Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2009

"Vô vi nhi trị"


Nhà Hán là triều đại tồn tại tới 426 năm (206 TCN-210 CN), dài nhất trong lịch sử Trung Quốc, kể từ sau Nhà Chu. Công lao khai quốc dĩ nhiên là của Hán Cao tổ Lưu Bang cùng các công thần Trương Lương, Tiêu Hà, Hàn Tín… Nhưng người đặt nền móng vững chắc cho sự dài lâu của Nhà Hán chính là Hán Văn đế Lưu Hằng (trị vì 180 TCN- 157 TCN) và con ông là Hán Cảnh đế Lưu Khải (trị vì 157 TCN-141 TCN). Đó là hai vị hoàng đế khoan hòa bậc nhất Trung Hoa. Thời của hai ông được lịch sử ca tụng là thời “Văn Cảnh chi trị”.


Trong Nhị thập tứ hiếu, Hán Văn đế được xếp thứ hai. Sau đây là trích đoạn diễn nôm của Lý Văn Phức :


Kìa Văn Đế vua hiền Nhà Hán
Vâng ấn phong ngoài cõi phiên Vương,
Quên mình chức cả quyền sang,
Phụng thờ Bạc Hậu lẽ thường chẳng sai,
Đến khi nối ngôi trời trị nước,
Vẫn lòng này săn sắc như xưa.
Mẹ khi ngại gió kinh mưa.
Ba năm hầu hạ thường như một ngày.
Mắt chong bóng dám sai giấc ngủ.
Áo luôn mình dám sổ đai lưng.
Thuốc thang mắt xét tay nâng.
Nếm tường trong miệng mới dâng dưới màn.
Tiếng nhân hiếu đồn vang thiên hạ,
Thói thuần lương hóa cả lê nguyên,
Hai mươi năm lẽ kiền khôn…


Sử cũng chép rằng, Hán Văn đế từ khi còn làm Vương cho đến khi làm Đế, đều hàng ngày cơm bưng nước rót, tự mình chăm sóc mẹ. Sau mỗi buổi chầu, ông cứ mặc triều phục đi thẳng đến vấn an, hầu hạ mẹ. Khi mẹ ốm, thái y đem thuốc đến, ông nếm thuốc trước khi dâng mẹ uống. Sợ thái y không vui, ông từ tốn giải thích, rằng không phải trẫm không tin các khanh, cũng không phải trẫm đánh giá thấp y thuật của các khanh, nhưng trẫm sợ các khanh làm việc mệt nhọc, khi mệt nhọc thì khó tránh khỏi sai sót, bởi vậy nếu các khanh có sơ sót thì trấm phải chịu thay để giữ bình an cho mẹ trẫm. Từ tấm gương của Hán Văn đế mà thiên hạ đề cao Hiếu kinh, coi đó là một trong những cái Đạo làm Người.


Trần Nhân Tông, ông vua anh hùng và là một “Phật Hoàng” của nước ta , có nhắc đến Hán Văn đế trong bài thơ Cây Mai (bản dịch của thiền sư Lê Mạnh Thát) :


Sắt đá gan lì khinh tuyết sớm

Khăn xiêm mộc mạc gió đông luồn

Trần gian kiệm ước Hán Văn Đế

Thiên hạ anh hùng Đường Thái Tông.


Còn Trần Anh Tông, cũng là một minh quân Nhà Trần, có riêng một bài thơ về Hán Văn đế :


Hình thố tô khoan diệc chí nhân

Dưỡng thành tứ bách Hán gia xuân

Dặc đề tiêu đắc thân thanh kiệm

Bất phí công thần, phí lộng thần


Tạm dịch :

Nhẹ hình phạt, giảm thuế má, (Hán Văn đế) là bậc chí nhân

(Bởi vậy mà) tạo nên cơ nghiệp nhà Hán bốn trăm năm

Mặc áo sồi thâm để giữ thân thanh kiệm

Không “phí” công thần mà “phí” lộng thần.


(Chữ “Phí” () trong câu này rất khó dịch. Trong một bản dịch của bà Phạm Tú Châu, câu này được dịch là “So sẻn công thần, nới lộng thần”. Tôi có hỏi thầy Lê Mạnh Thát, thầy Thát bảo câu này chưa đến mức phê phán Hán Văn đế nhưng Trần Anh Tông có ý “hờn” ông vì ông khắt khe với các công thần mà rộng rãi với các bề tôi mới để họ lộng hành, có lẽ do Hán Văn đế là ông vua trẻ, lên ngôi khi mới 22 tuổi. Tôi vẫn chưa thông cách giải thích này, vì thực tế các công thần như Trần Bình, Chu Bột… đều được trọng dụng, làm đến tả hữu thừa tướng, còn những người trẻ như Giả Nghị, Tiều Thác…đều là những nhân tài. Trần Anh Tông nghĩ là Hán Văn đế chỉ nghe ý kiến của “lớp trẻ” và bỏ qua ý kiến của “lớp già” chăng ? Mong các bậc thức giả chỉ giáo tiếp).


Xin nói rõ là Hán Văn đế hoàn toàn không nằm trong số những ông vua có tư tưởng “bành trướng Đại Hán”.Cũng xin nói rõ thêm là Hán Văn đế cai trị Trung Hoa cùng thời với Triệu Đà cai trị nước Nam Việt. Dù ta coi nước Nam Việt là “nước ta” như sử sách ghi hay coi nước Nam Việt “không phải là nước ta” như lập luận của thiền sư Lê Mạnh Thát, thì Hán Văn đế vẫn là ông vua Tàu không can hệ gì đến việc đô hộ nước ta. Thời của ông, Trung Quốc sống hòa bình với bốn phía. Quân đội của Hán Văn đế chỉ làm nhiệm vụ đánh trả mỗi khi có bên ngoài xâm phạm lãnh thổ, chứ không phải ngược lại.


Nhưng điều đặc biệt tôi muốn đề cập ở đây là tư tưởng trị quốc của Hán Văn đế (và Hán Cảnh đế). Ngay sau khi lên ngôi, ông xuống chiếu cho các nơi tiến cử người tài. Trong khi đối ngoại ông thực hiện hòa hiếu thì đối nội ông thực hiện an dân.


Thứ nhất là giảm nhẹ thuế má. Không lâu sau khi lên ngôi, Hán Văn đế ra chiếu giảm thuế và lao dịch. Thuế giảm xuống một nửa, từ mức 1/15 xuống 1/30 sản lượng. Năm 178 TCN, miễn thuế 3 năm cho dân Tấn Dương và Trung Đô. Năm 167 TCN, miễn thuế ruộng cả năm cho toàn dân. Đối với lao dịch, trước đây mỗi năm người dân phải đi 1 lần, Hán Văn đế giảm xuống 3 năm mới đi 1 lần. Đồng thời ông ra chiếu nghiêm cấm các châu quận cống cho triều đình những “kỳ trân dị vật” và miễn luôn việc tiến công bình thường vào những lúc thiên tai. Đây là điển hình của “khoan sức dân” trong lịch sử. Nhưng điều đáng lưu ý là việc giảm thuế, miễn thuế hoàn toàn không làm cho quốc khố thiếu thốn mà ngược lại, chính sách này đã kích thích mạnh mẽ việc làm ăn của dân, khiến cho của cải dồi dào, cả nước phồn thịnh, nhờ vậy mà quốc khố cũng đầy ắp tiền của. Sử sách còn ghi vào thời Văn đế và Cảnh đế, tiền trong kho dư thừa đến mức các sợi dây xâu tiền mục nát hết, còn lương thực thì không có đủ kho để chứa. Khắp nơi no đủ, dân không ai đói kém.


Thứ hai là giảm nhẹ hình phạt. Hán Văn đế không tán thành những đề xuất của các công thần giữ nguyên pháp chế của đời trước thực hiện hình phạt nặng để răn đe dân chúng. Ông quyết định bãi bỏ nhục hình (cắt thân thể), thay nhục hình bằng lao dịch hoặc đánh roi, nặng nhất đánh từ 300 đến 500 roi. Nếu phạm nhân bị đánh chết thì Giám quan phải đền mạng. Đến thời Hán Cảnh đế, mức đánh roi giảm xuống còn 100-200 roi và quy định chỉ được đánh vào mông. Nói chung, thời Văn đế, Cảnh đế, hình phạt rất nhẹ, nhưng dân chúng không mấy người phạm tội, nên Nhà nước không phải dùng đến hình pháp.


Thứ ba là giảm mạnh chi tiêu của Nhà nước. Mặc dù quốc khố đầy ắp, nhưng bản thân Hán Văn đế nêu một tấm gương sáng về thanh kiệm. Hàng ngày nhà vua mặc quần áo bằng vải rẻ tiền, trong cung không dùng đồ bằng vàng hoặc bịt vàng, đi xe không dùng quá 4 ngựa, không xây thêm cung điện, không tuyển thêm người hầu, không sắm thêm xe ngựa hoặc đồ dùng xa xỉ. Văn đế, Cảnh đế còn giảm mạnh chi tiêu quốc phòng, quân đội thời bình được về nhà làm ăn sinh sống, chỉ giữ một số quân thường trực cần thiết để giữ gìn biên cương. Trước khi chết, Văn đế còn dặn việc chôn cất phải hết sức đơn giản, đồ tùy táng chỉ có gốm sứ, không chôn theo vàng bạc châu báu, không làm lăng mộ để khỏi bắt dân phải lao dịch. Ông bãi bỏ việc bắt dân chúng để tang 3 năm, chỉ để tang 7 ngày, sau 7 ngày thì để toàn dân được vui chơi.


Dưới cái nhìn ngày nay, có thể thấy Hán Văn đế, Hán Cảnh đế đã thực hiện một kiểu “Nhà nước tối thiểu” với chính sách gần giống như laissez-faire ở phương tây thế kỷ 19, Nhà nước không can thiệp vào cuộc sống của người dân. Bởi vậy mà đất nước thịnh vượng, dân chúng yên vui, bốn phía hòa bình. Chính sách trị quốc của hai ông còn được lịch sử gọi là “vô vi nhi trị”. Gần 2000 năm sau, tư tưởng "vô vi nhi trị" được Thomas Jefferson, tác giả bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ khác : "Government that governs least governs best".

2 nhận xét:

  1. Chữ "phí" căng thẳng quá anh hè! Hi dzọng sớm "hữu duyên ngộ phí"!!hihi

    Trả lờiXóa
  2. Nhà nước tối thiểu nói trên là ước mơ xa vời trong vài chục năm tới

    Trả lờiXóa