị bắt và bị giết, Tôn Quyền chiếm nước ta. Nhưng do bị chống đối quyết liệt, nền cai trị của Tôn Quyền không bền vững và không lâu dài, vì chỉ 18 năm sau, Triệu Thị Trinh (Bà Triệu) cùng anh là Triệu Quốc Đạt nổi lên khởi nghĩa giành lại chính quyền.

Về sự kiện Bà Triệu khởi nghĩa, giáo sư Lê Mạnh Thát cho rằng đây là cuộc "khởi nghĩa thành công". Ông viết: "Tôn Quyền sai Lục Dận làm An nam hiệu úy và thương thảo với quân khởi nghĩa bằng ấn tín và tiền của. Đây là lối đánh dẹp khá lạ kỳ, hiếm thấy trong lịch sử Trung Quốc đối với nước ta. Và cuối cùng Lục Dận cũng có thể báo cáo là đã "dẹp yên được giặc Giao Chỉ" và được phong làm thứ sử Giao Châu. Nhưng châu trị của Giao Châu lần này không phải ở nước ta, mà phải ở Quảng Châu, vì nó ngó ra biển (lâm hải), như bài biểu của Hoa Thạch trong Ngô chí tờ 10b3 đã ghi nhận. Nói cách khác, nước ta từ năm 248 tiếp tục là một nước độc lập và Bà Triệu tiếp tục đứng đầu đất nước, cho đến khi Tôn Hựu sai Đặng Tuân (Ngụy chí 4 tờ 27a3 viết là Đặng Cú) đến Giao Chỉ vào năm 257, ra lịnh cho thái thú Giao Chỉ bắt dân đưa lên Kiến Nghiệp làm lính. Và như Thiên Nam ngữ lục đã ghi nhận là Bà Triệu đã bị tử trận trong một cuộc chiến đấu với chính Đặng Tuân sau khi đã tiêu diệt Lục Dận (...). Những mô tả này (trong Thiên Nam ngữ lục) hoàn toàn phù hợp với tư liệu của Ngụy chí 4 tờ 27a2-27b5, đặc biệt là tờ chiếu năm Hàm Hi thứ nhất (264) của Tào Hoán..." (Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 1, trang 385-386)...

Kỳ 7

Mỗi một di sản của tổ tiên đều phải được truy tìm, cũng như mỗi một tấc đất của tổ tiên đều phải được gìn giữ

Một minh chứng văn hóa

Những phát hiện nói trên của giáo sư Lê Mạnh Thát cho phép dựng lại lịch sử dân tộc trong thời kỳ nước nhà không có sử liệu, sử sách được viết chủ yếu căn cứ theo các tài liệu của Trung Quốc. Việc khẳng định chủ quyền của dân tộc thời trước Hai Bà Trưng, thời Sỹ Nhiếp và sau đó nữa là có cơ sở. Những phát hiện về văn hóa, bắt đầu từ Khương Tăng Hội với Lục độ tập kinh và Mâu Tử với Lý hoặc Luận, đặc biệt là sự kiện 6 lá thư đề cập dưới đây càng minh chứng cho điều đó.

Lý hoặc Luận của Mâu Tử là một tác phẩm nổi tiếng, được viết vào cuối thế kỷ thứ II (198) và được lưu hành tại Trung Quốc bắt đầu từ thế kỷ thứ V, có ảnh hưởng lớn ở Trung Quốc. Nó còn là "sách gối đầu giường" của người Phật tử Viễn Đông, cụ thể là Trung Quốc và Nhật Bản. Đến nửa đầu thế kỷ XX, một loạt những nghiên cứu của các học giả Trung Quốc, Nhật Bản và Pháp được công bố về tác phẩm này, gây nên một cuộc tranh biện sôi nổi và hào hứng, bắt đầu từ công trình của Lương Khải Siêu, tiếp đó là của H.Maspéro, Tokiwa Daijo, P.Pelliot, Chu Thúc Ca, Hồ Thích, Matsumoto Bunzaro, Dư Gia Tích và Fukui Kojun (dẫn theo Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1). Ở Việt Nam, nó cũng được coi là cuốn sách lý luận được quan tâm từ hơn 1.000 năm trước, đặc biệt từ năm 1932 khi Trần Văn Giáp giới thiệu Mâu Tử là "người đầu tiên truyền bá đạo Phật ở Việt Nam", cuốn sách đó được sự quan tâm rộng rãi của giới học giả và nhiều người dân. Trong khi nghiên cứu Lục độ tập kinh, giáo sư Lê Mạnh Thát đã phát hiện những mối liên hệ thú vị và trên cơ sở một cuộc khảo sát hết sức công phu, ông đã tìm ra bằng chứng khẳng định Mâu Tử là người Việt Nam và Lý hoặc Luận chính là tác phẩm của Việt Nam truyền sang Trung Quốc. Công trình nghiên cứu này của ông đã được công bố một phần trước năm 1975 và công bố toàn bộ sau này (xem Tổng tập Văn học Phật giáo Việt Nam, tập 1).

Theo giáo sư Lê Mạnh Thát: "Trong bối cảnh văn hóa thời Mâu Tử, Lý hoặc Luận không phải viết để xiển dương Phật giáo, mà là một cuộc tổng kết cuộc đấu tranh về văn hóa, giữa văn hóa Việt Nam đối với văn hóa phương Bắc". Phải có một bề dày văn hóa như thế nào mới có thể có được một bản lĩnh văn hóa như vậy. Một bên thì áp đặt Thi Thư như chân lý, Trung Hoa là trung tâm, một bên Mâu Tử đáp trả "Đất Hán chưa chắc là trung tâm của trời đất", "năm kinh chưa hẳn là lời của thánh hiền". Tiếp cận tác phẩm của Mâu Tử, chúng ta còn thấy dân tộc ta đã bảo tồn văn hóa của mình như thế nào, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo để phát triển nền văn hóa của mình như thế nào và truyền bá văn hóa của mình ra nước ngoài ra sao.

Sáu lá thư và một vị vua

Một phát hiện cực kỳ quan trọng khác của giáo sư Lê Mạnh Thát là 6 lá thư nằm trong Đại tạng kinh chữ Hán. Đó là 6 lá thư trao đổi giữa hai pháp sư Đạo Cao và Pháp Minh với một "sứ quân" của Giao Châu tên là Lý Miễu. Trước khi ông công bố 6 lá thư này, chưa có một tài liệu nào đề cập tới. Từ điểm gây tò mò đầu tiên trong 6 lá thư là địa danh "Giao Châu", ông đã tiến hành một cuộc truy tìm ngoạn mục. Trước hết là tìm nguồn gốc Việt Nam về mặt điển cố lịch sử, tìm nguồn gốc Việt Nam về mặt điển cố thư tịch, kế đó là tìm niên đại và tung tích tác giả 6 bức thư.

Khó khăn nhất là tìm ra tác giả của chúng. Ông bảo tung tích của những người mang tên Đạo Cao, Pháp Minh và Lý Miễu ngày nay chúng ta không biết một tí gì hết.

Ông "kiểm soát toàn bộ" những tư liệu lịch sử Trung Quốc và Phật giáo Trung Quốc, cũng như tư liệu lịch sử Việt Nam và Phật giáo Việt Nam, cũng không tìm thấy những người có các cái tên ấy. Ông lục tìm trong Tấn thư, Tống thư, Nam Tề thư, Lương thư, Ngụy thư, Bắc sử, Nam sử và Tư trị thông giám sử cũng như Đại Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử tiêu án và Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng không gặp một "sứ quân" (hoặc chức vụ tương đương) nào với cái tên Lý Miễu; lục tìm trong Cao tăng truyện và Tục cao tăng truyện cũng như Thiền Uyển tập anh, cũng không tìm thấy một pháp sư nào có tên Đạo Cao hay Pháp Minh. Chỉ duy nhất trong Toàn Tấn văn 157 tờ 15a12-2 có liệt ra tên một Thích Đạo Cao, nhưng kiểm tra bản mục lục của văn liệu này cũng như xuất xứ của tên ấy dẫn từ Cao tăng truyện 5 tờ 255b15-17 thì thấy là Thích Đạo Tung chứ không phải Đạo Cao, sự khác nhau đó là do Toàn Tấn văn khắc nhầm.

