Thứ Năm, 21 tháng 5, 2009

Người nổi tiếng và báo chí


Trong những ngày này báo chí Anh đang phanh phui tình trạng lạm dụng công quỹ trong Hạ viện (xin nói thêm, Hạ viện Anh là cơ quan có thực quyền cao nhất nước này). Những bê bối tiền nong to nhỏ từ đương kim Thủ tướng cho đến các dân biểu đều được tung hê lên mặt báo. Vụ này khiến Chủ tịch Hạ viện từ chức, một số chính khách khác cũng đã và sẽ từ giã chính trường. Dĩ nhiên, không có “cơ quan chức năng” nào của Anh quốc dám cản làn sóng báo chí. BBC, một hãng truyền thông “quốc doanh”, cũng cập nhật đầy đủ thông tin cho công chúng trong và ngoài nước biết (BBC tiếng Việt xem tại đây. Tài liệu đầy đủ về vụ bê bối bằng tiếng Anh có thể xem tại theyworkforyou.com - theo giới thiệu trên Blog của A Reader - A Traveller). “Người của công chúng” tất phải đương đầu với búa rìu dư luận, đó là tập tục bình thường ở các nước Âu-Mỹ.


Tôi không rõ luật pháp nước Anh “xử lý” như thế nào trong trường hợp báo chí đưa tin sai, chỉ biết Sở Cảnh sát London vừa tuyên bố không điều tra về việc ai đã tiết lộ tài liệu về chi tiêu của các dân biểu cho Daily Telegraph – nhật báo đầu tiên phanh phui vụ bê bối.


Ở nước Mỹ thời điểm hiện tại không có vụ bê bối lớn nào đáng nói, nhưng không phải vì vậy mà kém phần vui nhộn. Nhiều tờ báo liên tục chỉ trích các chính sách của đương kim tổng thống Obama, trong đó có “gói kích thích kinh tế” 787 tỷ USD, cái “gói” này thuộc hàng “chủ trương chính sách lớn” của Nhà nước. Báo chí nói gì mặc kệ, việc của Nhà nước Nhà nước cứ làm. Đó cũng là tập tục bình thường, không đáng bàn luận.


Nhưng báo chí mà phỉ báng cá nhân thì sẽ có luật "điều chỉnh". Luật pháp Mỹ đối với vấn đề này rất thú vị, nó “phân biệt đối xử” giữa cá nhân bình thường và cá nhân người nổi tiếng.


Nước Mỹ không có luật báo chí. Toàn bộ hoạt động báo chí ở Mỹ chỉ được “điều tchỉnh” bởi một điều khoản duy nhất, nói chính xác hơn là được “ghép” trong một điều khoản này, đó là Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp Mỹ (The first Amendment) : “Quốc hội sẽ không ban hành đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, hoặc hạn chế tự do ngôn luận hay báo chí hoặc quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình” (Congress shall make no law respecting an establishment of religion, or prohibiting the free exercise thereof; or abridging the freedom of speech, or of the press; or the right of the people peaceably to assemble, and to petition the Government for a redress of grievances). Như lời văn của nó chỉ rõ, The first Amendment chỉ "răn đe" chính quyền, không "răn đe" báo chí.


Nhưng Tu chính án thứ nhất chỉ là một khái niệm chung chung mơ hồ nếu các quan tòa không độc lập và không biết cách đưa nó vào cuộc sống. Và thực tế là từ khi có Tu chính án này cho đến năm 1964, tức là trong một thời gian rất lâu, Tối cao pháp viện Hoa Kỳ chưa bao giờ áp dụng nó để bảo vệ báo chí.


Quá trình đưa Tu chính án này vào cuộc sống có một lịch sử lâu dài. Thời thuộc địa (chưa có Hiến pháp Mỹ), việc phỉ báng quan chức dù nội dung đó có đúng hay không đều phạm tội. Vào năm 1734, khi Hoa Kỳ vẫn còn là thuộc địa của Anh, có một vụ án lịch sử, đó là vụ Zenger. John Peter Zenger, một chủ báo ở New York đã cho đăng bài trên tờ New York Weekly Journal của mình, công kích viên Thống đốc Hoàng gia Anh tại đây, cho ông này là bất tài và nhận hối lộ. Zenger đã phải vào tù vì tội phỉ báng. Nhưng người bào chữa cho Zenger, luật sư Andrew Hamilton, đã làm nên một chuyện mang tính lịch sử khi ông chứng minh những lời “phỉ báng” của Zenger là không sai và đã thuyết phục tòa án tuyên bố Zenger vô tội. Vụ Zenger đã tạo ra một tiền lệ về pháp lý quan trọng : Từ đây, trong những vụ kiện về tội phỉ báng (ngày nay đều là các vụ kiện dân sự), nguyên đơn chỉ có thể thắng kiện nếu chứng minh được lời phỉ báng đó là sai sự thật. Đó là bước tiến lớn về quyền tự do ngôn luận ngay giữa chế độ thuộc địa mà giá trị pháp lý của nó tồn tại đến ngày nay. Tuy nhiên, các vụ kiện cáo về lĩnh vực này vẫn được các tòa án xét xử theo luật của từng bang, không thống nhất trên toàn quốc.


Một bước ngoặt mang tính cách mạng về quyền tự do ngôn luận diễn ra vào năm 1964 khi Tối cao pháp viện thụ lý một vụ án lịch sử : Vụ New York Times kiện Sullivan. Vụ kiện xuất phát từ một trang quảng cáo đăng trên tờ New York Times của một số mục sư nhằm quyên tiền để bào chữa cho nhà hoạt động nhân quyền lừng danh nước Mỹ - mục sư Martin Luther King, sau khi ông bị bắt giam. L.B Sullivan, người phụ trách Sở cảnh sát thành phố Montgomery, bang Alabama, cho rằng nội dung quảng cáo đã nói không đúng về các hành vi của lực lượng cảnh sát và phỉ báng mình, nên đã kiện New York Times và các mục sư ra tòa án. Xét thấy nội dung quảng cáo có một số thông tin không đúng, tòa án đã quyết định cho Sullivan thắng kiện, buộc các bị đơn phải bồi thường cho ông này 500 ngàn USD. New York Times và các mục sư đã kháng cáo lên Tối cao pháp viện.


Tòa tối cao cho rằng không thể dùng các quy định điều chỉnh về tội phỉ báng để áp đặt hình phạt đối với việc phê phán hành vi ứng xử của các công chức, rằng dù nội dung phê phán có sai sót nhưng việc yêu cầu những người phê bình các quan chức phải bảo dảm độ chính xác trong phát biểu của họ là hành động “tự kiểm duyệt”. Tòa cũng cho rằng, những công chức Nhà nước muốn thắng kiện trong trường hợp này không chỉ phải chứng minh những nội dung được đăng tải là sai mà còn phải chứng minh những người đăng tải nội dung này là “có ác ý”, nhưng tòa nhận thấy rằng không có bằng chứng nào chứng tỏ tờ New York Times và các mục sư đã “có ác ý” khi đăng nội dung đó. Vì vậy, Tòa tối cao phán quyết New York Times và các mục sư thắng kiện.


Phán quyết của Tối cao pháp viện Hoa Kỳ trong vụ án lịch sử này có giá trị như một điều luật, và hơn thế nữa, nó có giá trị ngang với một điều khoản của Hiến pháp, để từ thời điểm này áp dụng cho tất cả các vụ kiện về tội phỉ báng : một nguyên đơn là quan chức Nhà nước muốn thắng kiện nhất thiết phải chứng minh rằng những lời phỉ báng của bị đơn là sai, đồng thời phải chứng minh được cái sai đó là “có ác ý”.


Ngoạn mục hơn, là “án lệ” của vụ New York Times kiện Sullivan không chỉ dành cho các quan chức nhà nước mà còn được Tối cao pháp viện mở rộng luôn cho những “nhân vật của công chúng”, bao gồm các ngôi sao giải trí, các nhà văn nổi tiếng, các vận động viên thể thao và những người “thường xuyên thu hút sự quan tâm của giới truyền thông”.


Như vậy là tại nước Mỹ, người bình thường kiện báo chí về tội bôi nhọ chỉ cần chứng minh việc bôi nhọ đó không đúng sự thật là thắng kiện, nhưng những người nổi tiếng thì khác. Người nổi tiếng muốn thắng kiện phải chứng minh 2 việc : thông tin sai và thông tin “có ác ý”. Phê phán những người nổi tiếng mà không đúng sự thật nhưng không “có ác ý” thì luật pháp nước Mỹ “chấp nhận được”.


Tất nhiên về mặt đạo lý thì không nên, nhưng những nhà lập quốc và các đại thẩm phán Hoa Kỳ đã tiên liệu những hạn chế có thể có về tự do ngôn luận, nên đã biết cách phòng ngừa. Bởi vậy mà phán quyết của Tối cao pháp viện trong vụ New York Times kiện Sullivan được coi là một phán quyết “mở rộng tự do ngôn luận”.


Làm một quan chức, làm một người nổi tiếng ở Mỹ quả là khó hơn làm một người bình thường, do vậy mới có "văn hóa từ chức", do vậy mới không khuyến khích thói háo danh.


Tham khảo :

+Website BBC.

+Hiến pháp Hoa Kỳ và các tài liệu liên quan về lịch sử tòa án và lịch sử báo chí Mỹ.

________

Bài liên quan :

*Tự do ngôn luận Mỹ từng góp phần ngăn chặn chiến tranh Việt Nam

*Sự kiện báo chí lớn nhất thế kỷ 20

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét