Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2009

150 năm không lạm phát

Tiếp theo các phần trước :
"Quỳ hoa bảo điển"
Hòa bình và khoan dung
Chiến sĩ bảo vệ tự do

Như đã đề cập, John Locke (1632-1704), nhà triết học Khai sáng vĩ đại, người “phát kiến” các quyền tự nhiên của con người, người ảnh hưởng sâu đậm nhất đến các nhà lập quốc Hoa Kỳ và bản Hiến pháp Mỹ, đồng thời cũng ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng của bản Hiến pháp lập quốc của Việt Nam năm 1946, đã luận giải thấu đáo về quyền sở hữu trong cuốn sách nổi tiếng “Two Treatises of Government”.

Theo Locke, Thượng đế đã giao trái đất cho Adam, cho Noah và con cháu ông, nghĩa là trao nó cho loài người. Do đó trái đất là sở hữu chung của loài người. Thọat kỳ thủy mọi người được quyền sở hữu tự nhiên đối với tất cả những gì có trên trái đất. Nhưng Thượng để không mang các sản vật trên trái đất đến tận từng căn lều phân phối cho mỗi người. Muốn hưởng thụ thì mỗi người phải biết cách tự lấy nó, bằng bàn tay và trí óc của mình, đó là lao động. Mỗi một thứ tồn tại trong tự nhiên khi được tác động bởi lao động của một người sẽ biến thành của cải của chính người đó, của cải này chỉ là của anh ta thôi, không một ai khác có quyền chiếm dụng. Chính lao động đã tách của cải chung trong tự nhiên ra thành của riêng từng người. Cái này gọi là quyền tư hữu.

Locke nói đây là “quyền tự nhiên” của mỗi người. Giả sử có ai đó bảo quả táo hay con thú anh ta hái hay bắt được (tức là anh ta đem nó về bằng lao động của mình) là của chung, rằng anh ta không có quyền chiếm giữ, muốn chiếm giữ nó anh ta phải được sự đồng ý của toàn thể loài người, thì tình hình sẽ như thế nào ? Locke bảo nếu phải làm như vậy thì loài người đã chết hết từ lâu rồi.

“Quyền tự nhiên” (bao gồm quyền sống, quyền tự do và quyền tư hữu) là thứ mặc định của trời đất, không do người khác ban cho. Đó là “luật tự nhiên”, miễn bàn cãi. Nhà nước, với tư cách là thiết chế do các công dân tự do lập ra, có trách nhiệm bảo vệ các quyền tự nhiên của công dân, không để người này xâm phạm quyền tự nhiên của người kia và đương nhiên bản thân Nhà nước cũng không được phép xâm phạm quyền tự nhiên của mỗi công dân.

Bởi vậy mà Hiến pháp nước Mỹ, vốn thấm nhuần tư tưởng của Locke, không hề có quy định về những “quyền tự nhiên” đó. Đã là “quyền tự nhiên” thì không cần ai ban phát. Hiến pháp Mỹ chỉ quy định những giới hạn của chính quyền nhằm ngăn cấm chính quyền xâm phạm đến những “quyền tự nhiên” đó của người dân.

Điều đáng chú ý là khi đưa ra các quy định cấm chính quyền xâm phạm đến quyền này quyền khác của người dân, Hiến pháp Mỹ liệt kê ra một số quyền liên quan đến những quy định này, nhưng các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã thận trọng ban hành liền theo đó một Tu chính án - Tu chính án thứ 9, nói rõ : “The enumeration in the Constitution, of certain rights, shall not be construed to deny or disparage others retained by the people” (Việc liệt kê một số quyền trong Hiến pháp không có nghĩa là phủ nhận hay hạ thấp những quyền khác của người dân). Đây là một trong 10 Tu chính án thuộc Tuyên ngôn nhân quyền của Hiến pháp Mỹ.

Nói dài dòng nguyên lý trên để trở lại chuyện tiền bạc. Tiền bạc là thứ tài sản thuộc hàng quan trọng nhất của con người. Theo lập luận trên đây thì sở hữu tiền bạc mặc nhiên là “quyền tự nhiên” của người dân, quyền đó không ai được phép xâm phạm.

Và như đã nói ở phần trước, để bảo vệ hữu hiệu quyền sở hữu tiền bạc của người dân, các nhà nước phương tây thế kỷ 19 đã đồng loạt áp dụng một phương thức tối ưu là dùng đồng tiền vàng (bạc) hoặc áp dụng bản vị vàng khi phát hành tiền giấy. Tất nhiên nhà nước còn phải bảo vệ tiền bạc cho người dân bằng việc ngăn chặn, trừng phạt bọn trộm cướp, bọn lừa đảo và quan tham. Nhưng biện pháp làm cho đồng tiền không mất giá trị là quan trọng nhất. Đó là một trong những biện pháp tối quan trọng mà Nhà nước phải làm để bảo vệ tự do cho công dân. Đạo lý căn bản đó đã bị các “bảo điển” của các học thuyết kinh tế chính thống của thế kỷ 20 dìm trong quên lãng.

Trở lại giai đoạn lịch sử liên quan của nước Mỹ. Tổng thống Mỹ Thomas Jefferson coi Ngân hàng trung ương nguy hiểm hơn kẻ thù. Còn Tổng thống Mỹ Andrew Jackson thì thề quyết tử với Ngân hàng trung ương, ông căm thù nó đến mức trước khi chết còn đề nghị ghi trên mộ ông một dòng chữ “I killed the Bank” (Tôi đã giết chết ngân hàng). Đừng vội quy kết hai vị tiền bối này là bảo thủ, hai vị căm thù ngân hàng trung ương là căm thù “chức năng” tạo ra tiền từ không khí và tước đoạt tài sản của người dân bằng việc tạo ra lạm phát.

Như đã nói ở phần trước, Tổng thống Andrew Jackson sau khi phủ quyết đạo luật gia hạn thời gian hoạt động của Ngân hàng Hoa Kỳ, rồi ra lệnh rút toàn bộ tiền gửi của chính phủ liên bang ra khỏi ngân hàng này, ông đã phải trả giá một lần nữa. Để trả thù hành động của tổng thống, các thế lực tài phiệt quốc tế trong Ngân hàng Hoa kỳ đã đột ngột thu hồi các khoản cho vay và thu hẹp tín dụng, rút tiền kim loại ra khỏi nước Mỹ, châm ngòi cho cuộc suy thoái kinh tế trên toàn quốc từ năm 1837.

Quốc hội và dân chúng coi Jackson là thủ phạm gây ra nỗi thống khổ của người dân. Một Nghị quyết của Thượng viện khiển trách tổng thống được thông qua và Andrew Jackson là tổng thống Mỹ đầu tiên bị Quốc hội khiển trách. Nhưng cuối cùng lẽ phải đã chiến thắng khi những người trong cuộc đã lên tiếng trước công chúng về âm mưu của Ngân hàng, khiến Thượng viện phải ra Nghị quyết rút lại việc khiển trách tổng thống. Ngân hàng Hoa Kỳ chấm dứt hoạt động đúng thời hạn vào năm 1836. Nhiều mưu toan tái lập sau đó đã bị thất bại. Các tổng thống Martin Van Buren, Willam Henry Harrison, John Tyler đều từ chối việc tái lập Ngân hàng trung ương; riêng John Tyler vì phủ quyết việc tái lập ngân hàng này mà bị Đảng Whig của ông khai trừ ra khỏi Đảng khi ông đang làm tổng thống.

May mắn là vào năm 1848, việc phát hiện một số mỏ vàng lớn đã giúp nước Mỹ thoát khỏi sự khống chế của các thế lực tài phiệt và thoát khỏi khủng hoảng. Kinh tế Mỹ bước vào một thời kỳ hoàng kim, đủ sức mạnh để vượt qua một cách dễ dàng một cuộc suy thoái nữa- cuộc suy thoái năm 1857.

Cho đến cuộc nội chiến 1861-1865, một cuộc chiến tranh tàn khốc nhất trong lịch sử nước Mỹ. Muốn tiến hành chiến tranh thì phải có tiền, muốn có tiền thì hoặc là tăng thuế, hoặc phải vay tiền. Tăng thuế thì vi phạm Hiến pháp. Còn vay tiền thì lúc này Ngân hàng trung ương đã cáo chung, các ngân hàng “địa phương” thì không có khả năng đáp ứng, muốn vay thì phải vay ngân hàng nước ngoài với lãi suất cắt cổ. Tổng thống Lincoln đã chọn con đường khác : ra một Pháp lệnh (do Quốc Hội ban hành năm 1862) giao cho Bộ Tài chính tự phát hành tiền để khỏi phụ thuộc vào vay mượn hay thuế khóa. Đó là đồng “tiền xanh” (greenback). Tuy nhiên, việc phát hành tiền pháp định greenback vẫn không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của chiến tranh, nên Lincoln buộc phải nhường bước các nhà tài phiệt, tái lập ngân hàng trung ương, dưới cái tên mới “National Bank”, với bản Hiến chương có nhiều sửa đổi. Ngân hàng này đảm nhiệm việc phát hành tiền tệ được giới hạn bằng các trái phiếu của Chính phủ, tức là biến nợ Chính phủ thành tiền. Song, do nguồn vàng dự trữ lớn, suốt 4 năm chiến tranh lạm phát ở miền Bắc chỉ ở mức gấp đôi, trong khi ở miền Nam các máy in tiền “chạy hết công suất” và có rất ít vàng nên lạm phát lên đến … 9100%.

Nhưng sau chiến tranh, Quốc hội đã thu hồi tiền pháp định, khôi phục lại chế độ bản vị vàng. Từ đó cho đến trước chiến tranh thế giới thứ nhất, tuy các thế lực tài phiệt thông qua National Bank tiếp tục dùng trò phù thủy tiền tệ gây ra một số cuộc suy thoái kinh tế vào các năm 1873, 1893 và 1907, song những cuộc suy thoái đó không cản được con đường thịnh vượng của nước Mỹ.

Nói chung, nợ nần và lạm phát của nước Mỹ suốt thế kỷ 19 đến trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất là không đáng kể. Những nỗ lực phi thường của các vị tiền bối trong việc bảo vệ tự do cho người dân đã kéo theo một thành quả 150 năm không lạm phát.

Nhìn biểu đồ biến động giá tiêu dùng của nước Mỹ ở đầu bài có thể thấy : từ năm 1800, tuy lạm phát có gia tăng vào thời gian chiến tranh 1812 và nội chiến 1861-1865, nhưng mức giá vào năm 1913 vẫn thấp hơn mức giá của 1800. Một thời gian sau khi xóa bỏ bản vị vàng vào năm 1933, do hậu quả của nó, giá cả bắt đầu tthăng thiên từ năm 1971 khi đồng đô la hoàn toàn thoát khỏi vàng cùng với sự cáo chung của hệ thống Bretton Woods. Đó là sự thật lịch sử.

(lúc nào rảnh viết tiếp)

Những bài liên quan :
Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu


3 nhận xét:

  1. Chỉ mong nước mình o lạm phát trong 50 năm tới. Ước mơ hơi xa xỉ, hi hi... Anh viết chữ to to lên 1 tí cho dễ đọc ạ.

    Trả lờiXóa
  2. Em bấm Ctrl và dấu + phía trên bàn phím, chữ sẽ to ra.

    Trả lờiXóa
  3. Về vấn đề Gold standard hay Fiat currency em có 1 số suy nghĩ sau, mong anh và anh Giangle là 2 người chuyên môn trong lĩnh vực kte góp ý thêm.

    - Một trong những chức năng chính của tiền là khả năng tồn trữ giá trị ( store of value ). Chức năng này được thực hiện khá tốt trong Gold standard. Một trong những nguyên nhân chính đó là việc tăng cung tiền là hoàn toàn tự nhiên và ko bị khống chế bởi các nhóm thế lực nào. Đây chính là thế mạnh của Gold standard và cũng là điểm mà người ta lên án Fiat Currency.
    - Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận hệ thống Fiat Currency cũng có mặt mạnh của nó, đó là khả năng khống chế cung tiền tự do. Tùy thuộc vào tình hình kte ta có thể tăng hay giảm cung tiền để thúc đẩy hay kiềm hãm nền kte. Đây là chức năng mà Gold standard ko có và em nghĩ cũng vì thế nó đã bị thay thế.

    Tuy bây giờ cả thế giới đều đang sử dụng Fiat Currency, thế nhưng các central banks lại có những guidelines hoàn toàn khác nhau, ảnh hưởng tới những quyết định quan trọng trong việc kiểm soát cung tiền. Ở đây em muốn so sánh Fed và ECB.
    - Thứ 1 Fed là 1 tổ chức tuy thuộc chính phủ nhưng lại do tư nhân sở hữu. Thế nên các chính sách của Fed ít nhiều sẽ bị ảnh hưởng bởi các member banks. Điều này sẽ rất tai hại khi mà lợi ích của các member banks và người dân khác nhau.
    Trong khi đó ECB là 1 hệ thống bao gồm central banks của các nước thành viên Châu Âu. Như vậy các chính sách cua ECB sẽ ít bị ảnh hưởng bởi các nhóm thế lực tư nhân và cũng sẽ bị giám sát chặt chẽ bởi các central banks thanh viên.
    - Thứ 2, mục tiêu hàng đầu của Fed và ECB cũng hoàn toàn khác nhau, của Fed là maximum employment, cua ECB là stable prices. Điều này cũng dễ thấy khi Fed trong đợt khủng hoảng vừa qua rất phóng tay trong những gói giải cứu trong khi ECB lại rất thận trọng trong những quyết định làm tăng cung tiền 1 cách đáng kể.

    Qua đó có thể thấy là hệ thống tiền tệ của ECB đã bao gồm cả 2 thế mạnh của Fiat currency và Gold standard, là khả năng khống chế cung tiền và tồn trữ giá trị của tiền.
    Thế nên nếu nói Fiat Currency là "xấu" thì có lẽ ko đúng , mà nên nói là " Fed ist a corrupt banking system " xD.

    Trả lờiXóa