Ông mở rộng việc truy tìm sang các tài liệu Nhật Bản và Triều Tiên. Trong khi khảo sát toàn bộ tài liệu liên quan của Nhật, ông đọc kỹ lại Nhật Bản quốc kiến tại thư mục lục (là sách được Vũ Điền thiên hoàng cho viết nhằm ghi lại tất cả những bộ sách Trung Quốc còn sót lại trong Thư viện hoàng gia sau vụ cháy năm 887), tìm thấy một dữ kiện lôi cuốn. Dưới mục thứ mười mang tên Tiểu học gia, liệt ra một bộ sách nhan đề "Tá âm, một quyển, Thích Đạo Cao soạn" và dưới mục Biệt tập lại ghi "Đạo Cao pháp sư tập, một quyển". Vấn đề là Đạo Cao tác giả của hai cuốn sách Tá âm và Đạo Cao pháp sư tập này có phải là Đạo Cao pháp sư trong 6 lá thư hay không? Đối chiếu thì thấy hai tác phẩm này chắc chắn không phải do người Nhật biên soạn mà phải là từ Trung Quốc mang về, vì khảo sát toàn thể tài liệu Phật giáo Nhật Bản ông không thấy tăng sĩ Nhật Bản nào mang tên Đạo Cao cả. Vấn đề là họ mang về Nhật từ lúc nào. Một cuộc kiểm soát tiếp vẫn không cho biết một tí gì cả, chỉ biết chắc chắn là nó phải được mang về trước năm 887 để có thể ghi vào bản thư mục nói trên. Ông cũng kiểm soát những bản thư tịch liệt kê những tư liệu liên quan tàng trữ ở các nước Anh, Pháp, Liên Xô, cũng không tìm thấy gì hết.

Tuy nhiên, ở đây xuất hiện một vấn đề mới. Trước hết về cuốn Tá âm. Nó được liệt vào loại Tiểu học gia, mà căn cứ vào định nghĩa của Tùy thư kinh tịch chí, nó là loại sách ngôn ngữ. Cần nói thêm, một chú giải trong tài liệu Nhật Bản còn ghi "Kinh tịch chí của Tùy thư có ghi Tá âm tự một quyển, nhưng không ghi họ tên người viết". Ghi chú này đã được xác nhận từ tài liệu Trung Quốc và từ dẫn giải của các tài liệu Trung Quốc cũng như Nhật Bản, có thể coi Tá âm tự là một tác phẩm khác nữa của Thích Đạo Cao. Như vậy là ít nhất Thích Đạo Cao cũng có 3 tác phẩm được nhắc đến. Vấn đề đặt ra là tại sao những tác phẩm đó được Nhật Bản đem về từ Trung Quốc mà Trung Quốc lại không ghi một cách đàng hoàng trong các tài liệu chính thống của mình, mà chỉ ghi một cách sơ sài khuyết danh trong Tùy thư? Tiếp tục nghiên cứu và đối chiếu, ông xác định rằng sở dĩ như vậy là vì những sách đó chắc chắn không phải tiếng Trung Quốc mà là tiếng nước ngoài.

Những khảo sát như vậy dẫn đến kết luận, Đạo Cao chắc chắn không phải là người Trung Quốc, Nhật Bản hay Triều Tiên, trong khi người mang tên đó là một trong hai tác giả các bức thư trao đổi với Lý Miễu, "sứ quân" Giao Châu. Bởi vậy Đạo Cao chắc chắn là người Việt Nam. Và từ nhân vật này, ông phát hiện một chứng cứ quan trọng khác về một cột mốc phát triển ngôn ngữ dân tộc: Tá âm là một quyển sách ngữ học về quốc âm, còn Tá âm tự là một cuốn tự điển về thứ tiếng quốc âm đó. Rất tiếc là chúng đã thất lạc, nhưng chắc chắn là có những cuốn sách đó. Ông bảo trong sưu tập Stein tàng trữ tại Bảo tàng viện Anh Quốc có một thủ bản mang ký hiệu S.5731, mô tả một tài liệu giống như vậy, nhưng vì ông "chưa có trong tay" thủ bản đó nên chưa thể khẳng định.

