Thứ Hai, 27 tháng 7, 2009

Làng tôi có ông Tú Qùy


1. Họ Huỳnh làng Giảng Hòa tôi có ông Tú Qùy (Huỳnh Qùy). Hồi nhỏ tôi thích nhất là nghe ông nội tôi đọc thơ, văn tế, vè, câu đối của ông và kể những câu chuyện về ông. Chuyện gì về ông Tú Qùy cũng hay cả.


Sau này đọc ông Phan Khôi, Dương Quảng Hàm, Vương Hồng Sển, Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Huệ Chi… đều thấy viết về ông Tú Qùy với những lời đánh giá trân trọng. Đánh giá là vậy, còn việc “sắp xếp” ông vào đâu thì hình như vẫn còn dè dặt. Nhưng tôi không muốn xếp ông Tú Qùy ngang với ai, không phải vì thơ văn của ông và tư cách của ông hay hơn hay dở hơn các tác gia khác cùng thời và cùng thể loại. Đối với tôi, Tú Qùy không giống bất cứ ai.


Theo tôi biết thì gần 100 năm nay không ai xếp ông Tú Qùy vào các tập “thơ văn yêu nước”. Gần đây một số nhà nghiên cứu đã tử tế “minh oan” cho ông, gọi ông là danh sĩ Quảng Nam và cố “làm rõ” chất yêu nước trong thơ ông. Còn ở làng tôi, dù ông có được “minh oan” hay không thì ông Tú Qùy vẫn là ông Tú Qùy như cũ.


Đây là một trong những bài thơ được nhiều người biết nhất của ông (tôi ghi theo trí nhớ) :


VỊNH HÁT BỘI


Nhỏ mà không học lớn làm ngang

Ba tiếng trống thùng đã thấy quan

Ra rạp ngồi trên ba đứa hiệu

Vô buồng đứng dưới mấy ông làng

Mượn màu son phấn ông kia nọ

Cởi lốt khăn đai chú điếm đàng

Tuy chẳng ra chi nhưng cũng sướng

Đã từng trợn mắt lại phùng mang.


Các nhà nghiên cứu bảo bài thơ này Tú Qùy “nói kháy” Nguyễn Duy Hiệu (ông Hường Hiệu) và các lãnh tụ phong trào Nghĩa Hội Quảng Nam, thuộc phong trào Cần Vương chống Pháp.


Nguyễn Duy Hiệu yêu nước lừng danh, đó là thực tế trong sử sách. Nhưng Nguyễn Duy Hiệu khét tiếng không khác gì một ông vua trong vùng, đó cũng là thực tế trong sử sách. Có điều “cứu cánh biện minh cho phương tiện”, nên sử sách coi hành động cướp bóc, ức hiếp dân lành của phong trào Nghĩa Hội chỉ là một “hạn chế” của phong trào do “thiếu đường hướng” mà thôi.


Sau khi đọc bài thơ “Vịnh hát bội” trên đây, ông Hường Hiệu đã sai lính bắt Tú Qùy về bản doanh để trị tội. Nhưng cuối cùng ông Hường Hiệu cũng tha cho Tú Qùy. Trong đời mình, ông Hương Hiệu không tha cho ai hết, trừ hai người : thầy của chính ông Hường Hiệu và ông Tú Qùy. Người ta bảo ông Tú Quỳ sở dĩ được tha là do tài ứng đối, nhất là do những bài “xuất khẩu thành thi” trước mặt ông Hường Hiệu. Nói vậy cũng chưa chắc đúng.


Tú Qùy từng hưởng ứng phong trào Nghĩa Hội chống Pháp và vận động người dân tham gia phong trào này. Ông đương nhiên không chống lại đường hướng yêu nước của Nghĩa Hội, nhưng ông không tán thành các phương sách manh động không hiệu quả và đặc biệt chống kịch liệt việc tàn sát những người theo đạo Thiên chúa và các hành vi cướp bóc, trả thù man rợ của Nghĩa Hội (ông Tú Qùy có làm bài văn tế một Chánh tổng bị nghĩa quân bắt và hành hình man rợ bằng cách đem lửa đốt hạ bộ cho đến chết).


Trong bài “Vè đánh đạo”, Tú Qùy đã lên án mạnh mẽ việc Nghĩa Hội giết chóc, truy sát những người theo đạo Thiên chúa giáo. Đây có lẽ là tác phẩm đầu tiên, nếu không muốn nói là tác phẩm duy nhất tỏ thái độ thẳng thắn của một sĩ phu yêu nước trước một hành vi tàn bạo của một phong trào mệnh danh là phong trào yêu nước. Bài vè đã lưu truyền rộng rãi trong dân gian, nhưng các lãnh tụ Nghĩa Hội thì tức tối muốn giết ông. Những người lãnh đạo Nghĩa Hội đồng nhất những người theo đạo với giặc Pháp, còn Tú Quỳ thì không. Đối với ông, họ là dân lành.


Phải đọc “Hỏa mai đánh bằng rơm con cuối, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia…” trong Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu để thấy hồi xưa diệt đạo cũng là “yêu nước” thì mới thấy hết sự khác biệt giữa sự yêu nước của ông Tú Qùy với các sĩ phu thế kỷ 19. Giáo dân cũng là dân lành, yêu nước sao lại đi giết dân lành ?


Có lẽ giết chóc những người theo đạo là “thành tích” lớn nhất của Nghĩa Hội. Còn đánh Pháp thì sao ? Trận đánh trực diện với người Pháp lớn nhất của nghĩa quân là trận đánh diễn ra ở đồng Gia Cốc. Ông Tú Qùy đã viết một câu đối về kết quả của trận đánh đó như sau :


ĐỒNG GIA CỐC THỬ CHƠI MỘT TRẬN

CHẾT HĂM MỐT BỊ THƯƠNG HĂM MỐT

NỢ QUÂN VƯƠNG TRẢ BỚT BẤY NHIÊU NGƯỜI


QUÂN TẢ TÂY KÉO THẲNG HAI TUA

LÊN TRĂM HAI XUỐNG ĐỦ TRĂM HAI

TRÁCH TRỜI ĐẤT NỠ SAO THIÊN VỊ NÓ


Số liệu về trận đánh đó sử sách đã ghi chính xác như câu đối của ông Tú Qùy : 21 nghĩa quân đã anh dũng hy sinh, bên địch không thiệt hại gì.


Câu đối này cũng có thể đưa ông Tú Qùy đến cửa tử. Nhưng ông vẫn bình thản. Đánh đấm như vậy thì làm thinh sao được !


2. Nói về cây tre, có hai câu chữ Hán tôi đọc lâu rồi không nhớ là của ai, nhưng rất thích :


Vị xuất thổ thời tiên hữu tiết

Đáo lăng vân xứ dã hư tâm.


Tạm dịch :

Chưa lên khỏi mặt đất đã có đốt (cũng có nghĩa là khí tiết)

Lên đến tận mây xanh vẫn không có tâm địa gì.


Đó là biểu trưng của chân quân tử.


Trở lại chuyện ông Tú Qùy. Khi ông bị nghĩa quân bắt lên, ông Hường Hiệu đã ra đề thơ cây tre và bảo ông ứng khẩu. Ông đã làm bài Vịnh cây tre sau đây :


Cao lớn làm chi tre hỡi tre

Ruột gan không có vỏ xanh lè

Sơ sơ gió thổi khom lưng lại

Thoảng thoảng rìu qua trợn mắt ghe

Rễ mọc tùm lum ăn xấu đất

Thân ngâm nồng nặc thối tràn khe

Lập lờ mang tiếng chân quân tử

Há để thân danh lụy rứa hè.


Hai cách nói về cây tre, rất khác nhau, nhưng cách nào cũng hay. Bài thơ cũng “nói kháy” Nguyễn Duy Hiệu, nhưng ông Hường Hiệu có lẽ đủ tỉnh táo nên không giết ông.


Ông Tú Qùy làng tôi sống đến 98 tuổi (ông sinh năm 1828 và mất năm 1926). Năm ông 80 tuổi, ông được ông vua yêu nước Duy Tân tặng cho hai chữ “Thọ quan”, dù ông chẳng bao giờ làm quan chức gì.

8 nhận xét:

  1. Ông viết kiểu này đọc thích hơn chuyện kinh tế thế giới.
    Khoa

    Trả lờiXóa
  2. Xin hỏi tác giả là ai mà nhận là người làng Giảng Hòa. Tôi cũng là một người con của làng Giảng Hòa đây, tôi họ Lê.

    Trả lờiXóa
  3. Tôi cũng là người làng Giảng Hòa, họ Lê . Xin hỏi tác gỉa có phải họ Huỳnh không và nếu được có thể chúng ta làm quen được chứ ? Làng Giảng Hòa hiện nay không còn cư dân cư trú nữa vì rất nguy hiểm khi mùa lũ lụt về ...chỉ còn mộ của cụ Tú Quỳnh là còn ở Giảng Hòa thôi !!!

    Trả lờiXóa
  4. cháu cũng là con cháu tộc Huỳnh, ở Giảng Hòa ạ. cháu cũng đang nghiên cứu về Tú Quỳ, nhưng trong tài liệu mà cháu hiện có, không có bài "Cây tre". cháu cảm ơn bài viêt này của chú nhiều ạ.
    Hoàng Kim

    Trả lờiXóa
  5. cháu muốn xin một số ý kiến của chú về Tú Quỳ. làm thế nào để cháu có thể liên lạc với chú ạ. Hoàng Kim Phượng
    hatrang_qna@yahoo.com

    Trả lờiXóa
  6. Bài Anh viết hay quá,đã nói đúng cái ý mà em phân vân mãi khi người ta nhận định không khách quan về cụ Tú.Thái độ kẻ sĩ của cụ với dân lành kể cả người có đạo thật đáng trân trọng.Em cũng là con cháu tộc Huỳnh Giảng Hoà đang ở TP HCM,nếu được xin gặp anh để biết anh em.Tình cờ đọc được bài của anh,dù đã lâu nhưng vẫn còm vì thích.
    Hoàng Hải Phương

    Trả lờiXóa
  7. Tôi đúng họ Huỳnh Giảng Hoà. Các bạn người Giảng Hoà hoặc gốc Giảng Hoà ghi lại địa chỉ email nhé. Giảng Hoà là cái làng đặc biệt, nguyên chỉ có họ Huỳnh. Sở dĩ có thêm một số họ như họ Lê là do đến cưới vợ họ Huỳnh rồi ở rễ luôn, vì vậy cũng bà con cả.

    Trả lờiXóa
  8. HHV (Huỳnh Kim Sánh) nói chưa đúng so với lịch sử về tộc họ ở làng Giảng Hòa! Họ Huỳnh và họ Lê là hai họ đầu tiên cùng thời khai phá và lập nên làng Giảng Hòa, vì vậy họ cùng chia xẻ "TIỀN HIỀN" tổ phụ (mặc dù điều này vẫn còn đang tranh cãi)Tuy nhiên điều quan trọng là hai họ thực sự sống hòa bình và yêu thương nhau rất mực vì hai họ có những ràng buộc máu thịt. Theo lịch sử, Đời vua Lê Nhân Tông (cháu gọi Đức thái tổ Lê lợi bằng Chú) một vị minh Quân hết lòng chăm lo việc nước, ra sức mở mang bờ cõi, đã tuyển chọn một số con cháu trong hoàng tộc là những nhân vật vũ biền gồm 08 vị tướng lãnh, cầm đầu các quân binh chúng mở cuộc Nam tiến nhằm mở rộng bờ cõi về phía Nam (Danh sách 08 vị tướng lĩnh có trong gia phả nhà Lê ở Thanh Hoá)
    Sau đó, để bổ sung lực lượng vua Lê Nhân Tông bèn ra chiếu chỉ động binh toàn lực con cháu dòng họ Lê trong 04 hệ 09 chi gồm 281 ông (có danh sách cụ thể, đầy đủ ghi trong gia phả họ Lê) giữ những chức vụ quan trọng về quân sự chính trị khai trấn Nam Thiên lên đường ngày 16/6 năm Nhâm Thân (Dương lịch 1446)
    Sau khi hoàn thành cuộc Nam tiến mở rộng bờ cõi phía Nam, của nước Việt Nam ta thời bấy giờ, năm 1680 D.L. theo lệnh của nhà vua Lê Hy Tông, niên hiệu Vĩnh Trị, một số dân ở các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An được đưa vào Quãng Nam Dinh (nay là tỉnh Quãng Nam-Đà nẵng) khai khẩn ruộng đất nhằm phát triển nền kinh tế quốc gia thời bấy giờ. Trong số đó có ông Lê Văn Trạch (tức Lê Quý Công - là một trong số các con cháu dòng dõi Hoàng tộc) quê ở huyện Nghi Xuân, Tỉnh Nghệ An là người đầu tiên đặt chân lên vùng đất bên hữu ngạn sông Thu Bồn, khai thác đất đai để xây dựng làng mạc, đặt xã hiệu là Giảng Hoà thôn. Chính ông Lê Văn Trạch (tức Lê Quý Công) là người đầu tiên xây dựng cơ nghiệp nhà Lê tại làng Giảng Hoà và là vị Thuỷ Tổ của làng Giảng Hòa (Trích từ gia phả họ Lê)Lịch sử cần phải được giải thích và phổ biến một cách khách quan như vốn nó phải thế ... Có dịp chúng ta sẽ trao đổi nhiều hơn nhé Huỳnh Kim Sánh...Thân!

    Trả lờiXóa