Alan Greenspan nói về bản vị vàng
150 năm không lạm phát
"Qùy hoa bảo điển"
Hòa bình và khoan dung
Chiến sĩ bảo vệ tự do
Đọc Thanh cung mười ba triều, đến chuyện của Đạo Quang hoàng đế (1782-1850) thấy tức cười. Khi Đạo Quang lên ngôi, tham quan Hòa Thân đã bị diệt, ngân khố “giàu có khôn xiết kể”, nhưng ông vẫn hết sức dè sẻn trong chi tiêu công qũy và chính ông nêu gương một cách triệt để. Một chiếc long bào cũ rách ông cũng cho vá lại mà mặc chứ không may đồ mới. Hoàng đế rất tương đắc với Đại học sĩ Tào Chấn Dung (cũng là một bậc đại hà tiện). Một lần đang đàm đạo với Tào Chấn Dung, nhìn thấy ống quần của Đại học sĩ có 2 miếng vá, hoàng đế hỏi : “Ngươi vá hai miếng vá to ấy mất bao nhiêu tiền ?”. “Tâu, chỉ hết 3 tiền”. Đạo Quang giật mình đánh thót, rồi thở dài nói : “Trẫm cũng có hai miếng vá như vậy, thế mà Nội vụ phủ tính những 5 lạng bạc”. Từ đó hoàng đế bắt mọi người trong cung, từ hoàng hậu phi tần đến cung nữ đều phải học may vá, không được chi tiêu lãng phí công qũy nữa. Đằng sau những câu chuyện khôi hài về tính hà tiện của Đạo Quang có thể nhìn ra một đạo lý.
Đạo lý đó là, Nhà nước không làm ra của cải, cũng có nghĩa là không tạo ra tiền, không tạo ra tiền thì không được chi xài phung phí. Dưới chế độ bản vị vàng cũng như việc dùng bạc nén làm tiền dưới thời hoàng đế Đạo Quang, điều này là vô cùng dễ hiểu. Tiền mà Nhà nước có là do các công dân đóng góp, dưới hình thức thuế. Chi dùng cho toàn bộ các hoạt động của Nhà nước chỉ trong khoản thuế này, không có gì khác.
Không phải luật lệ về chi tiêu, cũng không phải những lời kêu gọi tiết kiệm, mà chính bản vị vàng đã tự động khống chế việc chi tiêu của Nhà nước.
Trước khi phế bỏ bản vị vàng, chi tiêu của Chính phủ Mỹ rất khiêm tốn : chỉ ở mức 3% GDP ở cấp liên bang và 9% GDP ở cấp bang và địa phương.
Sau khi phế bỏ bản vị vàng, bất chấp có chiến tranh hay không, bộ máy nhà nước cũng ngày càng phình to ra kéo theo tốc độ chi tiêu tăng vọt. Năm 1940, chi tiêu liên bang tăng lên 13% GDP, tỷ trọng gấp hơn 4 lần, và đến năm 2008, chi tiêu liên bang vọt lên 27% GDP, tỷ trọng gấp 9 lần so với thời điểm trước khi phế bỏ bản vị vàng. Tại thời điểm năm 2008, tổng chi tiêu của Nhà nước (bao gồm liên bang, bang và địa phương) lên tới 45% GDP.

Có thể khẳng định chắc chắn rằng nếu không phế bỏ bản vị vàng thì bộ máy Nhà nước không thể phình to lên và không thể chi tiêu vô tội vạ như thế được. Nhưng Nhà nước luôn luôn có đủ lý do biện minh bằng những học thuyết, những công trình khoa học và bằng phương tiện truyền thông áp đảo. Khi thì để tiến hành chiến tranh, hết chiến tranh thì làm sứ mệnh cao cả bảo đảm “công bằng xã hội”, bảo vệ sức khỏe, bảo vệ môi trường, chống khủng bố và hàng loạt những lý do “chính đáng” khác.
Lòng ái quốc, sự cao cả của “sứ mệnh công bằng xã hội”, sự sợ hãi đối với bệnh tật, đối với rủi ro bất trắc … là những điều rất dễ thuyết phục giới trí thức và người dân, nhất là thành phần chi phối nền dân chủ là giới cử tri trung lưu đông đảo (middle America). Nhiều trí thức liêm khiết đã lên tiếng về tình trạng thổi phồng quá mức tính chất nghiêm trọng của những vấn đề xã hội, như HIV/AIDS và các thứ dịch bệnh, vấn đề đe dọa an ninh (gần nhất là việc tấn công Iraq), vấn đề môi trường…. Nhưng tiếng nói của họ đều lạc lỏng, không được công chúng ủng hộ. Chúng ta thử tưởng tượng nếu còn bản vị vàng thì tình hình sẽ ra sao ? Chắc chắn sự nghiêm trọng của những mối đe dọa sẽ xẹp xuống bằng với tính chất thực của nó.
Vì lòng ái quốc, vì những “sứ mệnh cao cả” và vì sự an toàn của mình mà người dân Mỹ sẵn chịu gánh nặng thuế má và đánh mất dần tự do của mình để ủng hộ Nhà nước. Vào năm 1928, người dân đóng góp cho chính phủ thông qua thuế với số tiền tương đương với hơn 1,3 tháng làm việc một năm, ngày nay con số này đã lên đến 5,3 tháng, tức là mỗi năm người Mỹ phải dành gần một nửa thời gian để làm việc không công cho Nhà nước. Người Mỹ hiện đại đang đem một phần tự do mà cha ông họ dày công vun đắp để đổi lấy sự an toàn, đúng hơn là đổi lấy những ảo tưởng về an toàn.
Nhưng thuế là một chuyện và vai trò của nó chủ yếu nhằm tái phân bổ thu nhập mà mục tiêu là để làm “yên lòng” tầng lớp cử tri trung lưu chi phối nền dân chủ. Khi phế bỏ bản vị vàng rồi thì ngoài thuế, việc “tăng chi” của Nhà nước còn có hai nguồn quan trọng hơn : vay mượn và in tiền để thu thêm thuế trá hình bằng lạm phát. Hai chuyện này có mối liên quan chặt chẽ với nhau.
Cần nhớ rằng sau khi lập quốc, nước Mỹ chỉ nợ vẹn vẹn 75 triệu USD vào năm 1791, đây là khoản vay mượn phục vụ cho chiến tranh giành độc lập chứ không phải vay mượn để tiêu xài. Nhưng chỉ mấy năm sau, khoản nợ này đã được trả hết (1802) và suốt hơn 1 thế kỷ tiếp theo, tuy một số thời điểm cũng có gia tăng nợ nần, nhưng nhìn chung không đáng kể. Còn giờ đây thì sao ?
$11,607,335,475,299.34 (mười một ngàn sáu trăm lẻ bảy tỷ ba trăm ba mươi lăm triệu bốn trăm bảy mươi lăm ngàn hai trăm chín mươi chín đô la, tính tròn). Đó là tổng số nợ quốc gia liên bang Hoa Kỳ, “nhảy” trên đồng hồ báo nợ quốc gia đặt tại New York lúc 11:05:44 (AM, GMT), ngày hôm nay, 22-7-2009.
Người ta tính, kể từ ngày 28-9-2007 đến nay, nợ liên bang tăng bình quân mỗi ngày … 3.92 tỷ đô la. Tốc độ tăng trưởng nợ của nước Mỹ gấp 5 lần tốc độ tăng trưởng GDP.

Với dân số 306,593,781 người tính đến cùng thời điểm, mỗi người Mỹ phải gánh tới $37,859.00 (ba mươi bảy ngàn tám trăm năm mươi chín đô la) nợ liên bang.
Số tiền khổng lồ nói trên mới chỉ là nợ quốc gia liên bang, tức là tiền do nhà nước trung ương vay mượn. “Thi đua” với nhà nước liên bang, chính quyền các bang, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp và người dân cũng vay nợ, đưa tổng số nợ của toàn nước Mỹ lên tới một con số không thể tưởng tượng nổi : 57 ngàn tỷ đô la (tính đến năm 2008), bình quân mỗi người Mỹ không kể già trẻ lớn bé đang phải gánh một khoản nợ 186 ngàn đô la, mỗi gia đình gánh một khoản nợ 746 ngàn đô la.

Cả nước Mỹ đang chi tiêu quá xa so với khả năng của mình. Chính phủ lấy gì trả nợ ? Lấy khoản thuế “trong tương lai”. Người dân lấy gì trả nợ ? Lấy thu nhập “trong tương lai”.
Nợ nần là điều làm các nhà lập quốc Hoa Kỳ luôn bất an, luôn lo lắng, luôn ghê tởm, thậm chí đem tính mạng của mình ra để ngăn chặn, lại là điều các nhà kinh tế học chính thống và các chính trị gia hiện đại mặc nhiên coi là chuyện bình thường. Chỉ một khoản sơ hở trong Hiến pháp (Quốc hội được quyền vay nợ), có lẽ đó chỉ là điều khoản đề phòng bất trắc địch họa thiên tai, điều khoản mà Jefferson thấy trước nguy cơ nhưng không đủ sức xóa bỏ, hơn hai trăm năm sau đã biến nước Mỹ thành một biển nợ. Và các nhà kinh tế, theo chân các chính trị gia và các nhà tài phiệt, đã xây dựng các học thuyết kinh tế nhằm hợp lý hóa những núi nợ đó, nhưng phớt lờ luôn một điều khoản quan trọng khác trong Hiến pháp là phải trả nợ bằng tiền vàng hoặc bạc.
Muốn hiểu nợ, in tiền và lạm phát một cách có bài bản, trước hết phải học thuộc lòng các “bảo điển” của thầy Keynes và các chiêu thức biến hóa của các đồ đệ của thầy. Muốn “sống chung” với nợ thì không có cách nào là phải luyện các “bảo điển” đó.
Còn muốn học tự do, thì có thể học nhiều điều từ các nhà lập quốc Mỹ thế kỷ 18-19. Học tự do từ các thầy keynesian chính thống của nước Mỹ ngày nay chẳng khác nào tự “thiến” luôn tự do của mình.
(lúc nào rảnh viết tiếp)
Lọat bài liên quan :
Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu
150 năm không lạm phát
"Qùy hoa bảo điển"
Hòa bình và khoan dung
Chiến sĩ bảo vệ tự do
"Government that governs least governs best"
- Thomas Jefferson
- Thomas Jefferson
Đọc Thanh cung mười ba triều, đến chuyện của Đạo Quang hoàng đế (1782-1850) thấy tức cười. Khi Đạo Quang lên ngôi, tham quan Hòa Thân đã bị diệt, ngân khố “giàu có khôn xiết kể”, nhưng ông vẫn hết sức dè sẻn trong chi tiêu công qũy và chính ông nêu gương một cách triệt để. Một chiếc long bào cũ rách ông cũng cho vá lại mà mặc chứ không may đồ mới. Hoàng đế rất tương đắc với Đại học sĩ Tào Chấn Dung (cũng là một bậc đại hà tiện). Một lần đang đàm đạo với Tào Chấn Dung, nhìn thấy ống quần của Đại học sĩ có 2 miếng vá, hoàng đế hỏi : “Ngươi vá hai miếng vá to ấy mất bao nhiêu tiền ?”. “Tâu, chỉ hết 3 tiền”. Đạo Quang giật mình đánh thót, rồi thở dài nói : “Trẫm cũng có hai miếng vá như vậy, thế mà Nội vụ phủ tính những 5 lạng bạc”. Từ đó hoàng đế bắt mọi người trong cung, từ hoàng hậu phi tần đến cung nữ đều phải học may vá, không được chi tiêu lãng phí công qũy nữa. Đằng sau những câu chuyện khôi hài về tính hà tiện của Đạo Quang có thể nhìn ra một đạo lý.
Đạo lý đó là, Nhà nước không làm ra của cải, cũng có nghĩa là không tạo ra tiền, không tạo ra tiền thì không được chi xài phung phí. Dưới chế độ bản vị vàng cũng như việc dùng bạc nén làm tiền dưới thời hoàng đế Đạo Quang, điều này là vô cùng dễ hiểu. Tiền mà Nhà nước có là do các công dân đóng góp, dưới hình thức thuế. Chi dùng cho toàn bộ các hoạt động của Nhà nước chỉ trong khoản thuế này, không có gì khác.
Không phải luật lệ về chi tiêu, cũng không phải những lời kêu gọi tiết kiệm, mà chính bản vị vàng đã tự động khống chế việc chi tiêu của Nhà nước.
Trước khi phế bỏ bản vị vàng, chi tiêu của Chính phủ Mỹ rất khiêm tốn : chỉ ở mức 3% GDP ở cấp liên bang và 9% GDP ở cấp bang và địa phương.
Sau khi phế bỏ bản vị vàng, bất chấp có chiến tranh hay không, bộ máy nhà nước cũng ngày càng phình to ra kéo theo tốc độ chi tiêu tăng vọt. Năm 1940, chi tiêu liên bang tăng lên 13% GDP, tỷ trọng gấp hơn 4 lần, và đến năm 2008, chi tiêu liên bang vọt lên 27% GDP, tỷ trọng gấp 9 lần so với thời điểm trước khi phế bỏ bản vị vàng. Tại thời điểm năm 2008, tổng chi tiêu của Nhà nước (bao gồm liên bang, bang và địa phương) lên tới 45% GDP.

Có thể khẳng định chắc chắn rằng nếu không phế bỏ bản vị vàng thì bộ máy Nhà nước không thể phình to lên và không thể chi tiêu vô tội vạ như thế được. Nhưng Nhà nước luôn luôn có đủ lý do biện minh bằng những học thuyết, những công trình khoa học và bằng phương tiện truyền thông áp đảo. Khi thì để tiến hành chiến tranh, hết chiến tranh thì làm sứ mệnh cao cả bảo đảm “công bằng xã hội”, bảo vệ sức khỏe, bảo vệ môi trường, chống khủng bố và hàng loạt những lý do “chính đáng” khác.
Lòng ái quốc, sự cao cả của “sứ mệnh công bằng xã hội”, sự sợ hãi đối với bệnh tật, đối với rủi ro bất trắc … là những điều rất dễ thuyết phục giới trí thức và người dân, nhất là thành phần chi phối nền dân chủ là giới cử tri trung lưu đông đảo (middle America). Nhiều trí thức liêm khiết đã lên tiếng về tình trạng thổi phồng quá mức tính chất nghiêm trọng của những vấn đề xã hội, như HIV/AIDS và các thứ dịch bệnh, vấn đề đe dọa an ninh (gần nhất là việc tấn công Iraq), vấn đề môi trường…. Nhưng tiếng nói của họ đều lạc lỏng, không được công chúng ủng hộ. Chúng ta thử tưởng tượng nếu còn bản vị vàng thì tình hình sẽ ra sao ? Chắc chắn sự nghiêm trọng của những mối đe dọa sẽ xẹp xuống bằng với tính chất thực của nó.
Vì lòng ái quốc, vì những “sứ mệnh cao cả” và vì sự an toàn của mình mà người dân Mỹ sẵn chịu gánh nặng thuế má và đánh mất dần tự do của mình để ủng hộ Nhà nước. Vào năm 1928, người dân đóng góp cho chính phủ thông qua thuế với số tiền tương đương với hơn 1,3 tháng làm việc một năm, ngày nay con số này đã lên đến 5,3 tháng, tức là mỗi năm người Mỹ phải dành gần một nửa thời gian để làm việc không công cho Nhà nước. Người Mỹ hiện đại đang đem một phần tự do mà cha ông họ dày công vun đắp để đổi lấy sự an toàn, đúng hơn là đổi lấy những ảo tưởng về an toàn.
Nhưng thuế là một chuyện và vai trò của nó chủ yếu nhằm tái phân bổ thu nhập mà mục tiêu là để làm “yên lòng” tầng lớp cử tri trung lưu chi phối nền dân chủ. Khi phế bỏ bản vị vàng rồi thì ngoài thuế, việc “tăng chi” của Nhà nước còn có hai nguồn quan trọng hơn : vay mượn và in tiền để thu thêm thuế trá hình bằng lạm phát. Hai chuyện này có mối liên quan chặt chẽ với nhau.
Cần nhớ rằng sau khi lập quốc, nước Mỹ chỉ nợ vẹn vẹn 75 triệu USD vào năm 1791, đây là khoản vay mượn phục vụ cho chiến tranh giành độc lập chứ không phải vay mượn để tiêu xài. Nhưng chỉ mấy năm sau, khoản nợ này đã được trả hết (1802) và suốt hơn 1 thế kỷ tiếp theo, tuy một số thời điểm cũng có gia tăng nợ nần, nhưng nhìn chung không đáng kể. Còn giờ đây thì sao ?
$11,607,335,475,299.34 (mười một ngàn sáu trăm lẻ bảy tỷ ba trăm ba mươi lăm triệu bốn trăm bảy mươi lăm ngàn hai trăm chín mươi chín đô la, tính tròn). Đó là tổng số nợ quốc gia liên bang Hoa Kỳ, “nhảy” trên đồng hồ báo nợ quốc gia đặt tại New York lúc 11:05:44 (AM, GMT), ngày hôm nay, 22-7-2009.
Người ta tính, kể từ ngày 28-9-2007 đến nay, nợ liên bang tăng bình quân mỗi ngày … 3.92 tỷ đô la. Tốc độ tăng trưởng nợ của nước Mỹ gấp 5 lần tốc độ tăng trưởng GDP.

Với dân số 306,593,781 người tính đến cùng thời điểm, mỗi người Mỹ phải gánh tới $37,859.00 (ba mươi bảy ngàn tám trăm năm mươi chín đô la) nợ liên bang.
Số tiền khổng lồ nói trên mới chỉ là nợ quốc gia liên bang, tức là tiền do nhà nước trung ương vay mượn. “Thi đua” với nhà nước liên bang, chính quyền các bang, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp và người dân cũng vay nợ, đưa tổng số nợ của toàn nước Mỹ lên tới một con số không thể tưởng tượng nổi : 57 ngàn tỷ đô la (tính đến năm 2008), bình quân mỗi người Mỹ không kể già trẻ lớn bé đang phải gánh một khoản nợ 186 ngàn đô la, mỗi gia đình gánh một khoản nợ 746 ngàn đô la.

Cả nước Mỹ đang chi tiêu quá xa so với khả năng của mình. Chính phủ lấy gì trả nợ ? Lấy khoản thuế “trong tương lai”. Người dân lấy gì trả nợ ? Lấy thu nhập “trong tương lai”.
Nợ nần là điều làm các nhà lập quốc Hoa Kỳ luôn bất an, luôn lo lắng, luôn ghê tởm, thậm chí đem tính mạng của mình ra để ngăn chặn, lại là điều các nhà kinh tế học chính thống và các chính trị gia hiện đại mặc nhiên coi là chuyện bình thường. Chỉ một khoản sơ hở trong Hiến pháp (Quốc hội được quyền vay nợ), có lẽ đó chỉ là điều khoản đề phòng bất trắc địch họa thiên tai, điều khoản mà Jefferson thấy trước nguy cơ nhưng không đủ sức xóa bỏ, hơn hai trăm năm sau đã biến nước Mỹ thành một biển nợ. Và các nhà kinh tế, theo chân các chính trị gia và các nhà tài phiệt, đã xây dựng các học thuyết kinh tế nhằm hợp lý hóa những núi nợ đó, nhưng phớt lờ luôn một điều khoản quan trọng khác trong Hiến pháp là phải trả nợ bằng tiền vàng hoặc bạc.
Muốn hiểu nợ, in tiền và lạm phát một cách có bài bản, trước hết phải học thuộc lòng các “bảo điển” của thầy Keynes và các chiêu thức biến hóa của các đồ đệ của thầy. Muốn “sống chung” với nợ thì không có cách nào là phải luyện các “bảo điển” đó.
Còn muốn học tự do, thì có thể học nhiều điều từ các nhà lập quốc Mỹ thế kỷ 18-19. Học tự do từ các thầy keynesian chính thống của nước Mỹ ngày nay chẳng khác nào tự “thiến” luôn tự do của mình.
(lúc nào rảnh viết tiếp)
Lọat bài liên quan :
Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu

10 comments: