Thứ Tư, 22 tháng 7, 2009

Từ những núi nợ của nước Mỹ

Tiếp theo loạt bài :
Alan Greenspan nói về bản vị vàng
150 năm không lạm phát

"Qùy hoa bảo điển"
Hòa bình và khoan dung
Chiến sĩ bảo vệ tự do

"Government that governs least governs best"
- Thomas Jefferson

Đọc Thanh cung mười ba triều, đến chuyện của Đạo Quang hoàng đế (1782-1850) thấy tức cười. Khi Đạo Quang lên ngôi, tham quan Hòa Thân đã bị diệt, ngân khố “giàu có khôn xiết kể”, nhưng ông vẫn hết sức dè sẻn trong chi tiêu công qũy và chính ông nêu gương một cách triệt để. Một chiếc long bào cũ rách ông cũng cho vá lại mà mặc chứ không may đồ mới. Hoàng đế rất tương đắc với Đại học sĩ Tào Chấn Dung (cũng là một bậc đại hà tiện). Một lần đang đàm đạo với Tào Chấn Dung, nhìn thấy ống quần của Đại học sĩ có 2 miếng vá, hoàng đế hỏi : “Ngươi vá hai miếng vá to ấy mất bao nhiêu tiền ?”. “Tâu, chỉ hết 3 tiền”. Đạo Quang giật mình đánh thót, rồi thở dài nói : “Trẫm cũng có hai miếng vá như vậy, thế mà Nội vụ phủ tính những 5 lạng bạc”. Từ đó hoàng đế bắt mọi người trong cung, từ hoàng hậu phi tần đến cung nữ đều phải học may vá, không được chi tiêu lãng phí công qũy nữa. Đằng sau những câu chuyện khôi hài về tính hà tiện của Đạo Quang có thể nhìn ra một đạo lý.

Đạo lý đó là, Nhà nước không làm ra của cải, cũng có nghĩa là không tạo ra tiền, không tạo ra tiền thì không được chi xài phung phí. Dưới chế độ bản vị vàng cũng như việc dùng bạc nén làm tiền dưới thời hoàng đế Đạo Quang, điều này là vô cùng dễ hiểu. Tiền mà Nhà nước có là do các công dân đóng góp, dưới hình thức thuế. Chi dùng cho toàn bộ các hoạt động của Nhà nước chỉ trong khoản thuế này, không có gì khác.

Không phải luật lệ về chi tiêu, cũng không phải những lời kêu gọi tiết kiệm, mà chính bản vị vàng đã tự động khống chế việc chi tiêu của Nhà nước.

Trước khi phế bỏ bản vị vàng, chi tiêu của Chính phủ Mỹ rất khiêm tốn : chỉ ở mức 3% GDP ở cấp liên bang và 9% GDP ở cấp b
ang và địa phương.

Sau khi phế bỏ bản vị vàng, bất chấp có chiến
tranh hay không, bộ máy nhà nước cũng ngày càng phình to ra kéo theo tốc độ chi tiêu tăng vọt. Năm 1940, chi tiêu liên bang tăng lên 13% GDP, tỷ trọng gấp hơn 4 lần, và đến năm 2008, chi tiêu liên bang vọt lên 27% GDP, tỷ trọng gấp 9 lần so với thời điểm trước khi phế bỏ bản vị vàng. Tại thời điểm năm 2008, tổng chi tiêu của Nhà nước (bao gồm liên bang, bang và địa phương) lên tới 45% GDP.


Có thể khẳng định chắc chắn rằng nếu không phế bỏ bản vị vàng thì bộ máy Nhà nước không thể phình to lên và không thể chi tiêu vô tội vạ như thế được. Nhưng Nhà nước luôn luôn có đủ lý do biện minh bằng những học thuyết, những công trình khoa học và bằng phương tiện truyền thông áp đảo. Khi thì để tiến hành chiến tranh, hết chiến tranh thì làm sứ mệnh cao cả bảo đảm “công bằng xã hội”, bảo vệ sức khỏe, bảo vệ môi trường, chống khủng bố và hàng loạt những lý do “chính đáng” khác.

Lòng ái quốc, sự cao cả của “sứ mệnh công bằng xã hội”, sự sợ hãi đối với bệnh tật, đối với rủi ro bất trắc … là những điều rất dễ thuyết phục giới trí thức và người dân, nhất là thành phần chi phối nền dân chủ là giới cử tri trung lưu đông đảo (middle America). Nhiều trí thức liêm khiết đã lên tiếng về tình trạng thổi phồng quá mức tính chất nghiêm trọng c
ủa những vấn đề xã hội, như HIV/AIDS và các thứ dịch bệnh, vấn đề đe dọa an ninh (gần nhất là việc tấn công Iraq), vấn đề môi trường…. Nhưng tiếng nói của họ đều lạc lỏng, không được công chúng ủng hộ. Chúng ta thử tưởng tượng nếu còn bản vị vàng thì tình hình sẽ ra sao ? Chắc chắn sự nghiêm trọng của những mối đe dọa sẽ xẹp xuống bằng với tính chất thực của nó.

Vì lòng ái quốc, vì những “sứ mệnh cao cả” và vì sự an toàn của mình mà người dân Mỹ sẵn chịu gánh nặng thuế má và đán
h mất dần tự do của mình để ủng hộ Nhà nước. Vào năm 1928, người dân đóng góp cho chính phủ thông qua thuế với số tiền tương đương với hơn 1,3 tháng làm việc một năm, ngày nay con số này đã lên đến 5,3 tháng, tức là mỗi năm người Mỹ phải dành gần một nửa thời gian để làm việc không công cho Nhà nước. Người Mỹ hiện đại đang đem một phần tự do mà cha ông họ dày công vun đắp để đổi lấy sự an toàn, đúng hơn là đổi lấy những ảo tưởng về an toàn.

Nhưng thuế là một chuyện và vai trò của nó chủ yếu nhằm tái phân bổ thu nhập mà mục tiêu là để làm “yên lòng” tầng lớp c
ử tri trung lưu chi phối nền dân chủ. Khi phế bỏ bản vị vàng rồi thì ngoài thuế, việc “tăng chi” của Nhà nước còn có hai nguồn quan trọng hơn : vay mượn và in tiền để thu thêm thuế trá hình bằng lạm phát. Hai chuyện này có mối liên quan chặt chẽ với nhau.

Cần nhớ rằng sau khi lập quốc, nước Mỹ chỉ nợ vẹn vẹn 75 triệu USD vào năm 1791, đây là khoản vay mượn phục vụ cho chiến tranh giành độc lập chứ không phải vay mượn để tiêu xài. Nhưng chỉ mấy năm sau, khoản nợ này đã được trả hết (1802) và suốt hơn 1 thế kỷ tiếp theo, tuy một số thời điể
m cũng có gia tăng nợ nần, nhưng nhìn chung không đáng kể. Còn giờ đây thì sao ?

$11,607,335,475,299.34 (mười một ngàn sáu trăm lẻ bảy tỷ ba trăm ba mươi lăm triệu bốn trăm bảy mươi lăm ngàn hai trăm chín mươi chín đô la, tính tròn). Đó là tổng số nợ quốc gia liên bang Hoa Kỳ, “nhảy” trên đồng hồ báo nợ quốc gia đặt tại New York lúc 11:05:44 (AM, GMT), ngày hôm nay, 22-7-2009.

Người ta tính, kể từ ngày 28-9-2007 đến nay, nợ liên bang tăng bình quân mỗi ngày … 3.92 tỷ đô la. Tốc độ tăng trưởng nợ của nước Mỹ gấp 5 lần tốc độ tăng trưởng GDP.


Với dân số 306,593,781 người tính đến cùng thời điểm, mỗi người Mỹ phải gánh tới $37,859.00 (ba mươi bảy ngàn tám trăm năm mươi chín đô la) nợ liên bang.


Số tiền khổng lồ nói trên mới chỉ là nợ quốc gia liên bang, tức là tiền do nhà nước trung ương vay mượn. “Thi đua” với nhà nước liên bang, chính quyền các bang, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp và người dân cũng vay nợ, đưa tổng số nợ của toàn nước Mỹ lên tới một con số không thể tưởng tượng nổi : 57 ngàn tỷ đô la (tính đến năm 2008), bình quân mỗi người Mỹ không kể già trẻ lớn bé đang phải gánh một khoản nợ 186 ngàn đô la, mỗi gia đình gánh một khoản nợ 746 ngàn đô la.


Cả nước Mỹ đang chi tiêu quá xa so với khả năng của mình. Chính phủ lấy gì trả nợ ? Lấy khoản thuế “trong tương lai”. Người dân lấy gì trả nợ ? Lấy thu nhập “trong tương lai”.

Nợ nần là điều làm các nhà lập quốc Hoa Kỳ luôn bất an, luôn lo lắng, luôn ghê tởm, thậm chí đem tính mạng của mình ra để ngăn chặn, lại là điều các nhà kinh tế học chính thống và các chính trị gia hiện đại mặc nhiên coi là chuyện bình thường. Chỉ một khoản sơ hở trong Hiến pháp (Quốc hội được quyền vay nợ), có lẽ đó chỉ là điều khoản đề phòng bất trắc địch họa thiên tai, điều khoản mà Jefferson thấy trước nguy cơ nhưng không đủ sức xóa bỏ, hơn hai trăm năm sau đã biến nước Mỹ thành một biển nợ. Và các nhà kinh tế, theo chân các chính trị gia và các nhà tài phiệt, đã xây dựng các học thuyết kinh tế nhằm hợp lý hóa những núi nợ đó, nhưng phớt lờ luôn một điều khoản quan trọng khác trong Hiến pháp là phải trả nợ bằng tiền vàng hoặc bạc.

Muốn hiểu nợ, in tiền và lạm phát một cách có bài bản, trước hết phải h
ọc thuộc lòng các “bảo điển” của thầy Keynes và các chiêu thức biến hóa của các đồ đệ của thầy. Muốn “sống chung” với nợ thì không có cách nào là phải luyện các “bảo điển” đó.

Còn muốn học tự do, thì có thể học nhiều điều từ các nhà lập quốc Mỹ thế kỷ 18-19. Học tự do từ các thầy keynesian chính thống của nước Mỹ ngày nay chẳng khác nào tự “thiến” luôn tự do của mình.

(lúc nào rảnh viết tiếp)



Lọat bài liên quan :
Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu

10 nhận xét:

  1. Việc thổi phồng vấn đề an ninh để tấn công Iraq thì mọi người đều biết. Nhưng vẫn chưa rõ những dẫn chứng, ví dụ nào cho việc thổi phồng vấn đề môi trường, vấn đề xã hội... là như thế nào? Có phải nước Mỹ thực sự "quá" quan tâm tới vấn đề môi trường chăng?

    Trả lờiXóa
  2. Có rất nhiều dẫn chứng. Chẳng hạn, trong cuốn "The commanding Heights" (Những đỉnh cao chỉ huy), hai tác giả Daniel Yergin và Joeph Stanislaw có đưa ra một số ví dụ : Trong một vụ kiện kéo dài 10 năm với bốn mươi ngàn trang tài liệu, một nhà thầu đã không chấp nhận trả một khoản tiền 9,3 triệu USD để loại bỏ một lượng nhỏ chất PCB loãng và "những hợp chất hữu cơ dễ bay hơi" (gồm thành phần bezen và xăng) nhằm tránh cho những đứa trẻ hít phải chất độc hại. Thẩm phán Breyer, người thụ lý vụ kiện này, đã đặt vấn đề trong một cuốn sách của mình : Bỏ ra 9,3 triệu USD để bảo vệ những đứa trẻ mà thực tế là không một đứa trẻ nào đến đây cả. 9,3 triệu USD đó đã mua được bao nhiêu an toàn ? Ví dụ khác : Ước tính rằng việc (thực hiện các quy định) cấm trẻ em mặc quần áo ngủ không bắt lửa sẽ khiến chi phí để cứu một người là gần 1 triệu USD. Và một quy định nhằm hạn chế những công việc phải tiếp xúc với chất formaldehyde cho thấy việc cứu sống một người phải mất đến 93 triệu USD.

    Trả lờiXóa
  3. Trước đây tôi có xem một bộ phim của Mỹ (xem lâu rồi nên quên tên). Phim nói về một người đàn ông ly hôn, có 3 đứa con nhỏ. Anh ta có bạn gái, mỗi lần bạn gái anh ta đến, mấy đứa nhỏ lại ra chơi bên ngoài. Theo dõi chuyện này, cảnh sát đã bắt cả 3 đứa để đưa vào trại nuôi dạy trẻ, lý do : Bảo vệ trẻ em, vì người đàn ông này không đủ điều kiện nuôi dạy con. Anh ta đã tìm tất cả mọi cách, nhưng không thể nào đưa được những đứa con của mình về nhà. Chính quyền bảo, muốn đưa những đứa trẻ về thì anh ta phải bảo đảm cho mỗi đứa một phòng riêng. Vào trại của nhà nước, ba đứa trẻ lành mạnh bình thường này đã phản ứng. Và người ta kết luận là chúng đã bị bệnh tâm thần. Theo quy định (để bảo toàn nòi giống), người bị bệnh tâm thần phải bị triệt sản.

    Kết quả cuối cùng là : Sau một thời gian làm việc cật lực để tạo được một ngôi nhà có đủ phòng cho các con, anh ta mới đưa được con về nhà với một cuộc đời tan nát, trong đó một đứa đã bị triệt sản.

    Bảo vệ trẻ em, mục đích xã hội của việc này đương nhiên là tốt. Nhưng hậu quả rất nhiêu khi là như thế đấy !

    Trả lờiXóa
  4. Những dẫn chứng ở trên chỉ nói lên rằng văn hóa và pháp luật Mỹ có nhiều quy định khác với Việt Nam chứ chưa chỉ ra được họ thái quá trong vấn đề bảo vệ môi trường, bảo vệ an sinh xã hội.

    Ở các nước phương Tây, quy định về an toàn lao động, an toàn giao thông, an toàn trong công nghiệp rất khắt khe. Thế nên họ mới không có tình trạng như Việt Nam là có tới hơn 2 vạn người tử nạn vì tai nạn giao thông mỗi năm, cũng như tỷ lệ tai nạn lao động của Việt nam cao hơn của các quốc gia đó rất nhiều. Thế nên, nếu chỉ ngồi tính toán tiền vs. an toàn như mấy vị luật sư được thuê thì chưa chắc đã đánh giá đúng thực trạng.

    Về bộ phim của Mỹ thì khó làm dẫn chứng thuyết phục được, vì ở Mỹ phim ảnh rất tự do, không như Việt Nam phải theo định hướng. Xem phim Mỹ, thấy nước Mỹ rất bạo lực - suốt ngày bắn giết, khủng bố v.v... nhưng thực tế không phải là như vậy. Cũng như xem phim Hồng Kông, thấy luôn có những băng đảng tội phạm này kia nhưng thực tế Hồng Kông lại là trung tâm tài chính hàng đầu của châu Á. Còn xem phim Việt Nam rồi kết luận 'Cảnh sát hình sự' Việt Nam là tuyệt vời nhất quả đất... thì đúng là... chỉ có trong phim.

    Thực tế là hiện nay, nước Mỹ là nước duy nhất trên thế giới còn chưa chịu ký vào hiệp ước Kyoto để cắt giảm khí thải CO2.

    Trả lờiXóa
  5. Những dẫn chứng này không dẫn đến kết luận gì hết, nó chỉ là một trong vô số những yếu tố khiến cho chi tiêu của Nhà nước Mỹ tăng vọt lên 45%GDP từ mức rất thấp trước khi phế bỏ bản vị vàng. Còn những tính toán về an toàn chỉ nói lên một điều : có thể bảo đảm an toàn với một mức chi phí thấp, người ta hoàn toàn có thể loại bỏ những chi phí không làm tăng thêm an toàn. Và không có những căn cứ để nói người dân nước Mỹ thế kỷ 19 thiếu an toàn hơn người dân nước Mỹ thế kỷ 20-21, khi mà chi tiêu của chính phủ tăng lên hơn 9 lần trong tỷ trọng GDP.

    Nước Mỹ chưa ký hiệp ước Kyoto là một chuyện khác, tất nhiên trong đó có việc nếu ký thì nước Mỹ sẽ giảm thu nhập doanh nghiệp và tăng chi tiêu chính phủ, vì lượng C02 mà Mỹ đổ vào bầu khí quyển hiện tại là nhiều nhất.

    Phạm vi của bài này là so sánh chuyện nước Mỹ với chính nước Mỹ, không so sánh chuyện của nước Mỹ với chuyện của Việt Nam.

    Trả lờiXóa
  6. Cảm ơn những bài viết công phu, tâm huyết và rất hấp dẫn của anh.

    Anh từng viết rằng công nghệ ngân hàng cũng như bí kíp võ công hay công nghệ hạch tâm là những phát minh lớn của nhân loại, nhưng nó đem lại được gì cho loài người thì lại tùy vào chỗ nó được sử dụng ra sao. Hoàn toàn nhất trí với anh về điểm này. Will Rogers nói "có 3 phát minh lớn kể từ khi có thời gian: lửa, bánh xe và ngân hàng trung ương"(There have been three great inventions since the beginning of time: fire, the wheel, and central banking). Dù lửa hay bánh xe tuỳ nơi tuỳ lúc có mang lại cái gì cho nhân loại, thì ai ai cũng sẵn lòng công nhận đây là hai phát kiến vĩ đại của con người.

    Một chính phủ tham nhũng thì khi được trao cho bất cứ quyền lực gì,dù lớn dù nhỏ, cũng sẽ tìm cách lạm dụng để phục vụ những lợi ích cá nhân vị kỷ hay những lợi ích nhóm đen tối. Nếu không được in tiền, không được áp đặt tiền sắc lệnh (fiat money) thì để có nhiều tiền tiêu, chính phủ có thể tăng thuế. Nếu tăng thuế mà những người bị đánh thuế đe doạ không bỏ phiếu cho nữa thì chính phủ có thể vay tiền (trong và ngoài nước)về tiêu, hoặc bán rẻ tài nguyên, hay thậm chí bán cả một phần lãnh thổ quốc gia (nước Nga chẳng đã bán cả phần Alaska cho Mỹ đấy thôi), hay mang quân đội đi nướng vào những hoạt động này nọ của nước này nước nọ để đổi lấy những quyền lợi kinh tế cho chính phủ,hay những tập đoàn thân chính phù, nhân danh vì nhân dân, v.v.

    Anh cũng có những entry nêu rõ rằng cái tâm lý đám đông (mob psychology, herd instinct, herd behaviour, herd-like reaction) trong con người có thể tạo ra những làn sóng hành vi kỳ quặc, thậm vô lý, và nhiều khi không hề có chút đạo lý nào hết.

    Keynes, khác với kinh tế học trước ông, coi tâm lý đám đông là một trong những nguyên nhân then chốt của khủng hoảng kinh tế chu kỳ, và năm 1936 ông đã dùng một danh ngữ rất nặng nề ("animal spirits"--tinh thần động vật) để miêu tả cái đặc tính cố hữu trong tâm lý người này. Và đây là một trong hai trụ cột lý thuyết trong cuốn The General Theory của Keynes. Ngày nay kinh tế học dùng uyển ngữ “consumer confidence” để thay thế cách diễn đạt thẳng tưng của Keynes, nhưng tựu trung vẫn thừa nhận rằng khi tâm lý đám đông đã bộc phát thì trong ngắn hạn không thể dùng lý lẽ phải quấy để thuyết phục công chúng được.

    Ngày nay ai nấy đều sẵn sàng thừa nhận rằng mức giá và sản lượng của một nền kinh tế do tổng cung và tổng cầu tương tác quyết định. Ta biết hàm tổng cung và hàm tổng cầu đều là những hàm số nhiều biến trong đó tâm lý của công chúng bao giờ cũng là biến số quan trọng bậc nhất.Thế mà tâm lý con người trong một số hoàn cảnh lại có đặc tính bầy đàn (herdlike), không theo một logic nhân văn nào hết, vậy để điều khiển nền kinh tế (trong đó có việc điều khiển biến số tâm lý) thì cần phải có những công cụ đặc biệt nào đó để dẫn dắt tâm lý công chúng một cách hữu hiệu, miễn sao chính phủ được trao quyền dẫn dắt phải hành động một cách vô tư, và có cơ chế kiểm soát sao cho chính phủ ấy có muốn không vô tư cũng không được. Và một trong số những công cụ đặc biệt đó là chính sách tài chính, bên cạnh một công cụ đặc biệt khác là chính sách tiền tệ. Kinh tế học Keynes thiên về chính sách tài chính hơn(điều này là đúng trong trường hợp kinh tế đang tăng trưởng âm,nhất là khi đã sa vào bẫy thanh khoản).

    Cũng cần nói thêm là không chỉ công chúng mới hay có thói bầy đàn mà bản thân các nhà khoa học cũng thế. Nhà kinh tế học chói sáng Robert J. Shiller chiêm nghiệm: "Các nhà kinh tế bản thân họ cũng rất bầy đàn trong phương hướng nghiên cứu, cho nên tránh xa những chủ đề đang thịnh hành sẽ đem lại cho ta những lợi lạc lớn" (Economists themselves are herd-like in their research directions, and so there is a lot to be gained by staying away from these common topícs.)

    Vậy khi phê phán "nhà nước mạnh" và những người nhân danh Keynesian để tiêu tiền vô tội vạ chắc hẳn bác Hoàng Hải Vân định nói rằng để chống khủng hoảng chu kỳ thì cần phải điều khiển biến số tâm lý công chúng bằng một thứ nhà nước mạnh được tổ chức khác xa với mô hình nhà nước Hoa Kỳ mà ta vẫn thấy lâu nay?

    Hải Văn

    Trả lờiXóa
  7. Nước Mỹ biến thành một biển nợ?
    Nhưng anh phải đặt trong hoàn cảnh cụ thể:
    Năng suất lao động của người Mỹ hiện nay so với người Mỹ cách đây 200 năm tăng lên biết bao nhiều lần?
    Nền kinh tế tư bản hậu công nghiệp khác biệt bao nhiêu lần so với nền kinh tế tư bản thời kỳ công nghiệp?
    Nếu chỉ là so sánh tuyệt đối như các nhà kinh tế yêu tự do thế kỷ 17, 18 thì khó có thể hình dung được về xã hội tiêu dùng ngày này, tại sao tiêu trước trả sau?
    Người Mỹ nhập khẩu đủ thứ, là con nợ lớn nhất của thế giới nhưng lại xuất đi thứ quan trọng nhất, giá trị gia tăng cao hơn hẳn - đó là các thành tựu khoa học kỹ thuật. và cả thế giới đều hai lòng cho nó vay.

    Trả lờiXóa
  8. Bài viết 'Dùng búa tạ để diệt muỗi' trên blog tuanvannguyen.blogspot.com chỉ ra sự quan tâm thái quá của Việt Nam với H1N1.

    Bài viết 'Điều lớn nhất' trên blog Osin chỉ ra sự thiếu quan tâm của Việt Nam tới vấn đề an toàn lao động trong khi theo đuổi những thứ hào nhoáng vô bổ.

    Việt Nam không công khai công bố các khoản chi tiêu của bộ máy hành chính, chứ nếu minh bạch thu-chi và hiệu quả lao động của bộ máy hành chính thì chưa chắc Việt Nam đã tốt hơn Hoa Kỳ.

    Chi tiêu của chính phủ liên bang Hoa Kỳ tăng từ 3% trước khi phá bỏ bản vị vàng, tới 13% vào năm 1940, và nay là 27% (2008), nhưng các hoạt động, các chức năng của chính phủ Hoa Kỳ có phải là vẫn giữ nguyên như trước hay không?

    Trả lờiXóa
  9. tranduong : Chi tiêu chính phủ Hoa Kỳ (cả trung ương và địa phương)là 45%, 27% chỉ là chi tiêu liên bang thôi. Vấn đề không phải là ở chỗ chức năng có giữ nguyên như trước đây hay không, mà vấn đề là ở chỗ sự phình to bộ máy đã tăng thêm tự do hay không, có tăng thêm an toàn hay không, có tăng thêm "công bằng xã hội" hay không.

    Việt Nam hàng năm vẫn công khai chi tiêu Chính phủ chứ không phải là không. Nhưng không nên so sánh chi tiêu của Hoa Kỳ với VN. Vấn đề tôi đề cập ở khía cạnh hoàn toàn khác : Chúng ta nên "học" cái gì và không nên "học" cái gì trong lịch sử nước Mỹ.

    Trả lờiXóa
  10. Chú có nhận xét gì về bài "Khi người điên làm chuyện động trời..." trên báo Lao Động (18.8.2009) nhắc đến vấn đề thiếu quản lý người bệnh tâm thần trong cộng đồng? Bởi chú có nhắc tới bộ phim Mỹ cũng nhắc tới vấn đề này nhưng ở thái cực khác.

    Trả lờiXóa