Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2009

Đọc Bùi Giáng (II)


Kể từ khởi sự mọc răng
Đến bây giờ vẫn thường hằng chiêm bao
(Bùi Giáng)

“… Và ngày nay, hẳn nhiên, đã sáu năm rồi... Tôi chưa lần nào kể lại chuyện này. Những bạn bè gặp lại tôi đã hài lòng thấy tôi thoát nạn mà trở về. Tôi buồn rầu nhưng tôi bảo họ: Ấy chỉ vì mệt mỏi...

Bây giờ tôi thấy hơi an ủi. Nghĩa là... không hoàn toàn an ủi. Nhưng tôi biết rõ lắm là chú bé đã trở về tinh cầu mình, bởi vì lúc trời sáng, tôi không thấy tấm thân chú ở đâu. Tấm thân chẳng có chi nặng lắm... Và tôi thích lắng nghe tinh tú ban đêm. Ấy cũng như là năm trăm triệu chuông con lấp lánh dịu dàng reo...

Nhưng rồi lại có một sự kỳ lạ xảy ra.

Cái rọ bịt mõm mà tôi đã vẽ cho hoàng tử bé, tôi đã quên thêm vào cái đai da! Chú sẽ chẳng bao giờ cột được cái rọ vào mồm con cừu. Tôi tự hỏi: "Việc gì đã xảy ra trên tinh cầu của chú bé? Có thể rằng con cừu đã ăn mất đóa hoa..."

Lúc thì tôi tự nhủ: "Chắc hẳn là không! Hoàng tử bé đêm nào cũng nhốt kín đóa hoa dưới bầu tròn bằng gương, và chú canh chừng kỹ lưỡng con cừu..." Thế là tôi sung sướng. Và mọi tinh tú dịu dàng cười.

Lúc thì tôi tự nhủ: "Làm sao khỏi có một lúc nào đó người ta lơ đễnh, và chừng đó đủ rồi! Một đêm nào, chú đã quên cái bầu tròn, hoặc là con cừu đã mò ra không tiếng động..." Thế là những chuông con biến hết thành lệ!...

Đó là một bí mật rất lớn. Đối với bạn, bạn cũng yêu hoàng tử bé, cũng như đối với tôi, không có gì của vũ trụ còn giống như nguyên, nếu một nơi nào đó, chẳng biết là đâu, một con cừu mà chúng ta không biết, đã có hay không, ăn mất một đóa hồng...

Bạn nhìn trời đi. Hãy tự hỏi: con cừu, có hay không có ăn mất đóa hoa? Và bạn sẽ thấy mọi sự thay đổi xiết bao...

Và không một người lớn nào sẽ hiểu rằng sự ấy có hệ trọng chi nhiều như thế!”.

Đoạn trên trích trong chương cuối Hoàng tử bé (Le Petit Prince) của Saint – Exupéry, Bùi Giáng là người đầu tiên dịch cuốn sách này ra tiếng Việt.

“Lúc thì tôi tự nhủ … Thế là tôi sung sướng. Và mọi tinh tú dịu dàng cười”.

“Lúc thì tôi tự nhủ … Thế là những chuông con biến hết thành lệ”.

“Không có gì của vũ trụ còn giống như nguyên, nếu một nơi nào đó, chẳng biết là đâu, một con cừu mà chúng ta không biết, đã có hay không, ăn mất một đóa hồng…Và không một người lớn nào sẽ hiểu rằng sự ấy có hệ trọng chi nhiều như thế !”.

Những câu đó đeo đẳng trong người tôi hơn ba mươi năm, mỗi lần nhẩm lại là mỗi lần thấy mình khác trước. Hoàng tử bé, một cuốn sách huyền diệu đã làm nhân loại tốt hơn lên một chút. Nó là một cuốn Kinh, là Thánh Kinh, là Bát Nhã Ba La Mật Đa. Nhưng tại sao người đầu tiên “xiển dương” cuốn sách đó ở Việt Nam lại chính là Bùi Giáng chứ không phải là ai khác ?

Người ta bình phẩm nhiều về cái điên của Bùi Giáng. Nói ông điên thật hay nói ông “điên nhưng không điên” đều không sai. Nhưng điên thì có sao đâu. Tôi rất thích cách nghĩ của Mai Thảo trong một bài viết về Bùi Giáng : “Nhiều người bảo ông chỉ là một thằng điên. Tôi chỉ muốn nghĩ thầm cho tôi là nếu có thêm được ít người điên như Bùi Giáng, thơ ca ta văn học ta còn được lạ lùng được kỳ ảo biết bao nhiêu”. Là bởi ông điên, nên ông mới đi lạc vào sa mạc để dìu cõi uyên nguyên Saint-Ex về với bình nguyên ngôn ngữ Việt ?

