Thứ Tư, ngày 31 tháng 12 năm 2008

Chiều nay, Báo Thanh Niên đẫm nước mắt...


Cho đến 3 giờ chiều nay tôi vẫn không tin, nhưng sự thật thì hôm nay là ngày cuối cùng anh Nguyễn Công Khế làm Tổng Biên tập Báo Thanh Niên.

3 giờ chiều nay, cấp trên đã đến Báo Thanh Niên để “triển khai quyết định”, để từ ngày mai anh Khế không làm Tổng Biên tập Báo Thanh Niên nữa, mà chỉ “tập trung làm Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty cổ phần truyền thông Thanh Niên và Giám đốc Hãng phim Thanh Niên”.

Cả Hội trường Báo Thanh Niên chiều nay đầy nước mắt, ở đây chưa bao giờ có nhiều nước mắt như vậy. Nước mắt đã có từ nhiều ngày nay, nhưng hôm nay là nhiều nhất, trong đó có rất nhiều nước mắt của những người chưa bao giờ khóc người đang sống.

Giao thừa dương lịch tối nay, đối với những người làm báo Thanh Niên, là một giao thừa buồn thảm.

Chỉ còn 2 ngày nữa thôi là Báo Thanh Niên tròn 23 tuổi, cũng là 23 năm Thanh Niên với 4757 số báo cùng hàng trăm ấn phẩm khác gắn liền với tên tuổi, với máu thịt Nguyễn Công Khế.

Trên số báo ra ngày 3-1 tới đây, không biết Thanh Niên sẽ đăng những gì để kỷ niệm sinh nhật 23 năm của mình.

Giờ phút này tôi không thể viết được điều gì, nhưng tôi sẽ tiếp tục viết về Báo Thanh Niên và về Nguyễn Công Khế...

Thứ Ba, ngày 30 tháng 12 năm 2008

Tôi yêu

Phùng Quán


Tui thuộc nhiều thơ Phùng Quán. Có thể thơ ông không có những “điểm chết” bất tử. Nhưng hơn ai hết, thơ Phùng Quán chính là con người Phùng Quán. Sống hết mình, yêu hết mình, ở ông cái gì cũng phân minh, cái gì cũng tận cùng, cái gì cũng nhất quán. Phùng Quán “Di chúc chiến sĩ” không hề mâu thuẫn với Phùng Quán “Chống tham ô lãng phí” hay Phùng Quán “Lời mẹ dặn”… Phùng Quán khi đi cải tạo so với Phùng Quán được tặng giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật vẫn là một Phùng Quán đó thôi. Nói như Lỗ Tấn “những gì chảy ra từ suối đều là nước, những gì chảy ra từ huyết quản đều là máu”. Tui rất thích bài “Tôi yêu” sau đây của ông mà không giải thích được vì sao tui thích.


Trái tim tôi như trái cây bị dập nát

rụng xuống từ cành cao

tình tuyệt vọng là ngọn sào

chọc trái cây rụng xuống…


Trái cây rụng vẫn mơ giấc mơ hoang tưởng

may ra còn được chân em dẫm nát

để trước khi tan vào bụi đất

còn kịp hôn gót chân yêu


Nhưng em vẫn la lối phàn nàn :

- Căn phòng tôi nóng sôi như sa mạc

anh đến ngồi quá lâu càng thêm nóng nực

và anh thở như người sắp chết khát

chút khí trời ít ỏi của tôi


Quá đau đớn tôi hóa thành lì lợm

tôi khuyên em bớt giận

nếu không được ngồi thì tôi xin đứng

như cái chổi em dựng ở xó nhà

và tôi sẽ nín thở

như ngày xưa chăn trâu cắt cỏ

tôi suýt chết đuối ở đáy giếng làng

vì mãi lặn mò con cá bống thần cô Tấm bỏ quên


-Đứng ở xó nhà cũng không được đứng

Thì tôi xin đứng ngoài hiên


-Đứng ở ngoài hiên cũng không được đứng

Thì tôi xin đứng ngoài ngõ


-Đứng ở ngoài ngõ cũng không được đứng

Thì tôi xin đứng đầu đường

mắt đăm đăm nhìn cửa sổ nhà em

môi bỏng rát những lời yêu thương


-Đứng ở đầu đường cũng không được đứng

lời yêu thương cũng không được nói

Thì tôi xin chết

nhưng tôi không nói lời vĩnh biệt

vì tôi tin tôi sẽ hồi sinh


Dù hỏa táng

dù chôn tôi xuống đất

nhưng trái tim dập nát của tôi

vẫn thắm một khối tình.

Thiền là gì ?


Một y sĩ đến gặp thiền sư Nanin để xin học Thiền.

Nanin bảo : “Nếu anh là y sĩ, hãy về chữa trị tử tế cho bệnh nhân đi. Đó là thiền”
(Trích từ Góp nhặt cát đá của thiền sư Muju, Nhật Bản, thế kỷ 13)

Chủ Nhật, ngày 28 tháng 12 năm 2008

Thiền và chính trị


1. Theo sách Cao tăng dị truyện, vào năm 431, vua Tống Văn Đế cung kính hỏi thiền sư Gunavarmam (Cầu Na Bạt Ma, còn gọi là Công Đức Khải) :
- Quả nhân thường muốn trì trai không sát sanh; đem thân tiếp vật, mà chẳng tròn sở nguyện, xin thầy dạy cho.
Thiền sư đáp:
- Ðạo tại tâm chứ không tại việc. Pháp do mình chứ không do người. Hơn nữa, đế vương tu khác với thất phu. Thất phu nếu không khắc kỷ, không tiết chế thì còn làm gì nữa? Còn đế vương lấy bốn biển làm nhà, lấy muôn dân làm con. Ban một lời khen thì sĩ thứ đều vui, công bố một chính sách tốt thì thần dân an hòa. Hình phạt không làm chết người, sưu dịch không làm nhọc sức người, thì mưa gió đúng thời, nóng lạnh hợp tiết, lúa đậu dồi dào, cây trái tốt tươi. Lấy điều này thay cho trì trai, đó là trì trai lớn, lấy điều này thay cho việc không sát sanh, thì lợi hơn sát sanh. Ðâu phải ở chỗ ngày ăn một bữa, bảo toàn tính mệnh cho một con vật, mới gọi giúp đỡ rộng rãi ?
Vua vỗ ghế than :
- Người tục thì mê những triết lý xa xôi, tăng nhân thì trệ ở kinh điển thiển cận. Còn như lời của thầy, có thể nói gồm cả trời và người vậy.
2. Năm 1237, do vua Trần Thái Tông lấy Lý Chiêu Hoàng đã lâu mà không sinh con, Trần Thủ Độ lo sợ cho sự tồn vong của triều Trần, mà sự tồn vong của triều Trần lúc đó gắn liền với sự tồn vong của xã tắc, nên ép Trần Liễu (anh của vua Trần Thái Tông) nhường vợ là Thuận Thiên công chúa (lúc đó đang có thai) cho Trần Thái Tông, giáng Lý Chiêu Hoàng xuống làm công chúa. Trần Thủ Độ tính chuyện "chắc ăn" cho dòng họ, lấy đại cục làm trọng, bất chấp đạo lý thông thường của người đời. Nhưng việc này khiến cho Trần Liễu bất mãn. Vua cũng không tán đồng, nên đang đêm bỏ ngai vàng lên Yên Tử. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng sáng hôm sau Trần Thủ Độ đem quần thần lên núi đón vua. Vua nói : “Trẫm vì tuổi trẻ chưa cáng đáng nổi công việc nặng nề, mà phụ hoàng đã vội lìa bỏ, Trẫm mất chỗ trông cậy, nên không dám ngồi ở ngôi vua để làm nhục xã tắc” Thủ Độ ba lần cố mời, vua vẫn không nghe, bèn bảo mọi người : “Hễ xa giá ở đâu, tức đó là triều đình”. Bèn cắm nêu trong núi, chỗ này là điện Thiên An, chỗ kia là gác Đoan Minh, sai người xây dựng. Quốc sư (Phù Vân) nghe vậy tâu rằng : “Bệ hạ nên gấp hồi loan, chớ khiến chặt phá núi rừng của đệ tử”. Vua bèn trở về kinh đô.
Nhưng chuyện này thực tế có khác một chút. Thiền sư Lê Mạnh Thát, trong Trần Thái Tông toàn tập có dẫn bài tựa do nhà vua viết cho sách Thiền tông chỉ nam tự, trong đó chính Trần Thái Tông kể về sự kiện này, có đoạn như sau :
“Sáng hôm sau lên thẳng đỉnh núi, vào yết kiến Quốc sư là đại sa môn phái Trúc Lâm, Quốc sư vừa thấy trẫm thì mừng rỡ, rồi ung dung bảo rằng : ‘Lão tăng lâu ở núi hoang, xương gầy mặt võ, ăn rau đắng, nếm hạt dẻ, chơi cảnh rừng, uống nước suối, lòng như mây nổi, theo gió đến đây. Nay bệ hạ bỏ ngôi nhân chủ, tìm sự nghèo hèn nơi rừng núi, chẳng hay bệ hạ muốn cầu điều gì mà đến chốn này ?’ Trẫm nghe sư nói, rơi hai hàng nước mắt, đáp lại rằng : ‘Trẫm đương trẻ thơ, mẹ cha vội mất, trơ vơ đứng trên dân chúng, không chỗ nương tựa. Lại nghĩ sự nghiệp đế vương thuở trước, hưng phế bất thường, cho nên tìm đến núi này chỉ muốn cầu làm Phật, chứ không cầu gì khác’.
Sư nói : ‘Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng. Lòng lặng mà hiểu, đó chính là chân Phật. Nay nếu bệ hạ giác ngộ tâm đó thì lập tức thành Phật, không nhọc kiếm bên ngoài’…”
Trong bài viết này vua cũng kể lại chuyện Trần Thủ Độ đem quần thần lên núi và dẫn lại lời Trần Thủ Độ “… Như thần nghĩ, bệ hạ tính kế tự tu đã vậy, nhưng còn quốc gia xã tắc thì sao ? Nếu chỉ để lời nói suông lại cho đời sau, sao bằng đem thân mình làm gương trước thiên hạ. Nhược bằng bệ hạ không nghĩ lại thì chúng thần và người trong thiên hạ xin cùng chết ngay hôm nay, lòng quyết không về nữa”.
Trần Thái Tông viết tiếp :
“Trẫm thấy Thái sư (Trần Thủ Độ) cùng các cố lão khăng khăng không chịu bỏ trẫm, liền đem lời nói ấy bày tỏ với Quốc sư. Quốc sư cầm tay trẫm nói : ‘Phàm làm bậc nhân quân thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình'...”

Thầy bói, toán học và lịch sử


"Bạn càng nhìn sâu về quá khứ bao nhiêu thì sẽ biết được tương lai bấy nhiêu"
(Winston Churchill)

Không phải ngẫu nhiên mà phần lớn những người kinh doanh buôn bán đều “mê tín”. Là vì việc áp dụng toán học vào kinh tế còn rất hạn chế, nên kinh doanh vẫn không tách rời với sự may rủi. Chuyện làm ăn còn như vậy, huống hồ là vận mệnh của một con người, vận mệnh của một đất nước. Rất khó đoán trước được chuyện gì, nhưng không phải là không có cách tương đối.

Tui rất thú vị khi đọc đoạn sau đây của ông Alan Greenspan, cựu Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ :

“Con người luôn tự mê hoặc rằng có thể đoán định được tương lai. Các vị tướng thời Hy Lạp cổ đại đã tìm đến nhà tiên tri tại Delphi để cầu xin những lời chỉ giáo trước các cuộc phiêu lưu quân sự. Nghề thầy bói cho đến nay vẫn là nghề hái ra tiền. Thị trường Phố Wall luôn sử dụng đội ngũ những cá nhân thông minh kiệt xuất để dự đoán sự lên xuống của giá cổ phiếu và trái phiếu.

Liệu chúng ta có thể dự đoán những gì sẽ xảy ra đến mức độ nào ? Tạo hóa ban cho tất cả chúng ta khả năng phán đoán các khả năng. Đó là phần thưởng giúp định hướng hành động của chúng ta, từ những điều rất đỗi bình thường đến những vấn đề giữa sự sống và cái chết. Những phán đoán trên không phải lúc nào cũng đúng, nhưng chúng có độ chính xác nhất định để giúp loài người tồn tại và sinh sôi nảy nở. Các nhà hoạch định chính sách kinh tế hiện đại dựa vào công thức toán học để đưa ra chính sách, nhưng con người biết dự báo các khả năng từ lâu, trước khi chúng ta phát minh ra toán học.

Rất may cho các nhà hoạch định chính sách là lịch sử họat động của các nền dân chủ và kinh tế thị trường là một dòng chảy liên tục. Điều này cho phép chúng ta tham khảo quá khứ để rút ra những nhân tố phổ biến, từ đó mở ra các cửa sổ dự báo tương lại một cách tương đối chính xác, hơn là việc tung một đồng xu. Trên thực tế, có nhiều điều chúng ta có thể rút ra về kinh tế Mỹ và kinh tế thế giới trong những thập niên tiếp theo, đặc biệt nếu chúng ta áp dụng triết lý của Winston Churchill : “Bạn càng nhìn sâu về quá khứ bao nhiêu thì sẽ càng biết được tương lai bấy nhiêu”” (Trích từ cuốn Kỷ nguyên hỗn loạn, bản dịch của NXB Trẻ, 2008).

Thứ Sáu, ngày 26 tháng 12 năm 2008

Chuyện ở Báo Thanh Niên (4)


Báo Thanh Niên ra đời năm 1986, cũng là thời điểm bắt đầu ĐỔI MỚI. Cho nên chúng tôi nói Báo Thanh Niên đồng hành cùng ĐỔI MỚI.


Trong 23 năm họat động của mình, Thanh Niên luôn ủng hộ, luôn hậu thuẫn, luôn đấu tranh thực hiện đường lối ĐỔI MỚI. Và có thể nói toàn bộ 4752 số báo Thanh Niên (tính đến hôm nay, 26-12-2008) là “hồ sơ nhân chứng” sinh động của một thời kỳ lịch sử.


Thanh Niên không hại người tốt, Thanh Niên không bao che kẻ xấu, Thanh Niên không có “phe cánh”.


Thanh Niên không họat động “ngầm”, Thanh Niên không hùa theo bất cứ “nhóm lợi ích” nào.


Thanh Niên kiên trì thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc. Với trách nhiệm và khả năng (dĩ nhiên rất có giới hạn) của mình, Thanh Niên đã cố gắng làm những gì mình có thể làm được.


Thanh Niên là tờ báo đầu tiên đấu tranh chống “chủ nghĩa lý lịch” trong học hành thi cử. Mới ra đời được 1 tuổi, vào năm 1987 Thanh Niên đã lên tiếng bảo vệ anh Nguyễn Mạnh Huy, một thanh niên thi đại học đỗ đến 3 lần, cả 3 lần đều không được nhận vào học vì “lý lịch”. Thanh Niên đã đấu tranh đến cùng, cho đến khi anh Huy được vào học Đại học, sau khi trúng tuyển lần thứ 4. Sự kiện này đã góp phần vào việc xóa bỏ những quy định về “lý lịch” trong tuyển sinh sau đó. Anh Nguyễn Mạnh Huy đã được học hành thành đạt, hiện anh làm Phó Giám đốc Xí nghiệp in Báo Thanh Niên.


Tôi vô cùng tự hào vì chính Thanh Niên đã góp phần thiết thực làm cho mọi thanh niên sinh ra đều được học hành, dù cha ông họ là ai. Lớp trẻ bây giờ nhiều người không hiểu, chứ hồi đó “chủ nghĩa lý lịch” nặng nề lắm. Nặng nề đến nỗi cho đến bây giờ tôi vẫn còn cảm thấy hào sảng khi nhớ lại câu nói nổi tiếng của ông Võ Văn Kiệt : “Thanh niên không ai chọn cửa để sinh ra”.


Và cần biết điều này. Nguyễn Công Khế sinh năm 1954. Năm đó cha ông đi tập kết sau khi tham gia kháng chiến chống Pháp. Ở nhà một mẹ một con. Mẹ ông đã chống chọi với chính sách tố cộng tàn bạo của chế độ Ngô Đình Diệm để nuôi con khôn lớn. Từ khi còn là học sinh phổ thông, Nguyễn Công Khế đã theo bước chân cha mình, tham gia chống Mỹ, cứu nước. Ông bị địch bắt và kiên cường trải qua nhiều nhà tù của chế độ cũ. Tuổi “teen” của Nguyễn Công Khế là tuổi “teen” trong lao tù.


Biết rõ chuyện đó mới thấy hết ý nghĩa của một thái độ.

Thứ Tư, ngày 24 tháng 12 năm 2008

Nếu không bắt Năm Cam lần 2, Nguyễn Công Khế có thể đã bị sát hại

Chuyện ở Báo Thanh Niên (3)

Một trong những sự kiện mang tính lịch sử của Báo Thanh Niên là cuộc đấu tranh với tập đoàn tội phạm Năm Cam. Thanh Niên là tờ báo đầu tiên phanh phui các hoạt động tội phạm này từ năm 1995, hồi đó Thanh Niên đấu tranh đơn độc, kết quả là Thanh Niên đã thất bại, Năm Cam được thả tự do để tiếp tục mở rộng tội ác. 7 năm sau, Thanh Niên lại sát cánh cùng các cơ quan bảo vệ pháp luật tiếp tục tấn công vào tập đoàn Năm Cam khi chúng đã trở nên khét tiếng với đầy đủ vây cánh cùng hàng rào bảo kê chắc chắn. Đừng ai quên rằng, nếu Năm Cam và đồng bọn không bị bắt lần thứ hai để đem ra xét xử thì rất có khả năng Nguyễn Công Khế đã bị chúng sát hại.


Bài viết sau đây của tui nói lên một phần sự cam go của Báo Thanh Niên và của Tổng Biên tập Nguyễn Công Khế xung quanh vụ án này. Bài đã đăng trên Thanh Niên Xuân 2004.

Tản mạn cuối năm về vụ Năm Cam
HOÀNG HẢI VÂN
1. Nhà báo Clare Arthurs, phóng viên hãng BBC (Anh) hỏi tôi khi viết những bài vạch trần sai phạm của các cán bộ cấp cao như Trần Mai Hạnh, Bùi Quốc Huy, Phạm Sỹ Chiến lúc những nhân vật ấy còn đương chức, Báo Thanh Niên có bị ai "làm khó dễ" không, tôi trả lời "không", không ai làm khó dễ cả. Hỏi: "Có bị ai ngăn cản không?". Trả lời: "Cũng không".
Một số đồng nghiệp khác cũng thắc mắc rằng, ông Nguyễn Công Khế có được ai "bật đèn xanh" không mà dám quyết định cho đăng những bài "động trời" như vậy, xin trả lời: "Cũng không nốt". Tuy rằng có một chuyện. Đó là bài viết về ông Trần Mai Hạnh, lẽ ra đã đăng trước đó một tuần, nhưng vì "lộ" thông tin, nên lúc báo đã lên khuôn có người gọi điện đến khuyên "dừng lại". Tổng biên tập phải tạm thời cho dừng lại, không phải vì "sợ", mà để kiểm tra vì sao thông tin bị "lộ".
Viết bài đó tôi có trích dẫn một số câu nói của ông Sáu Dân (cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt), trong đó có câu "Tôi đem chức Thủ tướng ra thế chấp...", nên tôi phải mang cho ông xem lại để tránh chuyện "tam sao thất bổn". Đó là những ngày cuối tháng 4/2002. Ông Khế bảo sẽ đăng vào một thời gian thích hợp. "Thời gian thích hợp" đó là ngày 2/5, vì trước đó là ngày lễ mừng chiến thắng 30/4 và Quốc tế Lao động.
Báo Thanh Niên làm việc "mạo hiểm" này với tất cả trách nhiệm đối với đất nước và tin tưởng vào lẽ phải. Sau khi đăng bài báo đó, chúng tôi không có ý định đăng tiếp vì bài đó cũng đã nêu đủ thông tin để các cơ quan chức năng xem xét về ông Trần Mai Hạnh. Lúc đó đang chuẩn bị bầu cử Quốc hội, ông Trần Mai Hạnh là ứng cử viên đang tiếp xúc với cử tri, nên các cơ quan chức năng không thể không có kết luận sớm. Song do ông Đỗ Khánh Toàn, Ủy viên thường vụ thường trực Hội Nhà báo kiêm Tổng biên tập Tạp chí Người làm báo mà Thanh Niên phải tiếp tục đăng những bài viết về ông Hạnh.
Là vì ông Toàn yêu cầu Thanh Niên đăng nguyên văn bản giải thích của thường trực Hội Nhà báo Việt Nam do ông ký bảo vệ ông Trần Mai Hạnh. Chúng tôi buộc phải đăng theo Luật Báo chí và tất nhiên phải tiếp tục làm rõ những luận điểm sai trái trong văn bản của thường trực Hội Nhà báo. Cũng tại thời điểm này, tôi đến phỏng vấn ông Sáu Dân và có bài Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt nói về vụ án Năm Cam đăng trên Thanh Niên chủ nhật, trong đó có đề cập chuyện của ông Trần Mai Hạnh.
Đọc bài viết đầu tiên về Trần Mai Hạnh đăng trên Thanh Niên, ông Sáu Dân bảo Báo Thanh Niên đã "phá một cái lệ". Bởi vạch trần sai phạm của một Ủy viên Trung ương Đảng trên báo chí khi cơ quan có thẩm quyền chưa chính thức có kết luận là một việc chưa từng có trước đó, mặc dù luật pháp không "cấm" làm việc này.
2. Sau bài viết về ông Trần Mai Hạnh và Phạm Sỹ Chiến, Báo Thanh Niên cũng là tờ báo đầu tiên đăng bài về sai phạm của ông Bùi Quốc Huy (Năm Huy), lúc đó là trung tướng Thứ trưởng Bộ Công an và cũng là một Ủy viên Trung ương Đảng. Bài tôi viết không dài, nhưng đăng xong nhiều người không khỏi cảm thấy "lạnh gáy". Trước đó dư luận trong và ngoài ngành công an bàn tán nhiều về việc ông Năm Huy "dính" với Hồ Việt Sử và với Năm Cam, nhiều người bức xúc đến phẫn nộ khi nhìn Năm Cam bị bắt còn Năm Huy thì được thăng trung tướng. Sau khi đọc bài báo, thượng tá Nguyễn Hữu Ngọc, người trực tiếp bắt Năm Cam hồi năm 1995 và là một trong những người hiểu rõ nhất những dây mơ rễ má xung quanh đường dây tội ác này, đã gọi điện cho tôi bảo: "Chính xác, nhưng viết ít quá". Ông Ngọc "xúi" chúng tôi viết tiếp để các cơ quan có thẩm quyền "có cơ sở hiểu thêm về ông Năm Huy", nhưng ông không cung cấp bất cứ thông tin gì. Ông Ngọc là người biết rất nhiều thông tin, nhưng ông rất "khôn", tuyệt đối không bao giờ "hé" cho báo chí biết.
Ai cũng biết Bùi Quốc Huy là một nhân vật có quyền lực rất lớn trong ngành công an. Quyết định cho đăng bài đó, Tổng biên tập phải đứng trước sự lựa chọn hết sức cam go và không thể nói là không "run tay". Trước khi đăng bài đó, ông Khế có gọi điện trao đổi với một cán bộ lãnh đạo cấp cao đang ở thành phố, người biết rất rõ những sai phạm của ông Bùi Quốc Huy. Người này khuyên ông Khế: "Với tư cách là người lãnh đạo, tôi thấy anh cho đăng bài đó là có lợi cho công việc chung, có lợi cho việc chỉnh đốn Đảng. Nhưng với tư cách là một người bạn, tôi khuyên anh phải xem xét kỹ, vì có thể sự việc này không phải ai cũng hiểu và có thông tin giống nhau, nên rất bất lợi cho anh”. Lời khuyên ấy quả là chân tình. Ông Khế nghe câu đó và quyết định cho đăng. "Có lợi cho công việc chung" thì được rồi, ông chấp nhận tất cả. Cuối năm ngoái, có người đề nghị “cắt thi đua” đối với tôi, lý do là tôi đã viết bài về Bùi Quốc Huy “làm lộ bí mật”. Nghe chuyện đó, ông Khế bực mình tuyên bố trước cơ quan: “Nếu kỷ luật Hoàng Hải Vân thì trước hết phải kỷ luật tôi, vì tôi chỉ đạo viết bài đó”. Cuối cùng thì cũng không ai kết luận Báo Thanh Niên “làm lộ bí mật”, vì sự thật không phải như vậy.
3. Ông Tư Bốn (tướng Nguyễn Việt Thành) là một trong những người đọc những bài viết về vụ Năm Cam trên Báo Thanh Niên kỹ nhất và tâm đắc nhất. Thỉnh thoảng không thấy báo đăng, ông gọi điện cho ông Nguyễn Công Khế, hỏi: "Báo các anh có thông tin gì mới không?". Những lúc đó ông Khế nói: "Ông không cung cấp thông tin thì làm gì có thông tin mới". Ông Tư Bốn cười trừ, bảo: "Không thể cung cấp được...". Thực tế là ngoại trừ những bài trả lời phỏng vấn một cách dè dặt và những thông tin được công bố trong các cuộc họp báo, ông Tư Bốn cũng như những người trong Ban chuyên án tuyệt đối không cung cấp bất cứ một thông tin gì về vụ án cho Báo Thanh Niên. Rất nhiều chuyện liên quan đến vụ án, chúng tôi phải làm những cuộc điều tra riêng, đôi khi đến hỏi ông để xác minh, ông không "gật" cũng không "lắc" mà né sang chuyện khác. Quan hệ giữa ông Nguyễn Công Khế với ông Tư Bốn là "đồng thanh tương ứng", nhưng cả hai ông đều rất có nguyên tắc. Chỉ duy nhất một chuyện ông Tư Bốn cung cấp thông tin cho chúng tôi, đó là việc Năm Cam vạch kế hoạch sát hại bản thân ông và ông Nguyễn Công Khế. Ông nói chuyện đó nhưng yêu cầu không được đăng lên báo, đăng chuyện đó lên là không có lợi, vì có thể ai đó sẽ bảo rằng sở dĩ Tư Bốn và Nguyễn Công Khế "làm mạnh" vụ này là vì hai ông có mối thâm thù cá nhân với Năm Cam. Ông bảo chuyện chúng muốn giết ông và ông Khế là chuyện nhỏ không đáng nói, chuyện chúng làm bất ổn thành phố và gây mất niềm tin của nhân dân vào chính quyền mới là chuyện lớn.
4. Khi chuẩn bị mở phiên tòa sơ thẩm, báo chí nước ngoài thông tin rất nhiều về vụ Năm Cam. Tôi được đọc một bài phỏng vấn một giáo sư người Mỹ. Trả lời câu hỏi hình như báo chí ở Việt Nam "kết tội các bị cáo trước khi các quan tòa kết tội", ông giáo sư nói, đại ý rằng báo chí Việt Nam đã sử dụng tự do báo chí và điều đó không có gì sai cả. Ông giáo sư người Mỹ công nhận Việt Nam có tự do báo chí và ông đã nhận định đúng. Luật pháp Việt Nam không coi một người là có tội khi tòa án chưa phán quyết người đó có tội bằng một bản án. Nhưng luật pháp cũng không cấm công dân tố giác tội phạm, ngược lại tố giác tội phạm là quyền và nghĩa vụ công dân. Tôi đặt ra vấn đề này là vì trong khi tòa xét xử vụ án Năm Cam, đây đó trong giới báo chí xuất hiện một luận điệu phê phán việc báo chí "kết tội" các bị cáo, họ cho rằng phải thông tin "khách quan", từ đó mới xuất hiện một số bài báo mà trong đó tiếng nói của những người bao che cho tội ác được đặt ngang với tiếng nói của những người chống lại tội ác. Báo Thanh Niên là tờ báo đầu tiên vạch trần tội ác của Năm Cam và cảnh báo về tình trạng một số quan chức trong cơ quan công quyền bảo kê cho Năm Cam. Hồi đó còn có Báo Tiền Phong. Báo chí không làm người ngoài cuộc để quan sát, mà tự đặt mình trong cuộc, đứng trong lực lượng đấu tranh chống tội phạm. Đó là thái độ nhất quán trước sau như một của chúng tôi. Và như mọi người đều biết, Năm Cam đã được bảo kê cho thoát tội. Khi Năm Cam ở trong trại cải tạo, đồng bọn Năm Cam liên tiếp đe dọa đặt bom tòa soạn Báo Thanh Niên. Thanh Niên trở thành kẻ thù của đường dây tội ác này.
5. Hồi 1995, Thanh Niên không chỉ đăng một loạt hàng chục bài về đường dây tội ác này, Ban Biên tập Báo Thanh Niên còn viết thư báo cáo với Thủ tướng Chính phủ về sự lộng hành của đường dây tội ác và những kẻ bảo kê cho chúng. Bức thư đó đã được Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc đó chuyển cho Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) với lời phê “Phải làm cho quyết liệt”. Khi Bộ Công an cho cán bộ, chiến sĩ đến bảo vệ tòa soạn, trong đó có ông Dương Minh Ngọc làm chỉ huy, ông Khế cũng đã nói với tướng Trịnh Thanh Thiệp (Phó tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát) những phân vân của mình về Dương Minh Ngọc. Khi Báo Thanh Niên đăng loạt bài đó, ông Thân Thành Huyện đã quy kết trong một cuộc họp rằng: "Báo Thanh Niên làm rối loạn tình hình của thành phố". Ở TP Hồ Chí Minh hồi đó trong cuộc chiến đấu của báo chí với tập đoàn tội ác Năm Cam, Thanh Niên có lúc đơn độc một mình. Và Năm Cam chỉ ở vài năm trong trại cải tạo rồi được trả tự do, mở rộng hoạt động tội ác, tiếp tục lộng hành.
Những người làm Báo Thanh Niên không có thù hằn với ai. Đã dấn thân vào nghề báo thì đúng phải nói đúng, sai phải nói sai, dù kẻ làm sai là bạn mình cũng phải nói. Ông Khế cũng không thù hằn cá nhân Năm Cam. Một lần gặp Năm Cam tập thể dục trong vườn Tao Đàn, Năm Cam lại bắt tay ông chào hỏi. Ông Khế đã nói một cách tử tế với Năm Cam rằng: "Anh bây giờ phải lo làm ăn đàng hoàng, nếu không coi chừng tái phạm, luật pháp không tha đâu". Năm Cam khúm núm: "Em không làm gì sai, là do cái tiếng của em nó lớn nên người ta nghĩ vậy, em vẫn làm ăn đàng hoàng". Hắn vẫn xưng "em" với ông Khế, mặc dù Năm Cam lớn tuổi hơn ông rất nhiều. Cuộc gặp này Năm Cam cũng có thuật lại với một nhà báo ở thành phố sau đó. Hắn tìm cách tranh thủ, nhưng bên trong thì rất thù ghét Thanh Niên...
6. Bây giờ nghĩ lại mọi chuyện mới thấy... hú hồn. Nếu như các ông Bùi Quốc Huy, Trần Mai Hạnh, Phạm Sỹ Chiến mà không bị xử lý kỷ luật, không bị truy tố và không bị kết án tù thì những người làm Báo Thanh Niên như chúng tôi có được yên ổn không? Chắc chắn là không rồi. "Mỗi buổi sáng coi báo, đọc những bài viết về mấy ông đó, tôi vừa đọc vừa run...", đó là lời một người thân của một phóng viên Báo Thanh Niên nói với tôi.
Còn tôi, không chỉ một lần nghe ông Khế nói câu này: "Cho đăng đi, không có cách nào khác, không thể chấp nhận việc đứng về phía tội ác, không thể làm ngơ trước chuyện hại nước, hại dân được, nếu cần tôi sẵn sàng nghỉ làm Tổng biên tập, chấp nhận về nhà...". Và các phóng viên, biên tập viên, họa sĩ trình bày và nhân viên kỹ thuật của tòa soạn khi nghe những lời đó của Tổng biên tập, bỗng thấy nghề báo là nghề có lý tưởng, là nghề rất có tương lai... Làm tòa soạn tôi biết, mối quan tâm lớn nhất của ông Khế không phải là những chuyện "vụ án", ông quan tâm nhiều nhất đến những vấn đề kinh tế, đến thanh niên tình nguyện, đến giáo dục, đến thể thao, đến văn nghệ... Vì vậy mới có giải U.21 Báo Thanh Niên, vì vậy mới có Duyên dáng Việt Nam vừa tôn vinh nghệ thuật vừa tạo quỹ học bổng cho học sinh, sinh viên. Ông không thích chuyện đấu đá, nhưng nếu cần ông chấp nhận tất cả để bảo vệ lẽ phải. Lúc đó nhiều phóng viên báo chí nước ngoài, trong đó có chị Margo Cohen của Tạp chí Kinh tế Viễn Đông, vì câu chuyện đang sốt dẻo, đã gặp Ban Quốc tế Trung ương Đoàn để đề nghị trực tiếp gặp ông Khế nhưng ông không tiếp xúc. Sau đó, phóng viên này viết một bài trên Kinh tế Viễn Đông nói một ý rất hay ví von rằng Năm Cam đã rủi ro gặp hai “khắc tinh” đó là Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Minh Triết và tướng Nguyễn Việt Thành - hai nhân vật rất kiên quyết trong chống tội phạm có tổ chức của thế giới ngầm. Và đến khi cần thiết, ông Khế cũng phải lên tiếng. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn hãng BBC, phóng viên hỏi: "Khi Thanh Niên đăng bài phê phán sai phạm của các quan chức, khi các quan chức đó bị đưa ra tòa, điều này có làm tổn hại đến chính quyền không?". Ông Khế trả lời: "Điều đó không phải là tổn hại, mà là một thắng lợi của chế độ, bởi khi anh mổ các khối u trong người mình ra thì cơ thể mới phục hồi và cường tráng, hơn là để mầm bệnh nguy hiểm ủ trong người. Chỉ có một chính quyền mạnh và vì dân mới làm được việc đó. Đó là một thắng lợi chứ không thể coi là tổn thất”.
Báo Thanh Niên đã không những không gặp nguy hiểm mà còn được khích lệ. Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương Trương Vĩnh Trọng, các vị lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh, các ban Đảng và lãnh đạo Bộ Công an đã nhiều lần động viên, chia sẻ, bày tỏ sự cảm thông với tập thể Báo Thanh Niên. Vừa rồi, trong cuộc họp tổng kết vụ án Năm Cam của các cơ quan chức năng, ông Trương Vĩnh Trọng, ông Vũ Quốc Hùng (Phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng) cùng lãnh đạo nhiều ban, ngành đã nhắc đến vai trò của báo chí, đặc biệt là Báo Thanh Niên đã dày công, đóng góp vào thắng lợi của vụ án. Tại cuộc họp, tướng Lê Thế Tiệm (Thứ trưởng Bộ Công an) - người chỉ đạo kiên quyết vụ án từ đầu - còn nói, kết thúc vụ án này, hòa vào niềm vui của mọi người, có lẽ Báo Thanh Niên là một trong những tập thể vui nhất.
Nhưng kết thúc phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ Năm Cam, ông Khế không vui. Triệt hạ một đường dây tội ác là niềm vui lớn, nhưng không ai vui khi nhìn người khác vào tù. Trong những quan chức bị kết án tù, có người từng là bạn ông. Chính ông Khế đã nhờ ông Tư Bốn giúp cho một người lãnh đạo Báo Nhà báo & Công luận vào trại giam thăm và gửi tiền cho ông Trần Mai Hạnh ngay sau phiên phúc thẩm kết thúc. Sau phiên tòa, thấy nhiều người bị kết án tử hình, nhiều người bị kết án tù, những phóng viên chúng tôi cũng buồn nhưng thấy yên ổn, bởi một khối u rất lớn trên cơ thể đất nước đã bị loại bỏ.

H.H.V
(Bài đăng trên Thanh Niên Xuân 2004)

Thứ Ba, ngày 23 tháng 12 năm 2008

Chuyện ở Báo Thanh Niên (2)

2.

Tui có thể lấy mạng sống của mình ra đặt cược để nói rằng :

- Chuyện tham nhũng, chuyện lèm nhèm về tài chính có ở nhiều nơi, nhưng ở báo Thanh Niên thì không bao giờ. Tất cả các cuộc kiểm toán, tất cả các cuộc thanh tra tài chính đều kết luận : Báo Thanh Niên minh bạch. Tổng Biên tập nói : “Tài chính ở Báo Thanh Niên không có dưới gầm bàn, tất cả đều phải đặt trên mặt bàn”. Lời đó không chỉ nói công khai trong các cuộc họp mà nói cả trong những cuộc làm việc riêng kín đáo nhất của Tổng Biên tập với các Phó Tổng Biên tập và phòng tài vụ. Thanh Niên có xây dựng nhà cửa, Thanh Niên có mua sắm thiết bị, nhưng Thanh Niên không nhận hoa hồng, không nhận “lại quả” cho cá nhân. Những “tỷ lệ phần trăm” là xa lạ với Báo Thanh Niên.

- Chuyện hối lộ có ở nhiều nơi, nhưng ở báo Thanh Niên thì không bao giờ. Tất cả cán bộ, phóng viên, biên tập viên, nhân viên báo Thanh Niên khi vào báo đều không mất một xu quà cáp cho bất kỳ ai. Tổng Biên tập thường tặng quà cho cấp dưới (tất nhiên bằng thu nhập hợp pháp từ lao động của mình) chứ không có chuyện cấp dưới “quà cáp” cho Tổng Biên tập hoặc Ban Biên tập.

- Cán bộ, nhân viên Báo Thanh Niên nộp thuế thu nhập cá nhân nghiêm chỉnh nhất. Không có một đồng thu nhập nào không phải là thu nhập chịu thuế.

Chuyện ở Báo Thanh Niên (1)

1.
Ngày 3-1-2009 tới đây báo Thanh Niên tròn 23 tuổi. Ông Nguyễn Công Khế trong thời gian đầu tuy chưa phải là Tổng Biên tập nhưng thực tế là người sáng lập ra tờ báo. Ông Khế đã dành 23 năm sung sức nhất của cuộc đời cho sự phát triển của tờ báo, từ một tờ tin ra hàng tuần đến nay trở thành tờ nhật báo có số lượng phát hành hàng đầu cả nước. Thanh Niên đã ra đời và phát triển từ hai bàn tay trắng, không được cấp tiền, không được bù lỗ. Thanh Niên chỉ nộp tiền cho ngân sách, chưa bao giờ có điều ngược lại.

23 năm ấy biết bao nhiêu tình. Tui sẽ lần lượt ghi ra đây những gì mà tui biết, những gì tui đã “cùng ăn cùng ở cùng làm” tại tờ báo mà tui yêu mến, nhânn dịp kỷ niệm đặc biệt Thanh Niên 23 tuổi này.

Có một hôm, khi chuẩn bị đến thăm một người bạn, một cán bộ lấy tờ báo Thanh Niên làm giấy gói quà giúp ông Khế. Ông Khế nhẹ nhàng bảo : “Lấy giấy khác mà gói đi, trong đời tôi không bao giờ dùng báo Thanh Niên làm giấy gói bất cứ thứ gì”. Tôi biết Tổng Biên tập Nguyễn Công Khế không tham quyền cố vị, kẻ tham quyền cố vị không thể làm cho tờ báo có uy tín trong lòng bạn đọc. Nhưng đối với Nguyễn Công Khế, Thanh Niên là máu mủ.

Thứ Tư, ngày 17 tháng 12 năm 2008

Tản mạn về lịch sử (5) : Hai quan niệm về Phật giáo

Đại Việt sử ký toàn thư một mặt nêu bật công lao của Thái tổ Lý Công Uẩn đối với việc trung hưng đất nước, đồng thời cũng phê phán ông khá nặng nề về việc quá lãng phí trong xây dựng chùa chiền :

“Lê Văn Hưu nói: Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho làm tăng hơn nghìn người ở Kinh sư, thế thì tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể. Của không phải là trời mưa xuống, sức không phải là thần làm thay, há chẳng phải là vét máu mỡ của dân ư? Vét máu mỡ của dân có thể gọi là làm việc phúc chăng? Bậc vua sáng nghiệp, tự mình cần kiệm, còn lo cho con cháu xa xỉ lười biếng, thế mà Thái Tổ để phép lại như thế, chả trách đời sau xây tháp cao ngất trời, dựng cột chùa đá, điện thờ Phật, lộng lẫy hơn cung vua. Rồi người dưới bắt chước, có kẻ hủy thân thể, đổi lối mặc, bỏ sản nghiệp, trốn thân thích, dân chúng quá nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng chùa chiền, nguồn gốc há chẳng phải từ đấy ?”.

Nhận định về đoạn trên của sử thần Lê Văn Hưu, thiền sư Lê Mạnh Thát cho rằng không thể nói là Lê Văn Hưu đứng trên quan điểm Nho giáo để phê phán Phật giáo. Bởi vì Lê Văn Hưu viết bộ Đại Việt sử ký (sau này được nhập chung trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư) là theo lệnh của vua Trần Thánh Tông, vốn là một Phật tử.

Thật ra Lê Văn Hưu, cũng như các Phật tử thời Trần, kể cả các vua Trần, đã chịu ảnh hưởng sâu đậm quan niệm thiền của Lý Cao, một thiền sư của Trung Quốc (772-814). Là một Phật tử, nhưng ông Lý Cao này từng lên án việc làm chùa to đúc Phật lớn và quá trọng vọng tăng nhân : “Những môn đồ đạo Phật không chăn tằm mà quần áo đầy đủ, không cày bừa mà ăn uống sung túc, ngồi rỗi mà kẻ phục dịch có đến mấy nghìn trăm vạn người. Suy ra đủ biết tất có bao nhiêu người đói rét”. Còn việc dựng chùa đúc Phật, ông cho rằng “Đó há chẳng phải đều lấy từ nhân tài vật lực của trăm họ mà ra sao ?” (dẫn theo Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 3 và Trần Nhân tông toàn tập).

Khác với thời Lý phô trương chùa chiền sư sãi, các Phật tử thời Trần, đặc biệt là Trần Nhân Tông, mà chúng ta gọi là “Phật hoàng”, đã coi Phật giáo chỉ là "con đường", không phải là mục đích tự thân. Thiền sư Lê Mạnh Thát đã viết về quan niệm Phật giáo của Trần Nhân Tông như sau : “Phật giáo là gì, nếu không phải đó là một quá trình đi tìm chân lý. Mà chân lý thì không nằm trong Phật giáo, mà nằm chính ngay ở giữa lòng cuộc sống. Nói một cách hình ảnh như trong kinh Kim Cương, mà Phật giáo đời Trần coi như một bộ kinh cơ bản, thì giáo lý Phật giáo như ngón tay chỉ mặt trăng, như chiếc bè đưa người sang sông. Cho nên, ngay cả giáo lý Phật cũng phải buông bỏ, mới có thể giác ngộ được”.

Thứ Ba, ngày 16 tháng 12 năm 2008

Tản mạn về lịch sử (4) : Văn minh chính trị


Ông bên trong thì sáng suốt khoan hòa, bên ngoài thì nhân từ giản dị. Cải tiến phong tục không sợ khó nhọc. Làm việc thì tiết kiệm, sai bảo dân thì ôn hòa, cho nên dân được nhờ cậy. Ông khoan hòa giúp đỡ dân chúng, cho nên được dân kính trọng. Ông dùng oai vũ để diệt quân giặc. Ông đem lòng minh chính để giải quyết ngục tụng, cho nên ngục không quá lạm. Ông biết miếng ăn là trời của muôn dân, nghề nông là gốc của nhà nước, cho nên không làm lỡ thời vụ. Ông tài giỏi mà không khoe khoang, nuôi dưỡng đến cả người già ở nơi thôn dã, cho nên người già được yên ổn. Phép tắc của ông như thế, có thể gọi là cái gốc trị dân, cái thuật yên dân, có bao nhiêu điều tốt đều ở đấy cả”.


Trên đây là bản dịch một đoạn của Đại sư Pháp Bảo Hải Chiếu viết về Lý Thường Kiệt, khắc trên văn bia chùa Linh Xứng, dựng năm 1126. Đây là một trong 4 tấm bia do giáo sư Hoàng Xuân Hãn phát hiện năm 1943, khi ông đi lánh nạn ở Thanh Hóa do máy bay Pháp oanh tạc Hà Nội.


Lời của một nhà sư nói về một “chính khách” được khắc trên bia đá cách đây gần 1000 năm mà vẫn mang tính thời sự. Nó nhắc nhở hậu thế rằng, tổ tiên ta đã từng có một nền “văn minh chính trị” đến cỡ đó.


Cần biết, sử sách viết về Lý Thường Kiệt rất sơ sài. Lý Thường Kiệt như chúng ta biết ngày nay, là do công của giáo sư Hoàng Xuân Hãn. Từ những ghi chép sơ sài trong sử sách Việt Nam, ông đã lục tìm rất nhiều tài liệu của Trung Quốc (Tống sử và thư tịch cổ khác), đặc biệt là tài liệu được ghi trong các văn bia cổ do chính ông phát hiện, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã dựng lại chân dung nhân vật lịch sử này trong cuốn sách Lý Thường Kiệt, xuất bản lần đầu hình như vào năm 1949. Những nghiên cứu, sách vở viết về Lý Thường Kiệt sau này đều dựa vào cuốn sách của giáo sư Hoàng Xuân Hãn.

Thứ Ba, ngày 09 tháng 12 năm 2008

Tản mạn về lịch sử (3) : đổi mới tư duy


Một vệt son về đổi mới tư duy

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1392, Hồ Qúy Quý Ly soạn sách Minh Đạo gồm 14 thiên dâng lên vua. Cuốn sách phê phán Khổng Tử nhiều lỗi về tư cách, hạ vai trò Khổng Tử xuống hàng “tiên sư”, cho Chu Công mới là “tiên thánh”, đề nghị “đặt tượng Chu Công ở chính giữa nhìn về phương nam”, còn Khổng Tử thì “đặt ở phía bên, nhìn về phương tây”. Đồng thời ông đặt lại nhiều vấn đề về tư tưởng Khổng giáo, ông coi Hàn Dũ, một danh nho thời Đường, là “đạo nho” (một nhà nho ăn trộm tư tưởng); đặc biệt ông bài bác kịch liệt hệ tư tưởng Tống Nho, coi các danh gia được người đời trọng vọng như Chu Mậu Thúc, Trình Di, Dương Thi, La Trọng Tố, Lý Diên Bình, Chu Tử là những người “tuy học rộng nhưng ít tài, không sát với sự việc, chỉ thạo cóp nhặt văn chương của người xưa”.

Hồi nhỏ tui được ông nội dạy vỡ lòng chữ Hán (mà ông gọi là chữ Nho). Một hôm ông bảo tui dịch đoạn “Tử viết : vi thiện giả thiên báo chi dĩ phúc, vi bất thiện giả thiên báo chi dĩ họa”, tui vừa mới nói “Khổng tử nói rằng…”, lập tức ông đập bàn giận dữ quát : “Đồ mất dạy! Phải dịch là Đức Thánh dạy rằng..., chứ sao lại ăn nói vô lễ như vậy đối với thánh hiền”. Đó là chuyện mới đây, huống hồ chuyện đã xảy ra cách đây hơn 6 thế kỷ, mà chuyện đó không chỉ là tên gọi. Cho nên không ai lạ gì khi đọc đoạn nhận xét sau đây trong Đại Việt sử ký toàn thư về cuốn sách nói trên của Hồ Qúy Ly :

“Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Đạo của tiên thánh nếu không có Khổng Tử thì không ai phát huy được; hậu thánh sinh ra, nếu không có Khổng Tử thì không còn ai làm khuôn phép nữa. Từ khi có sinh dân đến nay, chưa có ai nổi tiếng hơn Khổng Tử, thế mà Quý Ly lại dám khinh suất bàn về ngài thì thực là không biết lượng sức mình”.

Cuốn sách của Hồ Qúy Ly như một quả đấm giáng vào thành trì bảo thủ trì trệ của Khổng giáo. Đó là quả đấm đầu tiên dũng cảm phi thường, nhưng hậu quả là Hồ Qúy Ly thân bại danh liệt, bị sử sách chê bai dè bĩu.

Ngày nay, cuốn sách (rất tiếc đã bị thất truyền) của Hồ Qúy Ly là một vệt son sáng chói về đổi mới tư duy trong lịch sử.

Thứ Sáu, ngày 05 tháng 12 năm 2008

Tản mạn về lịch sử (2) : súng đạn


Súng đạn nước ta từng ở trình độ nào ?


Hồ Nguyên Trừng (1374-1446), là con trai cả của Hồ Quý Ly. Thời nhà Hồ ông làm Tả tướng quốc, tước đại vương, được vua giao quyền chỉ huy quân đội. Vào thế kỷ 15, súng đạn do ông chế tạo là nhất thiên hạ.


Trước hết xin nói qua về Hồ Qúy Ly, nhà cải cách vĩ đại trong lịch sử.


Về chính trị, ông xây dựng chính quyền tập trung và thực hiện pháp trị.


Về tư tưởng văn hóa, ông phê phán hệ tư tưởng Tống Nho hủ lậu, đề cao văn hóa dân tộc, dùng chữ Nôm vào các văn bản hành chính thay cho chữ Hán; đối với tăng nhân, ông bắt những người dưới 50 tuổi phải hoàn tục, những người trên 50 tuổi phải qua sát hạch, nếu đạt yêu cầu mới tiếp tục tu hành, không đạt thì bị sa thải.


Về giáo dục, ông bỏ lối học tầm chương trích cú, đưa kiến thức thực hành, toán pháp và chữ Nôm vào chương trình học hành thi cử nhằm đào tạo ra những nhân tài hữu dụng.


Về kinh tế, ông tước bỏ đặc quyền đặc lợi của giới qúy tộc bằng chính sách hạn điền, hạn nô; thống nhất hệ thống đo lường trong cả nước; vừa chia lại ruộng đất vừa tiến hành khai khẩn đất hoang, mở rộng giao thông, phát triển các công trình thủy lợi, thực hiện công bằng về thuế khóa; đặc biệt, ông là ông vua đầu tiên cho phát hành tiền giấy để thúc đẩy lưu thông hàng hóa.


Về quốc phòng, ông xây dựng các tuyến phòng thủ kiên cố, xây dựng quân đội chính quy thường trực tinh nhuệ, với trang bị vũ khí hiện đại; có thể nói không ngoa rằng vũ khí của quân đội nhà Hồ là vũ khí hiện đại nhất thế giới lúc bấy giờ.


Không thể nói cuộc cải cách của Hồ Qúy Ly thất bại. Chỉ là do nhà Hồ không đương đầu nổi với một kẻ thù hùng mạnh lấy thịt đè người là nhà Minh của Trung Quốc lúc bấy giờ, nên mất nước. Cả nhà Hồ Qúy Ly bị bắt đi tha hương. Nói nước mất là do trách nhiệm của Hồ Qúy Ly là không công bằng. Trách nhiệm còn của cả dân tộc này nữa.


Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mất nước được các sử gia đề cập là nhà Hồ không được lòng dân. Nhưng vì lẽ gì mà ông không được lòng dân ? Nói như Nguyễn Trãi “Nhà Hồ chính sự phiền hà” là không đúng. Có phải Hồ Qúy Ly không được lòng dân là do ông bất trung bất chính trong việc cướp ngôi nhà Trần không ? Thay một triều đại rệu rã thối nát bằng một triều đại tích cực lành mạnh thì có bất trung bất chính không ? Các bậc hủ nho bảo rằng có, các sử gia cũng bảo rằng có, còn dân chúng thì sao ? Dân chúng thời nào cũng vậy, không tự mình theo ai hay không theo ai. Phải có “truyền thông”, phải có người lãnh đạo ở trong dân chúng, gần dân chúng, nói như bây giờ là “lãnh đạo từ cơ sở”. Hồi đó không có phương tiện truyền thông, nên những người này kiêm luôn chức năng truyền thông. Những người này là ai ? Đó là những người có học, mà gười có học thời đó là các nhà nho. Hệ tư tưởng Tống Nho đã bén rễ bền gốc trong xã hội thông qua những nhà nho này. Họ lạc hậu rất xa so với Hồ Qúy Ly.


Những tư tưởng cải cách của Hồ Qúy Ly không những chưa đủ thời gian và chưa đủ tạo ra kết quả để làm thay đổi não trạng của họ mà còn gây sốc cho họ. Bởi vậy mà Hồ Qúy Ly đã không thể tiến hành được cuộc chiến tranh nhân dân chống ngoại xâm như nhà Tiền Lê, như nhà Lý, như nhà Trần đã làm thành công trước đó. Tư duy, tầm vóc của Hồ Qúy Ly vượt xa tư duy, tầm vóc của dân tộc. Dân tộc không theo kịp ông nên quay lưng lại với ông. Thực ra Hồ Qúy Ly không phải là không hiểu “lòng dân”, thực chất là não trạng “ngu trung” của đám hủ nho, nên ông cũng đã có một vài động tác đối phó, như việc không nhường ngôi cho người con trưởng có trí tuệ kiệt xuất là Hồ Nguyên Trừng mà nhường ngôi cho con thứ Hồ Hán Thương, là cháu ngoại của vua Trần Minh Tông, nhưng những động tác kiểu này không mấy thuyết phục. Con qủy sứ Minh Thành Tổ, đã khôn khéo lợi dụng đúng thời cơ, giương ngọn cờ “phản Hồ phục Trần” thôn tính gọn nước ta.


Có lẽ Hồ Nguyên Trừng hiểu hơn ai hết tình thế hiểm nghèo của triều đình nên khi tiến hành cuộc kháng chiến quyết liệt chống quân Minh, ông đã đau xót nói với Hồ Qúy Ly : “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi”. Đó là bi kịch của những người đi trước thời đại và do những người đi trước thời đại này lại gắn liền với vận nước nên bi kịch đó trở thành bi kịch của lịch sử.


Bị bắt sang Trung Quốc, số phận của Hồ Qúy Ly coi như kết thúc. Nhưng Hồ Nguyên Trừng thì khác. Lê Qúy Đôn viết trong “Vân Đài loại ngữ” : “Quân Minh khi làm lễ tế súng đều phải tế Trừng”. Vì sao vậy ? Vì sau khi bị bắt đưa về Trung Quốc, Hồ Nguyên Trừng đã được triều đình nhà Minh trọng dụng, ban đầu ông được bổ nhiệm chức Thị lang Bộ Công (tương đương thứ trưởng ngày nay), phụ trách việc chế tạo vũ khí, sau được thăng làm Thuợng thư Bộ Công (tương đương Bộ trưởng ngày nay). Từ những sử liệu của Trung Quốc, ta biết rằng vũ khí của quân đội nhà Hồ thời bấy giờ hiện đại vượt xa nhà Minh. Và đối chiếu với trình độ về công nghệ vũ khí của phương Tây thời đó, khi việc chế tạo đại bác mới manh nha trong ý tưởng, có thể nói là vũ khí của quân đội nước ta thời nhà Hồ ở trình độ cao nhất thế giới. Do vậy mà Hồ Nguyên Trừng mới được, nói đúng hơn là bị ép, làm đến chức “Bộ trưởng Công nghiệp” của một cường quốc lớn nhất trong thiên hạ.


Sau đây là một đoạn trong bài “Công nghệ quân sự Trung Quốc và Đại Việt” đăng trên website của BBC ngày 11-2-2004 dẫn lại bài viết “Chinese Military Technology and Dai Viet: c. 1390-1497.” của giáo sư Sun Laichen, đại học bang California, Fullerton :


“Trong bộ Minh Sử, hoàn thành năm 1739, có một đoạn văn nổi tiếng: “Đến thời Minh Thành Tổ, Giao Chỉ được bình định, kỹ thuật làm súng được học, một tiểu đoàn hỏa khí được đặc biệt thành lập để rèn luyện vũ khí.” Đoạn văn đã khiến nhiều người sau này tin rằng người Trung Quốc, sau khi xâm lăng Đại Việt năm 1406, đã học công nghệ hỏa khí từ người Việt. Theo tác giả Sun Laichen, vấn đề thực sự là Trung Quốc đã học thêm một số kỹ thuật mới, chứ không phải công nghệ thuốc súng, từ Đại Việt. Bộ Minh Sử có vẻ lấy thông tin từ quyển sách của Shen Defu. Theo Shen: “Triều đại chúng ta sử dụng hỏa khí để đánh rợ phương bắc, và hỏa khí này là vũ khí tốt nhất từ trước đến nay. Tuy nhiên, những kỹ thuật bản địa chỉ thu được khi Minh Thành Tổ bình định Giao Chỉ. Triều ta đã dùng viên tướng quốc Nguyên Trừng làm việc tại Công Bộ, phụ trách việc sản xuất các vũ khí của người Việt, và mọi kỹ thuật đều đã được nắm bắt.”…”.


Và đây là một đoạn trích từ bài Hồ Nguyên Trừng ((1374-1446) đăng trên website dongtac.net ngày 28-4-2007 với những tài liệu trích dẫn có thể kiểm chứng được :


“Trương Tú Dân, một nhà sử học Tàu chuyên nghiên cứu về Việt Nam đã viết về Hồ Nguyên Trừng trong Minh Đại Giao Chỉ Nhân Tại Trung Quốc Chi Cống Hiến (Sự đóng góp cho Trung Quốc của người Giao Chỉ đời Minh), Minh Sử Luận Tùng, Đài Bắc 1992. Theo Trương thì Minh sử chép trong cuộc bình Giao Chỉ, nhà Minh đã bắt được súng thần, pháo thần của Giao Chỉ, được coi là loại vũ khí nhất thiên hạ mà Trung Quốc chưa từng có. Vì thế nên Minh Thành Tổ đã cho Hồ Nguyên Trừng làm quan đến chức Thượng Thư bộ Công. Vũ khí của Hồ Nguyên Trừng được mô tả "Súng thần cơ có được gần đây, dùng sắt làm tên, bắn đi bằng lửa, đi xa ngoài trăm bước, nhanh chóng kỳ diệu như thần, nghe thấy tiếng là lửa đã đến. Thời Vĩnh Lạc (1403-1424) khi bình Giao Chỉ, thứ mà người Giao Chỉ chế tạo càng tinh xảo""Súng Giao Chỉ là nhất thiên hạ". Cách chế tạo vũ khí được mô tả "Dùng đồng đỏ ở mức độ giữa sống và chín, nếu dùng sắt thì sắt xây dựng mềm hơn, sắt tây kém hơn. To nhỏ khác nhau, thứ lớn dùng xe, thứ nhỏ dùng giá, dùng bệ, vác vai. Thứ lớn lợi cho phòng thủ, thứ nhỏ lợi cho chiến đấu, tuỳ nghi mà sử dụng, là thứ vũ khí chủ yếu khi hành quân". Nhà Minh dùng súng Giao Chỉ khi đánh với Mông Cổ, sử Tàu ghi "Khi Thành Tổ thân chinh Mạc Bắc [Mông Cổ] dùng súng thần An Nam vừa bắt được, kẻ địch một người tiến lên, lại hai người nữa chết theo, đều trúng súng (đạn) mà chết". Trận đồ kỷ yếu do Tào Phi vẽ đời Thiên Khải (1621-1627) có ghi chú "Đây là thứ lấy được khi bình An Nam, dưới tiễn có lẫy gỗ, và đặt các thứ đạn chì, chỗ kỳ diệu là dùng gỗ thiết mộc, nặng mà mạnh, một phát đi xa ba trăm bước. Hình dạng giống tiễn, không giống súng, nên là một loại hoả tiễn của Giao Chỉ". Minh sử còn chép "Trừng [Hồ Nguyên Trừng ] dâng cách chế tạo súng thần", "Trừng chuyên đôn đốc chế tạo súng, tiễn, thuốc súng", "Trừng chuyên quản hoả khí, quân khí", triều Minh "dùng hoả khí chống địch là loại chiến cụ hàng đầu xưa nay mà sự nhẹ nhàng thần diệu của nó thực là mới lấy được khi Văn Hoàng đế bình Giao Chỉ, tức dùng Lê Trừng, con vua nước Việt, tướng quốc nguỵ làm quan bộ Công chuyên trách đôn đốc chế tạo, truyền hết tài năng", "từ khi có thứ binh khí đó, Trung Quốc đắc chí được với Tứ Di thường dựa vào thứ đó", "đánh thắng địch là dựa vào súng thần, phép lấy được thời Vĩnh Lạc, Tuyên Đức (1426-1435), thứ mà kẻ địch sợ nhất”…”.


Rõ ràng Hồ Nguyên Trừng là một thiên tài về kỹ thuật quân sự vượt xa thời đại. Lịch sử có thể có những đánh giá khác nhau về nhân cách của ông trước sự ngặt nghèo của hoàn cảnh, nhưng điều sử sách có thể ghi nhận là lòng ông luôn hướng về cố quốc, thể hiện trong tác phẩm “Nam Ông mộng lục” còn để lại đến ngày nay, trong đó ông dành nhiều thiên để nói về ông vua anh hùng Trần Nhân Tông. Trong bài tựa cuốn sách này, Hồ Nguyên Trừng viết :


Sách Luận ngữ từng nói: "Trong cái xóm mười nhà, thế nào cũng có người trung tín như Khâu này vậy", huống hồ nhân vật cõi Nam Giao từ xưa đã đông đúc, lẽ nào vì nơi hẻo lánh mà vội cho là không có nhân tài! Trong lời nói, việc làm, trong tài năng của người xưa có nhiều điều khả thủ, chỉ vì qua cơn binh lửa, sách vở cháy sạch, thành ra những điều đó bị mất mát cả, không còn được ai nghe, há chẳng đáng tiếc lắm sao? Nghĩ tới điểm này, tôi thường tìm ghi những việc cũ, nhưng thấy mất mát gần hết, trong trăm phần chỉ còn một hai bèn góp lại thành một tập sách đặt tên là Nam Ông mộng lục, phòng khi có người đọc tới! Một là để biểu dương các mẫu việc thiện của người xưa, hai là để cung cấp điều mới lạ cho người quân tử, tuy đóng khung trong vòng chuyện vặt, nhưng cũng là để góp vui cho những chuyện vui.


"Có kẻ hỏi tôi rằng: "Những người ông chép đều là người thiện, vậy thì trong các truyện bình sinh ông nghe thấy, lại chẳng có truyện nào bất thiện ư?" Tôi trả lời họ rằng: "Chuyện thiện tôi rất mê nghe, nên có thể nhớ được, còn chuyện bất thiện thì không phải là không có, chẳng qua tôi không nhớ đấy thôi". Họ lại hỏi: "Sách lấy tên là mộng, ý nghĩa ở chỗ nào?" Tôi trả lời: "Nhân vật trong sách, xưa kia rất phong phú, chỉ vì đời thay đổi, dấu tích hầu như không để lại, thành ra còn mỗi một mình tôi biết chuyện và kể lại mà thôi, thế không phải mộng là gì? Các bậc đại nhân quân tử có thấu cho chăng? ..." (trích lại từ dongtac.net)

Thứ Ba, ngày 02 tháng 12 năm 2008

Tản mạn về lịch sử (1)


Thời nhà Lý, Phật giáo là quốc giáo, giới tăng đồ rất được trọng vọng. Vì được trọng vọng quá mức nên đâm hư.


Năm Mậu Ngọ Thiên Tư Gia Thụy thứ 13 (1198), Đàm Dĩ Mông nói với vua rằng : ‘Ngày nay tăng đồ so với dịch phu chiếm một nửa. Chúng tự kết bạn bè, lập bậy thầy trò, tụ nhóm đàn lũ làm nhiều việc ô uế. Hoặc ở nơi giới trường tinh xá mà ngang nhiên rượu thịt. Hoặc ở thiền phòng tịnh viện mà riêng tự gian dâm. Ngày ẩn tối ra, giống như cáo chuột. Chúng làm bại tục thương giáo, dần dần thành thói. Nếu mà không cấm, thì lâu càng lắm’. Vua đồng ý với lời tâu. Dĩ Mông triệu tập tăng đồ trong nước, giữ lại ở kho thóc, độ cho vài chục người có tiếng tăm làm tăng, số còn lại đều in dấu vào tay, bắt hoàn tục”.

Đoạn trên đây được ghi trong Đại Việt sử lược (cuốn sử cổ nhất còn lưu truyền). Tuy nhiên trong Đại Việt sử ký toàn thư, toàn bộ sự kiện trên chỉ được ghi bằng một câu sơ lược “mùa xuân tháng giêng vua xuống chiếu sa thải tăng đồ theo lời của Đàm Dĩ Mông”.

Bình luận về chuyện này, thiền sư Lê Mạnh Thát cho rằng, có lẽ do Lê Văn Hưu với tư cách là một Phật tử, đã cảm thấy bị xúc phạm khi đọc lời tấu của Đàm Dĩ Mông, do vậy mà ông đã không lưu lại nguyên văn lời tấu đó trong Đại Việt sử ký. Từ đó mà Ngô Sĩ Liên, có lẽ quan điểm về Phật giáo cũng giống như Lê Văn Hưu, đã lướt qua luôn lời tấu này trong Đại Việt sử ký toàn thư.

Đàm Dĩ Mông, làm chức Thái phó dưới triều Lý Cao Tông, là người đầu tiên trong lịch sử nước ta đề nghị sa thải tăng đồ.

Nhân thân cái ông Đàm Dĩ Mông này cũng có lắm chuyện, song theo thiền sư Lê Mạnh Thát “lời tâu của Đàm Dĩ Mông không phải là không xác minh được qua lời nói của một loạt các vị thiền sư đồng thời với Mông”.

Điều thú vị là thiền sư Lê Mạnh Thát, đương nhiên cũng là một Phật tử, đã nhắc lại lời tấu nói trên của Đàm Dĩ Mông ít nhất là hai lần trong 2 tác phẩm : “Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 3” và “Trần Thái Tông toàn tập”.