Chúng tôi dẫn chứng dài dòng đoạn trên, tuy rất sơ lược, để bạn đọc phần nào thấy được cách làm việc cẩn trọng của giáo sư Lê Mạnh Thát. Những khảo sát như vậy đã được tiến hành và dễ dàng tìm ra tông tích Việt Nam của người thứ hai là Pháp Minh.

Đối với nhân vật Lý Miễu, nội dung 6 lá thư cho thấy Lý Miễu được gọi là "sứ quân" và lời lẽ của nhị vị pháp sư trong 6 lá thư coi ông "ở địa vị của một bậc thiên tử". Đối chiếu danh sách những chức danh tương đương với "sứ quân" như "thái thú", "thứ sử" Trung Quốc cử sang thì không thấy tên Lý Miễu. Toàn bộ sử sách Trung Quốc cũng như Việt Nam đều không có tên Lý Miễu. Với một khảo sát văn liệu tương tự cùng những phân tích chính trị, xã hội đến tận ngọn nguồn, ông kết luận Lý Miễu chính là một vị vua của Việt Nam. Một nhân vật xưng vương xưng đế trên một đất nước độc lập mà Trung Quốc không với tới thì sử sách Trung Quốc không chép là không có gì lạ. Còn việc sử ta không chép cũng là đương nhiên, vì không không có sử liệu. Ông ước đoán 6 lá thư đó được viết vào những năm 435-440, nằm trong thời kỳ Nam Bắc triều (420-588) của Trung Quốc. Niên đại của Lý Miễu nằm trong khoảng 390-470, của Đạo Cao khoảng 365-455 và Pháp Minh khoảng 370-460. 6 lá thư chứa đựng những sử liệu vô cùng quý giá cho việc nghiên cứu nghệ thuật, âm nhạc, văn học, Phật giáo, chính trị và tư tưởng (bạn đọc quan tâm vấn đề này xin đọc Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 1, trang 427-582).

*

Xin tạm dừng loạt bài này ở đây. Thiền sư Lê Mạnh Thát đã thực hiện một loạt các công trình nghiên cứu đồ sộ về lịch sử dân tộc và lịch sử Phật giáo, về văn học, triết học... Riêng các công trình lịch sử văn học của ông được tập hợp thành Tổng tập văn học Phật giáo khoảng 50 tập (đã in 3 tập). Chúng tôi giới thiệu sơ lược một số trong rất nhiều phát hiện lịch sử của thiền sư với mong muốn những người quan tâm đến lịch sử nước nhà biết đến. Đối với các cơ quan quản lý ngành lịch sử và những nhà sử học - những người đang nghiên cứu lịch sử, chúng tôi thiết nghĩ nó có lợi chứ hoàn toàn không gây thiệt hại gì cho việc nghiên cứu, vì nghiên cứu thì cần có những tài liệu mới do chính mình hoặc do người khác phát hiện ra. Các cơ quan nghiên cứu lịch sử hoặc các nhà sử học có thể xem xét, đánh giá, tranh biện, cái gì có tài liệu chứng minh là không đúng thì nói là không đúng, cái gì cần tiếp tục làm rõ thì cùng nhau tìm tòi làm rõ, nhưng cái gì thấy có cơ sở là đúng rồi thì cần thừa nhận để đưa vào dòng chính thống. Tất cả đều nhằm mục đích tìm ra sự thật để tôn vinh dân tộc chúng ta. Mỗi một di sản của tổ tiên đều phải được truy tìm, cũng như mỗi một tấc đất của tổ tiên đều phải được gìn giữ.

H.H.V