Đối với người thường chúng ta, thực là thực, mộng là mộng, hai cái xa rời cách biệt. Đối Bùi Giáng, hai cái chỉ là một, cõi nọ liền với cõi kia như “trường giang thiên tế lưu”, vậy là điên chăng ? Cõi đời này gò bó chật chội với những chuẩn mực những quy tắc những gông xiềng hữu hình và vô hình, ông tự mở cho dài cho rộng ra, ông mở ra cho riêng ông, mở tới tám kỳ càn khôn, tới miên viễn thiên thu để tung tăng chơi bời cho thỏa thích, vậy là điên chăng ?

Thế kỷ 20 nhân loại kêu gào tự do, nhưng càng kêu gào càng bị trói buộc, lắm khi tự trói bởi chính sự kêu gào của mình. Bùi Giáng không kêu gào Tự do, ông sống một cuộc đời tự do tự tại. Nên nhìn nhận rằng Tự do không phải là khát vọng, không phải là ước mơ của Bùi Giáng, đối với ông nó là hiện tồn hiện hữu là châu chấu chuồn chuồn.

Những sách triết học của ông mới đọc qua thấy tức cười. Chuồn chuồn châu chấu cùng Khổng Tử, Trang Tử, Nguyễn Du, Lý Bạch, các vị Bồ Tát … dắt theo các mẫu thân Kim Cương, Phùng Khánh, Marylin Monroe, Brigitte Bardot, em Mọi nhỏ … tề tựu về với Nietzsche, Kierkegaard, Heidegger, Camus… Ông trộn Kiều vào Bát Nhã Hoa Nghiêm, rắc thi ca vào tư tưởng, tung xiêm váy vào chốn tôn nghiêm. Ông giải thích : “Triết học sau bao lần dọ dẫm tơi bời ở mọi đường quanh nẻo quẹo, cuối cùng đã không còn là một bi kịch ray rứt, một suy tư nghiêm nhặt, để trở thành một lời ca vi vu” (Tư tưởng Hiện đại). Về những em út váy xiêm mà chúng ta thấy lộn tùng phèo đó, Bùi Giáng bảo đó là những “tượng-số-thiên-nhiên”, những “tượng-số-tồn-thể”, nó phải “nằm tròn trong triết học hôm nay”. Ông nghiêm túc : “Khoa học giết người, triết học giết người. Khoa học giết người, ta nhìn thấy rõ. Triết học giết người, ta không nhìn thấy rõ. Và ít ai hiểu rằng sở dĩ khoa học giết được nhiều con người đến thế là chính bởi triết học khốn nạn đã dọn đường, chính triết học hư tà đã phạm tội trước tiên. Khoa học thơ ngây được phép không ngờ. Khoa học đã hồn nhiên gieo bóng tối. Nhưng cái ghê tởm nhất là cái bóng tối từ giữa lòng triết học tỏa ra” (sđd). “Suốt hai mươi mấy thế kỷ, các ngài triết gia học giả Âu Tây đã gây điên đảo cho triết học như thế nào ? Và từ một vài thế kỷ nay, tại sao khoa học đã gieo rắc đau thương nhiều đến thế ? Phải nêu câu hỏi đó lên, ta mới rõ vì sao Einstein một mực đòi đi bán bánh mì, Heidegger cùng với Nietzsche, một mực đòi chôn vùi hay đập vỡ nền triết học từ Aristote về sau” (sđd).

Thơ ông lạ lùng kỳ ảo, đã đành rồi. Nhưng suy tư triết học của ông cũng lạ lùng kỳ ảo không kém. Tôi đã đọc đi đọc lại Nam Hoa Kinh của Trang Tử, chỉ hiểu sơ sơ vài điều, còn cái ảo diệu siêu phàm của Nam Hoa Kinh là chương “Tề vật luận” thì tôi thấy như đám mây mù. Nhưng khi đọc Bùi Giáng viết về Nam Hoa Kinh tôi thấy khiếp. Ông nô đùa bỡn cợt với Trang Tử, khi thì “Ta – Ngươi”, khi thì “Tao – Mày”. Ông chép ra một đoạn trong “Tề Vật luận” nguyên văn chữ Hán và bảo người dịch đã để cho “những dư vang và vọng hưởng của nguyên ngữ bị chìm tắt rất nhiều”, rồi nói “nếu như phép ngụ ngôn trùng ngôn chi ngôn của Trang tử chỉ là một lối giảng giải luộm thuộm cho ngôn ngữ lô hỏa thuần thanh của Mưa Nguồn”, thì có lẽ nào mà Trung Niên Thy Sỹ là ông đây lại từ chối nhận Trang Tử làm đồ đệ mặc dù Trang Tử “phạm nhiều tội lỗi đầy rẫy máu me” ? Ông làm một trận nhảy nhót mua may, rồi lại bảo : “Than ôi ! Trang Tử ạ ! Một ngàn vạn mẫu thân sa mù chiếu cố cho nấm mộ của ta, cũng chẳng thể nào gột rửa được nỗi đau lòng của ta trước hai ngàn năm rưỡi ngổn ngang mà nhà ngươi đã gây ra giữa dâu biển”. Nghe ông nhảy múa mà như thấy ông vén đám mây mù.

Ông bỡn cợt với Trang, nhưng không đùa với Khổng. Mấy ngàn năm nay người ta chỉ chú trọng cái phần gọi là “thánh” của Khổng Tử, tôn thờ ngưỡng vọng cũng ở đó mà chê bai mạt sát cũng ở đó, phần đó Khổng Tử bán mình cho nhân gian, còn phần “người” của ông thì ông không bán mà thiên hạ cũng không ai mua. Bùi Giáng viết : Tự bao đời, Khổng giáo đã chỉ còn là một mớ ước lệ câu thúc cá nhân. Và mỗi lần cha ông chúng ta nhắc “Khổng tử viết…” là mỗi lần danh từ xô bồ đã che lấp sự thật. Còn đâu cái tấm lòng dào dạt vô biên của Khổng Khưu, con người của lẽ “tùy thời biến dịch”, con người cẩn trọng “dư dục vô ngôn”…”. Và tôi chưa từng nghe ai nói về Khổng Tử như Bùi Giáng nói : “Nghe lá cây lá cỏ vi vu, ông ghi chép ra làm Dịch Kinh. Nghe trẻ con ca hát, ông chép ghi ra làm Thi Kinh”. Và bạn sẽ nhìn Khổng Tử bằng con mắt khác.

Mẹ về trong cõi người ta
Một hôm mẹ gọi con ra bảo rằng
Trần gian vui sướng lắm chăng
Hay là đau khổ hỡi thằng chiêm bao

Ông chiêm bao thường hằng, nên ông gọi ông là “thằng chiêm bao”. Chiêm bao là hiện tại là quá khứ là tương lai là vô thỉ vô chung là quê hương bản quán : “Hỗn mang về giữa quê nhà/Bây giờ cố quận tên là chiêm bao”.

Cuộc vui sắp chấm dứt rồi
Hãy xin tiếp tục bồi hồi cuối cơn
Em vui ngày đó dập dồn’
Giờ xin gắng gượng bồn chồn cũng vui
Ngày mai dâu biển chôn vùi
Trầm phù tiếp tục niềm vui suối vàng

Bùi Giáng “cuồng” Huy Cận có lẽ ngang với “cuồng” Nguyễn Du. Đọc lại bài ông viết về Huy Cận trong tập “Đi vào cõi thơ”:

“… Bao nhiêu màu quan san ly biệt bàng bạc trong Truyện Kiều, bỗng nhiên về quy tụ tinh hoa trong một bài “Thuyền Đi” của Huy Cận.
Trăng lên trong lúc đang chiều
Gió về trong lúc ngọn triều mới lên
Thuyền đi sông nước ưu phiền
Buồm treo ráng đỏ giong miền viễn khơi


Sang đêm thuyền đã xa vời
Người ra cửa biển nghe hơi lạnh lùng
Canh khuya tạnh vắng bên cồn
Trăng phơi đầu bãi nước dồn mênh mang


Thuyền người đi một tuần trăng
Sầu ta theo nước trường giang lững lờ
Tiễn đưa dôi nuối đợi chờ
Trông nhau bữa ấy bây giờ nhớ nhau.

Lời thơ đi phiêu phiêu, tuyệt nhiên không thấy dấu vết một chút kỹ thuật nào còn vướng sót. Tưởng như không còn một chút cố gắng tìm lời lựa ý gì hết cả. Nguồn thơ ngập tràn dâng lên nhẹ nhẹ, len lõi thấm nhuần mọi ngôn ngữ ly biệt Nguyễn Du và toàn thể Đông Phương Lữ Thứ, Tây Phương Lang Thang.

Các bạn thử thong dong hình dung lại cái khối Đường Thi Vương Duy, Lý Bạch, Thôi Hiệu, Thôi Hộ, Cao Thích, Sầm Tham, Apollinaire, xem thử có một cái gì lọt ngoài vòng lục bát Huy Cận kia chăng.”

Ông lai rai nhâm nhi từng câu từng đoạn, khiến ta như thấy những câu thơ đó bay lượn dặt dìu trong cõi hồn uyên nguyên bát ngát của ông, rồi hạ bút đưa Huy Cận lên chín tầng mây :

“Bấy lâu chúng ta quen nghĩ rằng Huy Cận chỉ là nhà thơ có cảm giác bén nhạy và tài hoa riêng biệt trong phép tả cảnh tả tình sầu. Nhưng thật ra Huy Cận là khối óc vĩ đại đạt tới một cõi tư tưởng bát ngát nên tự nhiên như nhiên, lời thơ ông đi vào trong phong cảnh bao la, dội vào đáy thẳm thiên nhiên, và gửi lại cho ta những dư vang bất tận. Khối óc kia cũng là thông tuệ của tâm thể thiên tài”.

Rồi bất ngờ dẫn ra bài thơ Chết của Huy Cận, ông viết tiếp :

“Huy Cận tặng Thần Chết một bài thơ cảm động. Nói là tặng Thần Chết nhưng cũng là dâng cho Cuộc Sống. Cuộc Sống ôi! Hình dạng của Thần Chết đã ra như thế thì Thánh Sống nghĩ sao?
Ắt nghĩ rằng: nên kiệt tận miên bạc bình sinh để sống cho đậm đà thơ mộng. Vì không làm thế, thì cái sống sẽ giống tợ tợ như cái chết.

Cái chết trông dị dạng quá. Mà hằng ngày vô tình ta sống theo lối chết đó. Tuy không đến nỗi căm căm gớm guốc như thế, nhưng cũng tai hại điêu linh gần bằng. Chúng ta dường như quên mất rằng mỗi người chỉ có một cuộc sống thật xinh, và cuộc sống đó rất có thể bị những thứ tai hại trong hồn ta làm cho méo mó đi. Và meo mốc tử khí bám đầy rẫy cái hình hài cuộc sống.

Tiếc sao! Tiếc sao! Một sự sống quá đơn sơ, chúng ta cứ đời đời quên bẵng.

Xin một lần thử thong dong nhìn lại rõ bộ mặt cái chết, để hỏi lại linh hồn mình nên nhớ lại chuyện chi.

Thì từ đó rất có thể rằng cái chết hãi hùng sẽ là một cơ hội huy hoàng cho cái sống thành tựu được tinh hoa. Ta sẽ nhìn các em, các em sẽ nhìn con chim, con cá. Con cá sẽ nhìn con giế con giun… Mọi mọi sinh vật sẽ mọi mọi nhìn nhau bằng một nhãn quan khác hẳn. Và cõi đời từ đó sẽ đúng là đời cõi của yêu thương.

Đức Phật ôi! Chính Ngài đã có cái dụng tâm giống như chàng Huy Cận. Ngài đã đem những não nùng sinh lão bệnh tử ra nói lên cho kiếp phù du thể hội cái nghĩa não nùng, là phát nguyện bi tâm để dìu tồn sinh về bỉ ngạn…”
.
Và không quên mời thêm cụ Nguyễn Du, ngài Heidegger, chàng Apollinaire… và đưa cả mẫu thân Marilyn Monroe vào cuộc lai rai. Ông thú nhận khi nghe tin Marilyn Monroe lìa đời, ông đã buồn bã suốt mấy tháng, ông bảo “phải chi bình sinh nàng Monroe đọc thơ Huy Cận”… Ông chép tặng nàng thêm bài Nhạc Sầu, bài thơ chết thứ hai của Huy Cận, rồi viết tiếp :
“Nhưng cố nhiên, chép xong rồi thì nên xếp giấy lại, ra đường phố dạo một phen rong chơi. Để nhìn lại đậm đà những tà áo phấp phới. Chẳng nên đăm chiêu dằng dặc. Chẳng nên o bế cái chết. Kéo dây dưa cuộc tình duyên với Tử Thần, là điều tối kị. Nó có tính ăn hiếp. Ta lân la chơi đùa với nó, thì nó rút mòn xương tủy ta. Bây giờ nên ngâm chơi vài vần “Tặng Em Mười Sáu” của Huy Cận…”.
Tôi chưa thấy ai nói về thơ thú vị như Bùi Giáng.
(còn tiếp)
HOÀNG HẢI VÂN
(bài đăng trên quandodo.com

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét