Thứ ba, ngày 21 tháng tư năm 2009

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (4)

(tiếp theo)


Thế kỷ 20 là thế kỷ bùng nhùng giữa rối ren chết chóc và sự thịnh vượng. Nhân loại vẫn chưa biết chắc những gì là phù du cần gác lại phía sau và những gì cần làm hành trang đi tới.


Nếu không bị những thiên kiến làm mờ mắt, người ta vẫn cảm nhận được “bàn tay vô hình” của Adam Smith luồn lách trong mớ bòng bong rối rắm của lịch sử. Dưới góc độ nào cũng có thể thấy, chỉ có laissez-faire mới làm nên thịnh vượng.


Sau Đại chiến 2, học thuyết Keynes chính thức được áp dụng tại Hoa Kỳ và Anh Quốc. Tại Anh, Công Đảng cầm quyền đưa Clement Attlee lên làm Thủ tướng, thực hiện “kế hoạch hóa” nền kinh tế, quốc hữu hóa hầu hết những ngành kinh tế then chốt. Những “Tổng Công ty Nhà nước” lớn ra đời, nói theo ngôn ngữ của chúng ta ngày nay thì nó cũng “đóng vai trò chủ đạo” trong nền kinh tế. Những tập đoàn quốc doanh này không những chỉ có Than, Điện lực, Luyện kim, Dầu khí, Viễn thông… mà còn có cả các ngành phục vụ công cộng, chẳng hạn như hãng BBC (vẫn là hãng quốc doanh cho đến bây giờ). Thất nghiệp chấm dứt (cuối những năm 1940 chỉ còn 1,3% so với 12% những năm 1930), y tế, giáo dục, hưu trí… được Nhà nước bảo đảm. Trong những năm khó khăn, lương thực và hàng tiêu dùng thiết yếu thực hiện theo chế độ phân phối, ngay cả hoàng gia Anh cũng có “sổ gạo” cho đến đầu những năm 1950. “Nhà nước phúc lợi” đầu tiên ra đời ở Anh sau đó được áp dụng phổ biến ở châu Âu.


Sau chiến tranh, trong các nước đồng minh, Mỹ là nước ít bị thiệt hại nhất, nền kinh tế lại được chiến tranh tiếp sức, nên trở thành cường quốc hùng mạnh, trong khi châu Âu bị chìm trong đống tro tàn đổ nát. Như đã đề cập, New Deal của tổng thống F.D. Roosevelt dù để lại hậu quả nặng nề sau này, nhưng một mặt nền kinh tế Mỹ được lợi lớn từ công nghiệp phục vụ chiến tranh, mặt khác – và đây là điều quan trọng hơn, là những tư tưởng về tự do kinh doanh được các nhà lập quốc đưa thành nền tảng trong Hiến pháp, nên dù bị New Deal kìm hãm, tinh thần laissez-faire vẫn không bị phế bỏ và đây là yếu tố chủ yếu khiến cho nền kinh tế Mỹ có khả năng tự điều chỉnh. Không phải ngẫu nhiên mà Tối cao pháp viện Mỹ đã bác bỏ hàng loạt các định chế của F.D. Roosevelt và không phải ngẫu nhiên mà F.D. Roosevelt đã tìm cách mở rộng cơ quan tư pháp này nhằm đưa “người của mình” vào đó, nhưng nỗ lực của ông bị thất bại. Chính tinh thần laissez-faire bất khả xâm phạm trong Hiến pháp Mỹ đã giúp nước Mỹ không bị “liệt kháng”.


Một kế hoạch tái thiết đồ sộ nhất trong lịch sử được triển khai tại châu Âu – kế hoạch Marshall, với tổng giá trị lên tới 17 tỷ USD (một số tiền rất lớn lúc bấy giờ), do Mỹ tài trợ. Các sử gia đã và đang tranh cãi về hiệu quả, tác động cũng như “mặt phải mặt trái” của kế hoạch Marshall. Dưới góc độ kinh tế, nhờ khoản tiền viện trợ khổng lồ này mà châu Âu có điều kiện nhanh chóng phục hồi nền kinh tế. Nhưng sự thật thì, như Alan Greenspan viết : “Kế hoạch Marshall đã giúp châu Âu, nhưng chỉ đóng góp một phần nhỏ vào sự phục hồi kinh tế mạnh mẽ thời hậu chiến. Tôi coi chính sách tự do hóa thị trường hàng hóa và tài chính Tây Đức do Ludwig Erhard đưa ra năm 1948 là đóng vai trò quan trọng hơn rất nhiều trong việc thúc đẩy khôi phục kinh tế thời hậu chiến của Tây Đức. Tất nhiên là Tây Đức đã trở thành một cường quốc kinh tế nổi bật ở khu vực”.


Ludwig Erhard (Thủ tướng Cộng hòa liên bang Đức từ 1963-1966) cũng là một nhân vật kỳ lạ. Xuất thân là một nhân viên bán vải trong cửa hàng của gia đình, có bằng tiến sĩ kinh tế, rồi làm chuyên viên nghiên cứu tiếp thị. Do bị thương trong Đại chiến 1 nên không tham gia quân đội quốc xã, trong đại chiến 2 ông vẫn làm nghiên cứu thị trường, bị mất việc năm 1942, nhưng ông vẫn tự mình tiếp tục công việc mà ông yêu thích. Sau chiến tranh có thời gian ngắn ông làm Bộ trưởng Kinh tế, sau đó làm chuyên gia kinh tế trong khu vực Mỹ và Anh chiếm đóng. Một cách ngẫu nhiên, khi giám đốc Ủy ban Kinh tế Bizonia (khu vực do Mỹ và Anh chiếm đóng) bị tướng Lucius Clay, tư lệnh quân đội Mỹ chiếm đóng Tây Đức lúc đó, cách chức do ông này "hỗn láo" với người Mỹ, Erhard đã được Clay chọn thay thế. Là người bẩm sinh am hiểu thị trường, Erhard đã khôn khéo qua mặt tướng Clay, trong một đêm đã xóa bỏ hầu hết các quy định về phân phối và kiểm soát giá cả đang kiềm chế nặng nề nền kinh tế vừa thoát khỏi chiến tranh. Sự khôn khéo đó làm cho kinh tế Đức trở nên sinh động bất ngờ, chợ đen biến mất, hàng hóa lưu thông bình thường. Khi CHLB Đức được thành lập năm 1949, Erhard làm Bộ trường kinh tế và sau này làm Thủ tướng. Chính đường hướng thị trường tự do của Erhard, tất nhiên còn bị giới hạn bởi sự áp đặt của lực lượng chiếm đóng, đã đưa nền kinh tế Tây Đức trỗi dậy thần kỳ.


Nhưng các nước khác thì không như vậy. Tiền Mỹ đổ vào châu Âu, kéo theo đó là mô hình kinh tế-xã hội Mỹ-Anh được áp dụng. Học thuyết Keynes trở thành học thuyết kinh tế chính thống của “bên này”, vừa phỏng theo vừa làm đối trọng với “bên kia” là hệ thống kinh tế kế hoạch của Liên Xô. Nhà nước đứng ra điều hành nền kinh tế, lo từng “miếng ăn giấc ngủ” cho dân. Laissez-faire bị phế bỏ.


Nhà nước phúc lợi được ca ngợi, nhưng muốn làm được chức năng mà nó được ca ngợi, tức là để “toàn dụng lao động”, để trợ cấp thất nghiệp, để chăm sóc y tế và các dịch vụ miễn phí cho toàn dân, để bù lỗ cho các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thu lỗ, đồng thời để nuôi một bộ máy khổng lồ đảm trách các chức năng đó, Nhà nước phải có nhiều tiền. Muốn có nhiều tiền, Nhà nước phải đánh thuế cao người giàu (thuế thu nhập lũy tiến), bán tài nguyên và vay mượn. Khi nào “bí” quá thì in thêm tiền. Theo Hayek, chính Keynes đã thể chế hóa lạm phát.


Là kẻ “độc hành trên sa mạc”, Friedrich Hayek tiến hành cuộc thánh chiến chống lại chủ nghĩa can thiệp tất cả mọi loại, từ kinh tế kế hoạch tập trung đến Nhà nước phúc lợi Âu-Mỹ.


Hayek nói những điều mà không chỉ các nhà cầm quyền, các quan chức kinh tế không nghe mà cả giới trí thức và số đông dân chúng cũng không chấp nhận được. Ông cho rằng nền kinh tế là không thể kế hoạch hóa, Nhà nước can thiệp vào kinh tế nhiều bao nhiêu hại bấy nhiêu. Ông đề nghị cởi bỏ các luật lệ ràng buộc, tư nhân hóa nền kinh tế, hủy bỏ việc kiểm soát giá cả, giảm thiểu các chương trình an sinh xã hội, giảm các chương trình trợ cấp thất nghiệp, bãi bỏ các chương trình trợ cấp nhà ở và kiểm soát giá thuê nhà, thu hẹp quyền lực của công đoàn…


Trong khi phần lớn những quan điểm triết học về tự do của Hayek bị bỏ ngoài tai thì những tuyên bố xã hội và kinh tế của ông lại gây shock, nhất là khi ông thách thức nhân loại bằng việc bác bỏ “công bằng xã hội” và thách thức các Nhà nước bằng việc đề nghị tư nhân hóa cả tiền tệ…

(còn tiếp)

______________


Khi tìm hiểu về ông Hayek này tôi có đọc Alan Greenspan. Tôi biết Greenspan, “lão phù thủy” tiền tệ theo trường phái tự do kinh doanh của Mỹ, chịu ảnh hưởng bởi Milton Friedman, song không thấy ông nói nhiều đến Hayek. Nhưng tôi phát hiện ra một điều rất thú vị : một trong hai người ảnh hưởng đến Greenspan nhiều nhất là Ayn Rand, một triết gia kiêm văn sĩ, Greenspan coi Rand là người thầy thực sự của mình mặc dù bà Rand không phải là nhà kinh tế. Lần đầu tiên Việt Nam dịch cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Rand, cuốn The Fountainhead (Suối Nguồn). Đọc cuốn sách tôi thấy quá hứng thú, nên đã viết bài giới thiệu trên Báo Thanh Niên cuối năm 2007 : “Số lượng người” không thể thay cho chân lý.


Bà Rand với ông Hayek không biết có quen biết nhau không, nhưng tư tưởng của họ rất giống nhau.

0 comments:

Đăng một Nhận xét