Thứ Sáu, ngày 30 tháng 1 năm 2009

Vĩnh biệt thầy Vĩnh Linh


Anh Lê Đức Hùng gọi điện bảo thầy Vĩnh Linh đã mất tối hôm qua. Nghe buồn thê thảm.


Tôi chưa học thầy ngày nào nhưng thầy Vĩnh Linh thực sự là Thầy của tôi đúng nghĩa. Lần đầu tiên tôi biết tên thầy là khi đọc bài báo đầy hào khí “Thư gửi anh Vĩnh Linh” của linh mục Nguyễn Ngọc Lan đăng trên tạp chí Đối Diện (có thể tôi không nhớ chính xác tựa đề của bài báo, nhưng nội dung bài báo là một bức thư). Lúc đó thầy đang bị chính quyền Sài Gòn bắt giam vì tham gia phong trào trí thức yêu nước miền Nam. Từ bài báo đó mà tôi ngưỡng mộ thầy.


Khi thầy ra tù, lần đầu tiên được gặp thầy tôi mừng hết lớn. Hồi đó tôi chỉ là một thằng học trò khố rách áo ôm không nhà không cửa. Một anh lớn tuổi tham gia phong trào học sinh Đà Nẵng, là anh của bạn tôi, đã đưa thầy đến gặp tôi tại một quán cà phê ở cổng trường tôi học trên đường Cao Thắng (Đà Nẵng). Tôi gắn bó với thầy từ ngày đó. Thầy đã dạy tôi rất nhiều điều, bằng chính cuộc sống của thầy, chứ không phải bằng những lời thuyết giáo.


Những năm đầu sau ngày đất nước hòa bình, cách vài hôm tôi lại đến nhà thầy, như một thói quen, nhiều khi đến chỉ đọc sách rồi về, không nói với nhau câu nào hết. Thời gian đó tôi thấy thầy ngày càng trầm tư, ngày càng ít nói, có những chuyện thầy nói tôi cũng không hiểu được, mãi nhiều năm sau tôi mới nhận ra.


Chiến tranh biên giới nổ ra, tôi vào bộ đội chống bành trướng, từ đó không đến nhà thầy nữa. Sau này từ bộ đội về, tôi có làm việc cùng cơ quan với thầy trong một thời gian. Rồi cuộc sống cứ trôi đi, rồi chuyện này chuyện kia ập tới. Tôi rời Đà Nẵng, hơn 10 năm không gặp thầy. Cho đến khi cựu linh mục Nguyễn Ngọc Lan qua đời, báo Thanh Niên đăng bài, và sáng hôm ấy thầy đã gọi điện cho tôi…


Thầy Vĩnh Linh là một trí thức công giáo. Đức tin vào Chúa Ki-tô và sự dấn thân của người trí thức cho dân tộc ở thầy không hề có mâu thuẫn. Hòa bình lập lại thầy được bầu vào Quốc Hội, được cử giữ một chức vụ trong Mặt trận. Nhưng tôi biết thầy không thích hợp với cơ chế tập trung quan liêu, nên thầy đã sớm xin nghỉ việc về nhà sống lặng lẽ với vợ con, tránh phải nói những điều mình không nghĩ, tránh phải làm những điều mình thấy không đúng. Đó là cách thầy bảo toàn danh tiết.


Điều lớn nhất mà thầy Vĩnh Linh dạy cho tôi là sự suy nghĩ độc lập, là sống một cuộc sống riêng của mình, không sống theo “bầy đàn”.

Thứ Năm, ngày 29 tháng 1 năm 2009

"Tôi cam đoan giải quyết triệt để vấn đề lũ lụt"


Mồng ba, gọi điện thoại chúc tết Hoàng Đình Bá. Ông không chúc tụng mà hào hứng nói luôn “chuyện quan trọng”. Đối với ông Bá, cái gì liên quan đến rừng đều là chuyện quan trọng. Tôi còn nhớ có lần mồng một tết đến nhà ông, vừa nói chuyện mấy câu ông đã đem luôn bản đồ thổ nhưỡng ra rồi say sưa câu chuyện về rừng, quên luôn khách đến là để chúc tết. Tôi đã gặp nhiều người già miền quê Quảng Nam gọi Hoàng Đình Bá là ông thần rừng. Ông đúng là ông thần rừng thứ thiệt.


Hôm nay ông bảo hai tháng nữa ông sẽ trình với các cơ quan có thẩm quyền toàn bộ hồ sơ về một chương trình khoa học và hành động liên quan đến rừng (vì nói chuyện qua điện thoại nên tôi không nhớ tên gọi của chương trình, chỉ nhớ hai nội dung là : An ninh sinh thái tự nhiên và An sinh sinh thái xã hội nhân văn).


Thật ra hơn 20 năm trước tôi đã nghe ông trình bày ý tưởng về một dự án lập một vòng cung từ Sơn Trà qua Hải Vân làm “Vườn quốc gia”. Chính tai tôi nghe giáo sư Trần Quốc Vượng phát biểu sau khi nghe ý tưởng của ông : “Nếu có sự kết hợp hài hòa nhất giữa tự nhiên và xã hội thì sự kết hợp đó chính là Hoàng Đình Bá”.


Nay nghe chương trình này tôi hỏi nó có khả thi không, ông nói : “Khả thi chứ”. Mấy chục năm nay lúc nào ông cũng nói vậy, cả khi bị người ta đánh cho tả tơi xác mướp ông vẫn ngây thơ tin vào thiện chí của con người. Và tôi lại bị ông thuyết phục.


Ông là “kiến trúc sư” của chương trình này, nhưng theo ông nó là kết quả của tâm huyết và trí tuệ của hàng trăm nhà khoa học bắt đầu từ sau trận lụt lịch sử ở miền trung năm 1964, trong đó có giáo sư Tạ Quang Bửu.


“Sản phẩm” của chương trình sẽ là sự phục hồi, tôn tạo một Khu sinh quyển 1 triệu ha, trong đó có một Vườn vạn vật 200 ngàn ha, tại Quảng Nam-Đà Nẵng. Đây sẽ là Khu sinh quyển (gồm các yếu tố đất, nước, sinh vật, khí hậu) và Vườn vạn vật tầm thế giới, là “bách khoa toàn thư” về gen thực vật và “một số động vật”.


Hiện thực vật tại Vườn Bách Thảo (Hà Nội) chỉ có 30 loài, Thảo Cầm viên (TP.HCM) chỉ khoảng 100 loài. Trong khi thực vật nước ta có trên 1 vạn loài, thục vật nước ngoài đã vào Việt Nam khoảng 200 loài. Ta chỉ cần có 500 loài từ nước ngoài là đủ các loài thực vật trên hành tinh. Sau khi so sánh, đối chiếu, ông bảo chỉ có Quảng Nam Đà Nẵng là đủ điều kiện dung trú tất cả các loại cây trên hành tinh nên cho phép có một Vườn Vạn vật như vậy. Phạm vi của nó là rừng cấm – rừng phòng hộ được nối liền lại với nhau, trải ra trên các sườn núi cao. Nó sẽ bao hàm 37 đỉnh núi trên dãy Trường Sơn có độ cao từ 1000 mét trở lên, cao nhất là núi Ngọc Linh 2600 mét (chỉ đứng sau độ cao của Hoàng Liên Sơn). Đó sẽ là những địa điểm dung trú được các loài cây xứ lạnh. Trong Vườn vạn vật cũng sẽ có một Vườn thuốc quốc gia. Theo ông thì Việt Nam có khoảng 1500 loại cây thuốc chưa được biết và sử dụng. Cây thuốc của chúng ta có thể trị được 950 bệnh khác nhau. Vườn thuốc sẽ nằm dưới chân núi Ngọc Linh.


Ông quả quyết : “Thực hiện chương trình này tôi cam đoan giải quyết triệt để vấn đề lũ lụt”. Vấn đề hạn hán cũng được giải quyết tương tự. Đừng vội cho Hoàng Đình Bá là kẻ ngông cuồng ảo tưởng. Ngày xưa đất nước này không có lũ lụt kinh hoàng như mấy chục năm gần đây. Trước năm 1945, Hội An chưa bao giờ ngập lụt, nước lên cao lắm chỉ ngập đến đường Bạch Đằng thôi. Nguyên nhân lũ lụt là rừng bị tàn phá. Nếu trồng lại được rừng thì giải quyết được lũ lụt, giải quyết được hạn hán. Trước đây rừng của ta có các loại cây có bộ rễ sâu hơn 30 mét, nay các loài cây này đã mất sạch hết rồi. “Nếu khu sinh quyển phục hồi được 4% cây có bộ rễ sâu thì sẽ phục hồi lại toàn bộ hệ thống nước ngầm bằng mức trước năm 1936”. Một trong 3 công trình quan trọng tại khu sinh quyển sẽ là hồ chứa nước tại Hòn Kẽm Đá Dừng. Đây vừa là đập thủy điện, vừa là nơi điều chỉnh lũ, vừa phục vụ giao thông (“đường nước”). Ông cho biết ông Vũ Quốc Thúc (chuyên gia kinh tế nổi tiếng của chính quyền Sài Gòn cũ) trước đây đã gợi ý về cái đập nước này. Và chính ông Vũ Quốc Thúc từ nước ngoài đã gửi về nước những hạt giống cây có bộ rễ sâu 30 mét, đó là cây zozoba.


Chương trình cũng bao gồm các giải pháp đối phó với sự biến đổi khí hậu toàn cầu như vấn đề nước biển dâng và chuyện “nóng chết người”. Riêng vấn đề “nóng chết người”, ông nói ông đã nghiên cứu thử nghiệm tại bán đảo Sơn Trà để tạo ra những khu vực dù thời tiết khí hậu ở bất kỳ tình huống nào thì nhiệt độ ở đó cũng không vượt quá 35 độ C. Với kết quả đó, ông nói : “Chiến lược của chúng ta là không để xảy ra tình trạng khí hậu biến đổi gây nóng chết người, nếu có xảy ra thì cũng có đủ chỗ cho con người cư trú, không để xảy ra tình trạng nóng chết người hàng loạt như ở Ấn Độ và một số nước khác".


Có lẽ ông đang nghĩ rằng ý thức của người dân là yếu tố quyết định cho tính khả thi của chương trình. “Thân thiện với thiên nhiên là đạo làm người”, ông Bá nói. Ông cho rằng, nếu mỗi người dân, mỗi anh bộ đội, mỗi em học sinh tự nguyện trồng 1 cây mang tên mình trong Vườn vạn vật thì coi như chương trình đã thành công rồi. 28 cuộc thăm dò cũng đã cho thấy chương trình được sự hưởng ứng rộng rãi. Điều thú vị là đã thăm dò chính những “lâm tặc”, những người này nói nếu có một chương trình như vậy đối với rừng thì giới lâm tặc sẽ xin giải nghệ, không phá rừng nữa. Ông Bá nói ông tin vào “lời hứa” của lâm tặc. Tôi cũng tin luôn. Nhưng nếu nói rằng chương trình này sẽ khởi động khi ông còn sống thì tôi không dám tin, vì tôi biết chắc không có bất cứ kẻ quan liêu nào ủng hộ những người như Hoàng Đình Bá.


Nghe qua điện thoại tiếng được tiếng mất, viết vội vàng không mạch lạc. Sẽ trở lại chuyện này khi có trong tay tài liệu.


Bài liên quan :

Rừng vẫn chưa xanh lá

Thứ Hai, ngày 26 tháng 1 năm 2009

Chúc mừng năm mới


Chúc tất cả mọi người năm mới Kỷ Sửu yên lành, vui vẻ.

Thứ Sáu, ngày 23 tháng 1 năm 2009

Ông ơi...


Vừa rồi mới biết ông của con Háu là “độc giả trung thành” Blog của tui. Nhưng hôm qua ông gọi điện bảo ông thích nhất bài Rừng vẫn chưa xanh lá. Ông còn bảo ông đã đọc to bài đó cho bà cùng nghe. Ông khuyên nên viết trên Blog những bài như vậy. Được ông khen thì sướng quá, nhưng bắt đầu thấy … nguy hiểm.


Ông ơi, 20 năm trước con đã phải lên rừng lên núi suốt một tháng trời mới viết được bài đó, viết xong đăng báo được tiền nhuận bút. Giờ ông đọc ông đồng cảm với con thì con được lợi gấp đôi. Nhưng ông bảo con phải viết những bài như vậy trên Blog thì chết con rồi. Cứ một tháng viết được một bài, đăng “miễn phí” ở đây thì con lấy gì mà sống. Con nghĩ tới nghĩ lui thấy lời khuyên của ông không khả thi chút nào cả.

Nhưng nghĩ lại mới hiểu điều ông muốn dặn : Đã cầm bút thì phải viết cho ngay ngắn, dù viết cho một người đọc cũng phải như vậy. Và phải sống ngay ngắn mới có thể viết ngay ngắn được.

Nhắc nhở người ta bằng một lời khen, ông đúng là một ông già phi phàm.

Bài liên quan :
Rừng vẫn chưa xanh lá

Thứ Tư, ngày 21 tháng 1 năm 2009

Bi kịch Mugabe

Dưới mắt của báo chí phương Tây (và báo chí Việt Nam hiện nay), Tổng thống Zimbabwe Robert Mugabe là một con quái vật chính trị. Tên tuổi Mugabe gắn liền với mức lạm phát trời nghe cũng sợ : 11 triệu phần trăm.


Nhưng không nên quên Mugabe chính là người anh hùng lừng danh của châu Phi, là biểu tượng của của phong trào giải phóng dân tộc châu Phi. Ông là một trong những nhà lãnh đạo chống thực dân kiên cường nhất của thế kỷ 20. Sau khi lên cầm quyền, ông cương quyết chống sự áp đặt chính trị của phương Tây. Mugabe không phải cộng sản, nhưng được phe xã hội chủ nghĩa (lúc Liên Xô và Đông Âu chưa sụp đổ) và những người “thiên tả” ủng hộ.


Bi kịch của Mugabe là bi kịch của những người theo chủ nghĩa dân túy (populist). Những người dân túy là những nhà chính trị tuyên bố đứng về phía nhân dân, bảo vệ quyền lợi của người nghèo, của những người bị áp bức, chống lại các tầng lớp đặc quyền đặc lợi. Họ hứa hẹn giải quyết bất công, đem lại ruộng đất, nhà cửa, thức ăn và công lý cho người dân, nhưng giải pháp kinh tế thì mù mờ không rõ ràng.


Cựu Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ Alan Greenspan viết về chủ nghĩa dân túy : “Vì thiếu các chính sách kinh tế cụ thể có ý nghĩa nên để thu hút mọi người theo mình, chủ nghĩa dân túy phải viện vào đạo lý. Theo đó, các nhà lãnh đạo dân túy phải có sức hấp dẫn và tinh thần quả cảm, thậm chí cả khả năng chuyên chế. Hầu hết các nhà lãnh đạo như thế xuất thân từ quân đội. Họ không tranh luận về tính ưu việt của chủ nghĩa dân túy so với thị trường tự do. Họ không tuyên bố theo chủ nghĩa Marx. Thông điệp kinh tế của họ là một bài hùng biện đơn giản, được gia giảm bằng các từ ngữ như “bóc lột”, “công lý” và “cải cách ruộng đất” mà không phải bằng các từ ngữ như “GDP” hoặc “năng suất”” (Alan Greenspan, Kỷ nguyên Hỗn loạn, NXB Trẻ, 2008).


Greenspan bình luận về thất bại kinh tế của người hùng châu Phi : “Robert Mugabe, tổng thống Zimbabwe từ năm 1987, hứa hẹn và đã đem lại cho những người đi theo ông ruộng đất tịch thu của người da trắng. Nhưng những người chủ đất mới không được chuẩn bị để quản lý ruộng đất. Sản xuất lương thực suy sụp, buộc phải nhập khẩu trên quy mô lớn. Thu nhập có thể đánh thuế giảm mạnh, buộc Mugabe phải in thêm tiền để tài trợ cho chính phủ. Vào lúc cuốn sách này được viết (2007), siêu lạm phát đang gây ra các tác động xã hội nghiêm trọng ở Zimbabwe” (sđd)


Châu Phi, đặc biệt là Mỹ la tinh, nơi bị chủ nghĩa thực dân thống trị và bóc lộc nặng nề, hậu quả là sự phân hóa giàu nghèo sâu sắc, lòng thù hận dâng cao. Đó là mảnh đất màu mỡ của chủ nghĩa dân túy. Hugo Chavez, tổng thống Venezuela từ 1999 cũng đã theo gương Mugabe, nhưng theo Greenspan thì ông này đã gặp may, vì được giá dầu lửa tăng cao cứu thoát. Tình trạng siêu lạm phát của Brazil năm 1994, Argentina 1989, Mexico giữa thập niên 80 và Chile giữa thập niên 70 đều là hậu quả của chủ nghĩa dân túy. Tuy nhiên một số nhà dân túy ở Mỹ la tinh đã thành công, lý do là họ sớm biết cách tuân thủ quy luật của thị trường.


Lenine đã từng phê phán gay gắt chủ nghĩa dân túy. Còn ông trùm của chủ nghĩa tư bản thị trường tự do Alan Greenspan thì bảo Nó là một tiếng kêu đau đớn hơn là một nguồn trí tuệ”.


Chủ nghĩa dân túy kinh tế thường được coi là sự mở rộng của dân chủ sang lĩnh vực kinh tế, nhưng theo Greenspan thì không phải vậy. Theo ông, những người dân chủ ủng hộ hình thức chính phủ trong đó đa số cai trị, nhưng không bao giờ vi phạm các quyền cá nhân cơ bản. Ông viết : “Thuật ngữ “chủ nghĩa dân chủ kinh tế” mà nhiều nhà kinh tế sử dụng là để chỉ một nền dân chủ trong đó không có nhiều “quyền cá nhân”. Một nền dân chủ trong đó 51% dân số có thể xóa bỏ một cách hợp pháp các quyền của 49% dân số còn lại là một nền dân chủ không thực chất và sẽ dẫn tới chuyên chế” (sđd).


Giọng điệu của những người dân túy chúng ta nghe “quen quen”. Họ có mặt ở mọi nơi, không những ở châu Phi, châu Mỹ la tinh, châu Á mà còn có ngay trên chính trường nước Mỹ.

Thứ Hai, ngày 19 tháng 1 năm 2009

Người yêu nước sợ gì ?



Hỏi : Thưa Chủ tịch, Chủ tịch ghét gì nhất ?
Trả lời : Điều ác.
Hỏi : Thưa Chủ tịch, Chủ tịch yêu gì nhất ?
Trả lời : Điều thiện.
Hỏi : Chủ tịch cầu mong điều gì nhất ?
Trả lời : Nền độc lập của nước tôi và của tất cả các nước trên hoàn cầu.
Hỏi : Thưa Chủ tịch, Chủ tịch sợ gì nhất ?
Trả lời : Không sợ gì cả. Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì.

(Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn báo Frères A'Armes,
bài đăng trên Báo Cứu Quốc, nhi nhánh số 6, số 938, ngày 25-5-1948)

Chủ Nhật, ngày 18 tháng 1 năm 2009

Nhà báo Bùi Thanh


Cựu linh mục Nguyễn Ngọc Lan trước sau vẫn là người “thiên tả”. Sau này ông “có vấn đề” nên bị Nhà nước quản thúc một thời gian, nhưng con gái Lan Chi của ông kể tui nghe : Trong khi ông bị quản thúc, người nhà ở Pháp gửi báo về, ông dứt khoát không đọc báo Le Figaro. Ông bảo tờ báo này của “cánh hữu”, ông không đọc. Dĩ nhiên là ông không xu nịnh ai, ông cũng không xu thời, ông là ông, nhất quán. Tui không nói ông đúng hay ông sai, nhưng tui trước sau kính trọng ông như một người thầy về báo chí. Ông không quan tâm người ta nghĩ gì về ông, cả “bên này” hay “bên kia” cũng vậy. Ông với linh mục Chân Tín thân thiết nhau đến cuối đời ông, nhưng ông không tán thành với cách hành xử của cha Chân Tín. Có lần ông nói với tui : “Làm báo phải làm hợp pháp. Ra một tờ báo không hợp pháp, trước hết anh làm hại độc giả của mình”. Cuối đời, ông Mai Chí Thọ, ông Võ Văn Kiệt vẫn đến thăm ông. Khi ông mất, ông Võ Văn Kiệt đến viếng đàng hoàng. Đó là một sự an ủi.


Nghĩ đến “thiên tả” lại nghĩ đến Bùi Thanh. Giả sử báo chí Việt Nam làm như “các nước”, thì tui cũng dám chắc rằng Bùi Thanh vẫn là một nhà báo “thiên tả”. Tấm hình Che Gevara mà Bùi Thanh đặt trên Blog của mình không phải là “lá bùa” để các đồng chí của mình nhẹ tay khi quy kết anh chuyện này chuyện khác. Tấm hình đó theo tui hiểu là một “tuyên ngôn” nhất quán, rằng anh trước sau vẫn đứng về phía những người khốn khổ bị áp bức bóc lột, những người yếu thế, rằng trước sau anh vẫn mang sứ mệnh của một người làm báo “giải phóng”.


Cách đây mấy năm, một lần tui có đi với Bùi Thanh sang Đức. Khi đi uống cà phê, chúng tôi gặp một anh bạn người Việt Nam làm bồi bàn. Biết chúng tôi làm báo, anh này có một nguyện vọng : Anh và một số bạn bè lao động ở đây, không có nhiều tiền, nhưng mỗi lần về Việt Nam có thể góp được năm ba ngàn Euro để giúp cho những trường hợp cụ thể nào đó, ví dụ một em học sinh nghèo không có xe đạp thì giúp em một chiếc xe đạp để đi học... Bùi Thanh cảm động về nghĩa cử đó, nhưng anh nói : “Điều tôi quan tâm nhất là làm sao thay đổi cách nghĩ của 100 ngàn người Việt ở đây”. Tui “choáng” luôn. Nhưng nhìn vào mắt Bùi Thanh thì thấy anh nói những lời này cực kỳ chân thật, anh muốn những người Việt ở nước ngoài cùng hướng về đất nước. Anh thật thà tin tưởng vào sứ mệnh báo chí của mình. Chính những người làm báo như Bùi Thanh đã góp phần làm cho hình ảnh của đất nước tốt lên. Thì tại sao ? Tại sao anh bị thu thẻ nhà báo ?


Các anh chị có “chức năng” chớ vội kết tội tui nói tốt một người “có vấn đề” như Bùi Thanh. Mà dù các anh chị có kết tội thì tui vẫn cứ nói tốt. Như tui vẫn nói tốt anh Nguyễn Công Khế, dù ai đó quy kết cho anh ấy chuyện gì đi chăng nữa. Như tui vẫn nói tốt về Nguyễn Ngọc Lan.


Tui xin kể một chuyện mà tui nghe từ hồi còn chiến tranh. Có lần, ông Hồ Nghinh, Bí thư đặc khu ủy Quảng Đà, đi chỉ huy một chiến dịch.Trận đó bị thua do đánh dở. Trên đường rút lui về căn cứ, đi ngang qua nhà một người dân. Ông nông dân đang đứng đái trên nóc hầm tránh bom, thấy ông Hồ Nghinh và các cận vệ đi tới, ngoảnh mặt nói : “Đánh như con c.”. Mấy anh cận vệ giận dữ, ông Hồ Nghinh đưa tay ngăn lại rồi bảo : “Họ nói đúng”. Mấy anh cận vệ thì bộp chộp cho ông nông dân này là “phản động”, còn ông Hồ Nghinh thì khác. Dân người ta yêu mình thì người ta mới mắng mình. Các vua chúa hồi xưa ai anh minh đều biết dân mà sợ không dám nói thì triều chính lâm nguy, bởi vậy mà nhiều vị vua đã xuống chiếu cầu lời nói thẳng.


Tui thua anh Bùi Thanh. Tui tự thấy mình không đủ sức gánh nổi một “sứ mệnh” nào. Làm báo hay làm gì cũng được, miễn sao thỉnh thoảng con Háu nhà tui có "chất vấn" chuyện gì thì trả lời cho suôn sẻ để khỏi bị con Háu chê cười là được rồi.

Thứ Bảy, ngày 17 tháng 1 năm 2009

"Chiều xuống rồi về nhà đi con"



Sáng nay anh Nguyễn Việt Chiến đã về nhà. Gia đình, bạn bè đoàn tụ. Khóc rồi cười, cười rồi khóc. Khóc tức tưởi rồi cười vang. Trời Hà Nội ấm dần lên. Hôm nay là một ngày thật đẹp.


Anh Chiến hát. Lần đầu tiên tui biết ông này hát hay. Anh Chiến đọc thơ. Thơ anh làm khi ở tù mà không phải là thơ tù. Anh đọc ba bài. Một bài về mẹ và những ngôi đền. Một bài về giấc mơ gặp cụ Nguyễn Du. Một bài về vợ.


Tui chép lại đây một đoạn trong bài thơ viết về mẹ của anh :


Mẹ đang cầu nguyện

mỏi mòn

chuỗi hạt

tháng năm

bóng mẹ in trên vách thời gian

như pho tượng tạc bằng nước mắt


Mẹ bảo :

Nước mắt ban ngày chảy xuôi

đánh thức những ngôi đền

còn ban đêm

nước mắt chảy ngược vào trong

đánh thức một miền đức tin cứu rỗi


Bởi thế

trên gương mặt thời gian

trên gương mặt người đời

nước mắt không bao giờ ngừng chảy


Mẹ bảo : có những ngôi đền được làm bằng nước mắt

Mẹ bảo : có ngôi đền chỉ xây bằng đức tin

Rồi mẹ bảo : có ngôi đền làm bằng lời cầu nguyện

Rồi mẹ bảo : chiều xuống rồi về nhà đi con…


Trời đất ơi là cái câu “Chiều xuống rồi về nhà đi con”. Đó là một câu thơ thần tình, mặc dù tất cả chúng ta hồi nhỏ đều hơn một lần nghe câu đó. Bạn anh Chiến là anh Trần Quốc Thực cũng có câu thơ rất hay về mẹ :


Mẹ đỏ bẻm miệng trầu, nhỏ nhẹ :

- ngày xưa tóc anh xanh rì !”.


Tóc anh Chiến giờ bạc trắng. Anh đưa tay sờ đầu và nói sẽ đi nhuộm lại ngay. Một số anh em bảo thôi cứ để vậy đừng nhuộm. Tui thì ủng hộ anh Chiến đi nhuộm lại liền cho có khí thế, hehe.


_____________

Ảnh : Ngọc Thắng


Thứ Sáu, ngày 16 tháng 1 năm 2009

Ngày mai, anh Nguyễn Việt Chiến về nhà


Tin chính thức chiều nay cho biết, anh Nguyễn Việt Chiến vừa được quyết định đặc xá. Ngày mai anh sẽ về nhà. Đây là tin vui duy nhất trong mấy tháng nay đối với tui. Xin cám ơn trời đất.

Thứ Năm, ngày 15 tháng 1 năm 2009

Lòng nhân chứa trong một điều luật


Bộ Luật Hình sự được Quốc hội khóa X thông qua ngày 21-12-1999, dù còn nhiều khiếm khuyết cần được tiếp tục sửa đổi để khắc phục tình trạng "hình sự hóa" một cách tùy tiện, nhưng đã là một bước tiến lớn trong tiến trình “nhân đạo hóa” việc xử lý hình sự, thể hiện ở việc bỏ nhiều tội tử hình, giảm mạnh trách nhiệm hình sự đối với trẻ em… Đặc biệt, tại Khoản 2 Điều 22 (Tội không tố giác tội phạm) Bộ Luật này quy định miễn trách nhiệm hình sự đối với người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội, trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia và một số tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng. Trước đó không có khoản này. Tội không tố giác tội phạm tại Bộ Luật hình sự năm 1985 (Điều 19) chỉ ghi một đoạn sau : "Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định"


Hồi đó là phóng viên trực tiếp theo dõi các cuộc thảo luận của Quốc hội về bộ luật này tôi còn nhớ Quốc hội đã tranh cãi gay gắt về cái khoản "miễn tố" đó, còn ông Nguyễn Đình Lộc, là Bộ trưởng Tư pháp hồi đó, thì kiên trì kêu gọi Quốc Hội “khôi phục lại” tinh thần nhân văn của Bộ Luật Hồng Đức, đó là tinh thần “người thân không tố cáo nhau không có tội”. Cuối cùng thì Quốc Hội đã thông qua, có hiệu lực gần 10 năm nay. Người sảng khoái nhất đối với thành công này có lẽ là ông Nguyễn Đình Lộc.


Hơn 500 năm trước, Bộ Luật Hồng Đức không chỉ nói đến việc “miễn trách nhiệm hình sự” đối với các trường hợp người thân không tố cáo nhau mà còn yêu cầu con cái có nghĩa vụ “không được kiện cáo” ông bà cha mẹ, có nghĩa vụ “che giấu tội” cho ông bà cha mẹ (trừ trường hợp đại nghịch mưu phản hay một số trường hợp độc ác giết người thân thì mới được phép tố cáo).


Và trước đó xa hơn nữa, vào năm 1315, vua Trần Minh Tông sau khi lên ngôi không lâu đã “xuống chiếu cấm cha con, vợ chồng… không được tố cáo lẫn nhau” (Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Khoa học xã hội, tập 2, trang 107).


Giờ nghĩ lại vừa thấy vui vừa thấy buồn. Vui vì một giá trị nhân văn của tổ tiên được con cháu khôi phục. Buồn vì trong suốt một thời gian dài dù tội nhẹ tội nặng thì người thân cũng bắt buộc phải tố cáo lẫn nhau, đã có biết bao nhiêu là bi kịch ...

Thứ Ba, ngày 13 tháng 1 năm 2009

"Đối thoại" với con Háu


- Bố ơi bố... sao lâu nay bố không nói chuyện với con ?, con Háu lại mè nheo.

- Mệt quá. Con muốn gì ?.
- Bố viết chuyện về lịch sử bố không sợ à ?
- Sợ gì ?
- Con thấy hôm đăng loạt bài Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động bố đã bị một số nhà sử học đánh đó.
- Ừ, kệ họ. Họ đánh thầy Thát đó con. Chuyện đã qua rồi, con “lật lại” làm gì ?
- Nhưng vì sao họ đánh thầy Thát ?.
- Bố cũng không biết. Thầy Thát chỉ nói Việt Nam mình đã từng có một nền văn hóa điển chương trước khi Trung Quốc đến “khai hóa”, thầy nói nền văn hóa của Việt Nam ta không thua bất cứ nước nào. Thấy ông Ngô Sĩ Liên nói nước ta “thông thi thư, học lễ nhạc” mới trở thành nước văn hiến bắt đầu từ Sĩ Nhiếp, hàm ý cho rằng nước ta trước khi Trung Quốc đem thi thi lễ nhạc sang “khai hóa” chỉ là nước mông muội, thầy bực mình chửi Ngô Sĩ Liên là “khốn nạn”. Họ nói thầy Thát tu hành mà nóng nảy, xúc phạm tiền nhân….
- Chửi Ngô Sĩ Liên là đúng chứ bố. Con đọc lịch sử thấy vua Lê Thánh Tông cũng từng chửi Ngô Sĩ Liên đó.
- Chửi như thế nào ?
- Sau khi lên ngôi được 2 năm, Lê Thánh Tông đã quở mắng Ngô Sĩ Liên đề cao ngoại bang, xếp nước ta vào hàng phiên bang của Trung Quốc. Nguyên văn câu quở mắng đó được ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tập 2, trang 394 như sau : “Vua dụ bảo Đô ngự sử đài là bọn Ngô Sĩ Liên (…) rằng : Ta mới coi chính sự, sửa mới đức độ, tuân theo điển cũ của thánh tổ thần tông, nên mới tế giao vào đầu mùa xuân. Các ngươi lại bảo tổ tông tế giao cũng không đáng theo ! Các ngươi bảo nước ta đời xưa là hàng phiên bang, thế là các ngươi theo đạo chết, mang lòng không vua”. Liền đó vua kể thêm tội Ngô Sĩ Liên phò tá cho Lệ Đức hầu (kẻ giết vua Lê Anh Tông để cướp ngôi) và mắng : “Thực là bọn gian thần bán nước !”. Sách này do chính Ngô Sĩ Liên viết hoặc hiệu đính, nhưng cái đoạn vua chửi mình vẫn phải ghi, vì Ngô Sĩ Liên làm sử quan dưới triều Lê Thánh Tông, làm sao mà "ỉm" đi được, hehe, thật là thú vị.
- Khổ quá con ơi, họ bảo thầy Thát đã là thiền sư sao không ngồi yên tụng kinh gõ mỏ mà lại đi chửi mắng...
- Thiền sư ai hơn Trần Nhân Tông hả bố ? Ông ấy sau này thành Phật mà sinh thời vẫn chửi quân xâm lược, không chỉ chửi mà hai lần đánh đuổi quân Nguyên Mông ra khỏi bờ cõi.
Con Háu ấm ức nói tiếp :
- Cái ông Ngô Sĩ Liên đó nói tổ tiên ta ngu muội, nhờ ngoại bang khai hóa mới văn minh, như vậy là ông ta chửi cha chúng ta. Ai mà chửi cha con thì con chửi lại liền à…
- Con còn bé thì biết gì, đừng nhiều chuyện.
- Có bé mới có lớn chứ bố, lớn hay bé cũng là người Việt Nam. Đã là người Việt Nam thì ai động đến một sợi lông chân của tổ tiên nòi giống, ai động đến một tấc đất, một tấc biển, một cái cây ngọn cỏ của nước mình thì lớn phải đi đánh, nhỏ phải … chửi mắng, chứ bố !
- Con nói vậy không sợ bị "một số" nhà sử học đức cao vọng trọng đánh à ?
- Hehe, con còn bé, họ dùng đao to búa lớn đánh không trúng con đâu.

____________
Bài viết có liên quan :
Sau khi tui bị thu thẻ nhà báo...
Con Háu nhiều chuyện
Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động


Chủ Nhật, ngày 11 tháng 1 năm 2009

Trở lại "vụ án" Lê Long Đĩnh


Tháng 12-2007, bài viết Thử “bào chữa” cho Hoàng đế Lê Long Đĩnh của tui được đăng trên Thanh Niên. Bài viết này sau đó được copy lại trên nhiều website và Blog, gây bàn luận sôi nổi. Lúc đó tui viết chưa hết ý.


Đặt lại vấn đề Lê Long Đĩnh tui không có ảo tưởng “xúi” các nhà sử học viết lại sách giáo khoa trong một tương lai gần, vì đây vẫn là một vấn đề “nhạy cảm” (ở Việt Nam ta cái gì cũng “nhạy cảm” hết, hehe). Ngay cả sử gia – thiền sư Lê Mạnh Thát, người đã nhắc tôi rằng Lê Long Đĩnh chính là ông vua đầu tiên cử người sang Trung Quốc xin Đại tạng kinh về cho Phật giáo nước nhà (trong bài viết đăng trên báo tui chỉ nêu “một thiền sư” mà không nêu tên thầy Lê Mạnh Thát, cũng là vì “nhạy cảm”), cũng chỉ “nói miệng” với tui thôi, chứ trong các tác phẩm lịch sử của mình ông vẫn “nói xấu” ông vua này, có lẽ do ông ngại đụng chạm đến sư Vạn Hạnh. Đối với Phật giáo Việt Nam, nói cái gì không hay về sư Vạn Hạnh cũng là chuyện “nhạy cảm”.


Triều Lý, cũng như triều Trần, chịu sự chi phối sâu đậm của Phật giáo, vì Nho giáo chưa bén rễ, nên ít câu nệ vấn đề “trung quân”. Nhưng việc Lý Công Uẩn cướp ngôi nhà tiền Lê không phải vì vậy mà “mặc kệ” dư luận. Do đó chắc chắn tiền nhân đã phải giải quyết hai vấn đề : Một là phải làm cho thiên hạ thấy rằng Lý Công Uẩn là nhân vật quang minh lỗi lạc. Hai là phải làm cho thiên hạ thấy rằng Lê Long Đĩnh là một người cùng hung cực ác.


Sư Vạn Hạnh chính là “kiến trúc sư” của cuộc đảo chính chuyển ngôi từ nhà tiền Lê sang nhà Lý.


Chúng ta đều biết ngay từ khi Lý Công Uẩn còn nhỏ, sư Vạn Hạnh đã từng khen Lý Công Uẩn : “Đứa bé này không phải người thường, sau này lớn lên ắt có thể giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ” (theo Đại Việt sử ký toàn thư). Và không phải ngẫu nhiên mà sau đó liên tiếp có những lời sấm . Đại Việt sử ký toàn thư còn nói rõ đích thân sư Vạn Hạnh giải thích từng câu từng chữ những “bùa sấm” đó và nhà sư đã nói thẳng rằng “họ Lê mất, họ Lý nổi lên”, rằng “họ Lý cường thịnh, tất dấy lên cơ nghiệp”. Việc sư Vạn Hạnh “PR” cho Lý Công Uẩn để chuẩn bị dư luận cho nhà Lý cướp ngôi thì đã rõ. Theo suy luận thì rất có khả năng chính sư Vạn Hạnh và “bộ tham mưu” của nhà sư đã tạo ra những “bùa sấm” đó và dùng nó làm nội dung “tuyên truyền”.


Nhưng vấn đề thứ hai, tuy Phật giáo không chủ trương “ngu trung” như Nho giáo, song nếu như Lê Long Đĩnh là ông vua tốt thì việc lên ngôi của Lý Công Uẩn dĩ nhiên là bất chính, là không quang minh chính đại, không được lòng dân. Bởi vậy “hạ sát ván” Lê Long Đĩnh, cho thiên hạ thấy sự cùng hung cực ác của ông vua này là việc tất yếu phải làm của bộ tham mưu đảo chính. Những câu chuyện từ trong “dã sử”, tức từ những lời đồn, được lưu truyền để cuối cùng đưa vào sử sách nói xấu Lê Long Đĩnh, có phải do sư Vạn Hạnh chủ xướng hay không ? Đương nhiên sử sách không ghi lại, nên không thể kết luận, nhưng nếu xâu chuỗi tất cả các sự kiện, các tình tiết, chúng ta có thể suy đoán ra điều gì đó.


Đã làm chính trị thì có thủ đoạn. Nhà sư làm chính trị cũng không ngoại lệ. Đánh giá một nhân vật lịch sử là đem cộng trừ nhân chia những điều tốt và điều xấu, những công và tội mà họ đã làm, cuối cùng họ để lại những gì cho hậu thế. Đánh giá nhân vật lịch sử là xem hiệu số công tội. Không ai phủ nhận công lao to lớn của sư Vạn Hạnh và Lý Thái Tổ đối với đất nước. Sắp tới đây chúng ta kỷ niệm 1000 Thăng Long, công lao đó lại càng phải được hậu thế làm sáng tỏ thêm.


Nhưng nỗi oan ngàn năm của Lê Long Đĩnh không phải vì vậy mà không đáng được hậu thế nhìn lại cho công bằng. Hẳn có người bảo : Sử sách đã ghi rõ rồi, đã "kết luận" rồi, đó là chính thống. Xin thưa : Tất cả những lời bêu xấu Lê Long Đĩnh ghi trong sử sách đều "không rõ nguồn", nói chính xác hơn, người viết sử đã lấy lời đồn thay cho "nguồn tin", rồi tam sao thất bản mãi thành chính thống. Bây giờ mà viết báo kiểu ấy, nhẹ thì bị tòa soạn phạt tiền, treo bút, nặng thì bị "xử lý hình sự", tui nói vậy có đúng không ? Và hẳn có người sẽ bảo : Minh oan cho Lê Long Đĩnh thì phục vụ cho “nhiệm vụ chính trị” gì hiện nay ? Xin thưa : Có chứ ! Nhiệm vụ tôn trọng sự thật. Vừa rồi cuộc hội thảo lớn về nhà Nguyễn có lẽ cái chính cũng nhằm mục đích đó.


H.H.V

Bài đã đăng trên Báo Thanh Niên, 11-12-2007

THỬ "BÀI CHỮA" CHO HOÀNG ĐẾ LÊ LONG ĐĨNH

HOÀNG HẢI VÂN


Trong tâm trí người Việt Nam, Lê Long Đĩnh là ông vua xấu xa đồi bại nhất trong lịch sử dân tộc. Có phải như vậy không?


Ông vua bị "đóng đinh" trong lịch sử


Học giả Trần Trọng Kim đã đúc kết toàn bộ sự nghiệp của ông vua cuối cùng nhà tiền Lê - Lê Long Đĩnh bằng một đoạn sau đây trong Việt Nam sử lược:


"Long Đĩnh là người bạo - ngược, tính hay chém giết, ác bằng Kiệt, Trụ ngày xưa. Khi đã giết anh rồi, lên làm vua thường cứ lấy sự giết người làm trò chơi: có khi những tù phạm phải hình, thì bắt lấy rơm tẩm dầu quấn vào người rồi đốt sống; có khi bắt tù trèo lên cây rồi ở dưới sai người chặt gốc cho cây đổ; có khi bỏ người vào sọt rồi đem thả xuống sông.

Làm những điều ác như thế thì lấy làm thích chí. Một hôm lấy mía để lên đầu nhà sư mà róc vỏ, rồi thỉnh - thoảng giả tảng nhỡ tay bổ dao vào đầu sư chảy máu ra, trông thấy thế làm vui cười. Còn khi ra buổi chầu, có ai tấu sớ điều gì thì cho những thằng hề nói khôi - hài hay là nhại tiếng làm trò.

Long Đĩnh làm vua được 2 năm đổi niên -hiệu là Cảnh - thụy (1008-1009). Sang năm sau là năm Kỷ - Dậu (1009) thì mất, làm vua được 4 năm, thọ 24 tuổi.

Vì lúc sống dâm-dục quá độ, mắc bệnh không ngồi được, đến buổi chầu thì cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi là Ngọa-triều".


Việt Nam sử lược là cuốn sách lịch sử Việt Nam đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ, được biên soạn rất công phu, giá trị lớn nhất của nó là hệ thống lại toàn bộ lịch sử nước nhà (cho đến thời Pháp thuộc) một cách súc tích, dễ hiểu, bởi vậy đây là cuốn sách lịch sử được phổ cập rộng lớn nhất trong thế kỷ 20. Nhiều thế hệ người Việt Nam tiếp cận một cách hệ thống lịch sử nước nhà chủ yếu thông qua cuốn sách này. Với đoạn sử phổ cập đó, Lê Long Đĩnh được "đóng đinh" trong tâm trí người Việt Nam là ông vua gian ác đồi bại nhất trong lịch sử. Tất cả các sách giáo khoa lịch sử từ đó đến nay cũng đều mô tả Lê Long Đĩnh đúng như vậy.


Nhưng đoạn viết về Lê Long Đĩnh trong Việt Nam sử lược và trong các sách giáo khoa lịch sử sau này, là lược chép lại từ Đại Việt sử ký toàn thư và một số cuốn sử cũ khác viết bằng chữ Hán. Mà Đại Việt sử ký toàn thư chép về Lê Long Đĩnh không chỉ có như vậy.


Người đầu tiên thỉnh kinh Phật về nước


Trong một lần trao đổi về lịch sử Phật giáo, một vị thiền sư nhắc chúng tôi, rằng Lê Long Đĩnh là ông vua đầu tiên cử người đi lấy kinh Đại Tạng cho Phật giáo, rằng sư Vạn Hạnh, thiền sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu cũng như các cao tăng khác thời đó đều được Lê Long Đĩnh rất trọng vọng... Nghe quá lạ so với những gì mà mình được học, tôi lần giở những trang sử có liên quan đến Lê Long Đĩnh.


Trong Việt Nam Phật giáo sử lược (in lần đầu năm 1943), thiền sư Thích Mật Thể viết: "Niên hiệu Ứng Thiên thứ 14 (1008), sau khi nước ta đã hòa với Tống rồi, vua Đại Hành sắc ông Minh Xưởng và ông Hoàng Thành Nhã sang sứ nước Trung Hoa, cống hiến đồ thô sản và xin vua Tống ban cho bộ "Cửu kinh" và "Đại Tạng kinh". Vua Tống trao cho những bộ ấy và cho sứ giả đưa về. Đó là lần đầu tiên nước ta cho người sang cầu kinh bên Trung Hoa vậy".


Do nhầm lẫn hoặc cũng có thể do ghét Lê Long Đĩnh, thiền sư Thích Mật Thể đã viết đoạn này không đúng, vì Lê Đại Hành mất năm 1005. Lê Long Đĩnh làm vua từ năm 1006 và đến năm 1008 vẫn giữ niên hiệu Ứng Thiên của vua cha. Đại Việt sử ký toàn thư chép như sau: "Đinh Mùi/Ứng Thiên/năm thứ 14 [1007], (Vua vẫn dùng niên hiệu Ứng Thiên; Tống Cảnh Đức năm thứ 4). Mùa xuân, (vua Lê Long Đĩnh) sai em là Minh Xưởng và Chưởng thư ký là Hoàng Thành Nhã dâng tê ngưu trắng cho nhà Tống, xin kinh Đại Tạng". Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục cũng chép: "Đinh Mùi, năm thứ 14 (1007)... Nhà vua (Lê Long Đĩnh) sai Minh Xưởng và chưởng thư ký là Hoàng Thành Nhã đem con tê trắng sang biếu nhà Tống, dâng biểu xin cửu kinh và kinh sách Đại Tạng. Nhà Tống ưng thuận cho cả". Như vậy "lần đầu tiên nước ta cho người sang cầu kinh bên Trung Hoa" chính là do vua Lê Long Đĩnh.


"Cửu kinh" gồm Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu, Hiếu Kinh, Luận Ngữ, Mạnh Tử và Chu Lễ là 9 bộ sách vĩ đại nền tảng của văn minh Trung Hoa lần đầu tiên "nhập" vào nước ta là do Lê Long Đĩnh lấy về. Còn kinh Đại Tạng là gì ? Đó là Đại Tạng Kinh chữ Hán - bảo vật vô giá của Phật giáo và của văn hóa thế giới. Bộ sách đó, theo lịch sử Phật giáo, là một bộ sách vĩ đại được rất nhiều thế hệ các cao tăng Trung Hoa vượt qua biết bao gian truân khổ ải dày công thu thập, sưu tầm và dịch thuật suốt 1.000 năm, từ thế kỷ thứ nhất đến cuối thế kỷ thứ 10 (đời Tống Thái Tổ) mới in thành sách lần đầu tiên gồm 5.000 quyển (riêng việc khắc bản phải mất 12 năm). Bộ sách đó không chỉ là tổng vựng các kinh sách Phật giáo mà còn hàm chứa rất nhiều lĩnh vực triết học, lịch sử, văn học, nghệ thuật, thiên văn, toán học, y dược... Một ông vua lần đầu tiên biết đem những di sản vĩ đại như vậy về nước để xây dựng, phát triển nền văn hóa dân tộc, liệu có thể gọi là hôn quân? Và một ông vua đã trực tiếp sai em mình đi xin kinh sách về cho Phật giáo, ông vua đó có thể nào "lấy mía để trên đầu nhà sư mà róc" ?


"Tư duy kinh tế"


Lê Long Đĩnh là ông vua biết chỉnh đốn triều chính. Một năm sau khi lên ngôi ông đã "Sửa đổi quan chế và triều phục của các quan văn võ và tăng đạo, theo đúng như nhà Tống" (theo Đại Việt sử ký toàn thư). Nhưng không chỉ có vậy. Đại Việt sử ký toàn thư còn chép: "Kỷ Dậu, /Cảnh Thụy/ năm thứ 2 (1009) ...Vua (Lê Long Đĩnh) lại xin được đặt người coi việc tại chợ trao đổi hàng hóa ở Ung Châu, nhưng vua Tống chỉ cho mua bán ở chợ trao đổi hàng hóa tại Liêm Châu và trấn Như Hồng thôi". Thế kỷ thứ 11, không chỉ nước ta mà hầu khắp thế giới, kinh tế đều tự cấp tự túc. Phải có một "tư duy kinh tế" vượt xa thời đại mới biết "xin đặt người coi việc tại chợ trao đổi hàng hóa ở Ung Châu", tức là sâu trong nội địa Trung Quốc, việc đó giống như việc đặt Văn phòng đại diện thương mại ở nước ngoài bây giờ. "Tư duy kinh tế" đó mãi mấy trăm năm sau mới được biết đến ở phương Tây. Một hôn quân có nghĩ ra được điều này không ?


Đại Việt sử ký toàn thư chép tiếp: "(1009)... Vua đi Ái Châu, đến sông Vũ Lung. Tục truyền người lội qua sông này phần nhiều bị hại, nhân thế vua sai người bơi lội qua lại đến ba lần, không hề gì. Xuống chiếu đóng thuyền để ở các bến sông Vũ Lung, Bạt Cừ, Động Lung bốn chỗ để chở người qua lại". Cũng trong năm 1009: "Bọn Ngô đô đốc, Kiểu hành hiến dâng biểu xin đào kênh, đắp đường và dựng cột bia ở Ái Châu. Vua xuống chiếu cho lấy quân và dân ở châu ấy đào đắp từ cửa quan Chi Long qua Đỉnh Sơn đến sông Vũ Lung" (sách đã dẫn). "... "Đến Hoàn Giang, sai Phòng át sứ là Hồ Thủ Ích đem hơn 5 nghìn quân của châu Hoan Đường, sửa chữa đường từ sông Châu Giáp đến cửa biển Nam Giới để quân đi cho tiện" (sách đã dẫn).


Rõ ràng chỉ mấy tháng trước khi chết (Lê Long Đĩnh chết vào tháng 10 năm đó), Lê Long Đĩnh còn chăm lo việc đào kênh, mở mang đường sá và đến tận nơi xem xét rồi xuống chiếu đóng thuyền bè đi lại cho dân. Một ông vua suốt ngày ham mê tửu sắc không đi lại được đến mức phải "ngọa triều", ông vua đó có thể làm được những chuyện có ý nghĩa như vậy không ?


Không ngồi được sao 6 lần cầm quân đánh giặc ?


Ngoài những chuyện lớn nói trên, Lê Long Đĩnh còn nhiều lần cầm quân dẹp giặc. Cũng theo Đại Việt sử ký toàn thư, ngay trong năm đầu tiên làm vua: "Ngự Bắc Vương cùng Trung Quốc Vương chiếm trại Phù Lan làm phản. Vua thân đi đánh". Tiếp đó: "... đem quân đánh Ngự Man Vương ở Phong Châu. Ngự Man Vương phải chịu hàng... Từ đấy về sau các vương và giặc cướp đều hàng phục cả" (sách đã dẫn). Và giữa lúc đánh trại Phù Lan "chợt thấy trạm báo tin là giặc Cử Long vào cướp đã đến cửa biển Thần Đầu (nay là cửa biển Thần Phù). Vua về đến sông Tham đi sang Ái Châu để đánh giặc Cử Long" (sách đã dẫn).


Năm đó Lê Long Đĩnh 3 lần thân chinh dẹp loạn. Năm 1008 "Vua thân đi đánh hai châu Đô Lương, Vị Long" (sách đã dẫn). Tiếp đó "lại tự làm tướng đi đánh Hoan Châu và châu Thiên Liễu" (sách đã dẫn). Và tháng 7 cùng năm "vua thân đi đánh các châu Hoan Đường, Thạch Hà" (sách đã dẫn). Như vậy là chỉ trong 4 năm làm vua, Lê Long Đĩnh đã 6 lần trực tiếp làm tướng cầm quân ra trận, lần cuối cùng chỉ cách 2 tháng trước khi ông mất. Cầm quân đánh giặc liên miên như vậy phải là một người cường tráng, người "dâm dục quá độ, mắc bệnh không ngồi được" sao có thể làm nổi ?


Sự thật hay lời đồn ?


Về chuyện Lê Long Đĩnh giết anh để lên làm vua cũng cần xem xét. "Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Sách Dã sử chép rằng: Đại Hành băng, Trung Tông vâng di chiếu nối ngôi. Long Đĩnh làm loạn, Trung Tông vì anh em cùng mẹ không nỡ giết, tha cho. Sau Long Đĩnh sai bọn trộm cướp đêm trèo tường vào cung giết Trung Tông." (sách đã dẫn). Chúng ta thấy gì trong đoạn này? Thứ nhất, chuyện này Đại Việt sử ký toàn thư chép lại từ "Dã sử". Dã sử có thể tin được nếu có căn cứ để đối chiếu hoặc nó hợp logic, nếu không nó chỉ có giá trị như một lời đồn. Thứ hai, đã là dã sử mà còn nói "Long Đĩnh sai bọn trộm cướp đêm trèo tường vào cung giết Trung Tông". Quy cho người khác tội chủ mưu giết người thì phải có chứng cứ. Ai làm chứng và tài liệu nào chứng minh việc Lê Long Đĩnh "sai bọn trộm cướp"? Chắc chắn là không có ai cả và không có bất cứ tài liệu nào. Một lời đồn đã là không có cơ sở, một lời đồn nói về một việc không thể có chứng cứ càng không có cơ sở.


Vả lại, theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục: “Khi vua Long Việt bị giết, bầy tôi đều chạy trốn cả, chỉ có Điện tiền quân Lý Công Uẩn ôm thây vua mà khóc. Long Đĩnh cho là trung nghĩa cất lên làm chức Tứ sương quân phó chỉ huy sứ”. Giết vua, giết anh là bất trung bất nghĩa. Kẻ bất trung bất nghĩa khó mà trọng dụng được người trung nghĩa. Vì vậy việc Lê Long Đĩnh giết anh chỉ nên coi cùng lắm là một "nghi án" mà thôi, không nên đem ra làm một sự thật dạy cho học trò. Cũng như cái chết của Lê Long Đĩnh, Ngô Thì Sĩ chép trong Đại Việt sử ký tiền biên như sau: "Lý Thái Tổ rất căm phẫn trước tội ác giết anh cướp ngôi của Khai Minh Vương (tức Lê Long Đĩnh), nhân lúc Khai Minh Vương bệnh tật, sai người vào đầu độc giết đi rồi giấu kín việc đó, nên sử không được chép". Lời đó của Ngô Thì Sĩ chúng ta chưa bao giờ coi là sự thật cả, sao lại coi việc Lê Long Đĩnh giết anh là sự thật ?

H.H.V