Thứ Năm, ngày 26 tháng 3 năm 2009

"Thượng đế sinh ra con người, ông Colt đem lại bình đẳng"


God made man, but Mr. Colt made all men equal

"God created men, but Sam Colt made them equal"


(Samuel Colt (1814-1862) là người đầu tiên chế ra súng lục ổ xoay, ông nổi tiếng đến mức người ta gọi tất cả súng ngắn là súng Colt và trở thành biểu tượng của súng ống).


Có người bảo nước Mỹ tự do, nhưng nước Mỹ không bình đẳng, nên mới có câu cách ngôn nói trên. Súng đạn “bổ khuyết” cho sự bất bình đẳng trong xã hội. Bất kể anh là ai, anh có súng, tôi có súng, anh tôi với anh bằng nhau, anh không ăn hiếp tôi được. Bởi vậy mà cứ 10 người Mỹ có tới 9 khẩu súng, toàn nước Mỹ có hơn 270 triệu khẩu súng được lưu hành “trong dân gian”, bất chấp mỗi năm có 30 ngàn người Mỹ chết do dùng súng bắn nhau hay tự bắn vào mình. Dù Tổng thống Abraham Lincoln bị ám sát vì súng, Tổng thống John F.Kenedy bị ám sát vì súng, Tổng thống Ronald Reagan bị bắn trọng thương vẫn không khiến cho nước Mỹ tỉnh cơn mê súng đạn.


Đối với người Mỹ, súng không chỉ để tự vệ, súng là tài sản, là quà tặng, là trò chơi, là bản lĩnh đàn ông, là mốt, là sành điệu, là triết lý, là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm.


Nhưng “văn hoá súng ống” của nước Mỹ có nguồn gốc lịch sử của nó. Từ thời Nội chiến (Civil War, 1861-1865) đã có một slogan nổi tiếng : “Abe Linccoln may have freed all men, but Sam Colt made them equal” (Lincoln giải phóng con người, nhưng Samuel Colt mới đem lại bình đẳng”).


Do đặc điểm thời kỳ đầu dựng nước, người dân Mỹ phải đấu tranh khốc liệt để sinh tồn, nên các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã coi việc được dùng súng là quyền cơ bản của con người, chỉ đứng sau quyền tự do ngôn luận. Trong Tuyên ngôn nhân quyền (gồm 10 điều bổ sung sửa đổi đầu tiên trong 27 điều bổ sung sửa đổi Hiến pháp, là bộ phận không tách rời của Hiến pháp), điều thứ 2 ghi : “Xét thấy lực lượng dự bị có tổ chức nghiêm chỉnh là rất cần thiết cho nền an ninh của một quốc gia tự do, quyền của dân chúng được giữ và sử dụng vũ khí không bị vi phạm” ("A well regulated Militia, being nesessary to the security of a free State, the right of the people to keep and bear Arms, shall not be infringed"). Nó còn được gọi là Tu chính án thứ 2 (The Second Amendment) của Hiến pháp Hoa kỳ, được phê chuẩn cùng với 9 điều khác trong Tuyên ngôn nhân quyền vào năm 1791, tồn tại bất di bất dịch 218 năm nay.


Hai trăm năm qua hầu như ngày nào nước Mỹ cũng có nhiều cái chết do súng ống vô tình hay hữu ý. Cứ mỗi lần có sự cố súng đạn dẫn đến cái chết thương tâm gây chấn động, chính trường và dân chúng Mỹ lại diễn ra tranh cãi. Nhưng tiếng nói của những người chống súng quá ít ỏi so với đông đảo những người ủng hộ súng.


"Đừng bắn. Con muốn lớn" -

Biểu ngữ chống súng của trẻ em


"Tu chính án thứ 2 là quyền của tôi, không phải của chính quyền thành phố, bang hay liên bang" - những người ủng hộ súng biểu tình trước Tối cao pháp viện


Năm 1981, sau khi tổng thống Reagan bị bắn trọng thương, những người chống súng đã nỗ lực vận động đưa ra một dự luật ngăn chặn bớt súng đạn với một số hạn chế như : cấm bán cho dân một số loại vũ khí tấn công của quân đội, quy định người mua súng phải đợi 5 ngày, đặt ra một số lệ phí và giấy phép sử dụng súng… Tuy chỉ có một số điều khoản “gãi ngứa” như vậy nhưng dự luật đã bị ngâm rất nhiều năm, mãi đến năm 1994 mới được Quốc Hội thông qua và Tổng thống Clinton phê chuẩn, sau khi những người chống súng và những người ủng hộ súng đạt được một thỏa hiệp cho đạo luật có giá trị chỉ trong 10 năm. Nhưng do vận động hành lang quyết liệt để làm vô hiệu hóa đạo luật này, nên năm 1998, điều khoản “đợi 5 ngày” cũng bị bãi bỏ. Và đến năm 2004, mặc dù đã hứa hẹn từ trước rằng sẽ xin gia hạn đạo luật này, nhưng Tổng thống Bush đã phớt lờ luôn để cho đạo luật tự động chấm dứt hiệu lực.


Sự kiện bi thảm gần đây nhất là vụ Cho Seung Hui dùng súng bắn chết một lúc 32 học sinh trường Đại học Virgina Tech ngày 16-4-2007 gây chấn động nước Mỹ. Tiếng nói đòi hạn chế súng lại vang lên, nhưng không ăn thua.


Trong những cuộc tranh cãi về quyền có súng ghi trong Tu chính án thứ 2, có hai cách giải thích. Phe chống súng nói : “Nó chỉ cho phép các bang được duy trì quân đội riêng”. Còn phe ủng hộ súng thì bảo : “Nó cho phép các công dân bình thường được sở hữu và dùng súng”. Phải thừa nhận rằng, căn cứ toàn văn ngắn gọn của Tu chính án này thì cách giải thích của phe ủng hộ súng là đúng.


Mới đây nhất, ngày 26-6-2008, Tối cao pháp viện Hoa Kỳ đã phán quyết bãi bỏ luật hạn chế dùng súng tại Washington DC. Tòa bác bỏ lý lẽ cho rằng quyền sở hữu và sử dụng súng chỉ dành cho việc phục vụ quân đội và tuyên bố đó là quyền của công dân theo Hiến pháp. Cả hai ứng cử viên Tổng thống McCain và Obama đều ủng hộ phán quyết của tòa.


Có thể nói cuộc chiến chống lại súng ống ở nước Mỹ là không khả thi. Có 3 lý do :


Thứ nhất, đa số người Mỹ ủng hộ việc sở hữu súng ống. Không có ứng cử viên nào dám công khai chống súng nếu không muốn chuốc lấy thất bại trên chính trường. Đó là chưa nói đa số các chính khách Mỹ đều mê súng.


Thứ hai, Hội súng của Mỹ (NRA) với 4 triệu hội viên, đứng sau nó là những tay lái súng cá mập, là một tổ chức kinh khủng. Nó có đủ tài chính và thực lực lobby để triệt hạ bất cứ một dự luật hoặc bất cứ mưu đồ nào làm tổn thất đến lợi ích của ngành công nghiệp súng ống khét tiếng của nước Mỹ.


Thứ ba, muốn chống súng hữu hiệu, nhất thiết phải bãi bỏ Tu chính án số 2 trong Hiến pháp. Nhưng đây là nhiệm vụ gần như không thể.


Bởi lẽ theo Điều 5 của Hiến pháp Hoa kỳ, phải có đủ 2/3 số thành viên của Hạ viện và Thượng viện xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ quan lập pháp ở 2/3 các bang thì Quốc Hội mới được đưa ra những điều sửa đổi đối với Hiến pháp và triệu tập Đại hội để đề xuất những sửa đổi này. Điều này không bao giờ có thể xảy ra, vì NRA đủ sức chi phối các nghị sĩ, vả lại đa số họ vốn mê súng, nếu không mê họ cũng không dám chống lại những cử tri mê súng của mình, thì lấy đâu ra 2/3 ? Chưa hết, sau đó nó còn phải được phê chuẩn bởi cơ quan lập pháp của ¾ các bang hoặc Đại hội của ¾ các bang theo một thể thức vô cùng rối rắm.


Các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã đưa ra những thủ tục quá khó khăn như vậy nhằm bảo vệ sự trường tồn của Hiến pháp. Trong hơn 200 năm tồn tại của Hiến pháp Hoa Kỳ, đã có hơn 9000 điều bổ sung Hiến pháp được đệ trình, nhưng mới chỉ có 33 điều được đưa ra xem xét và chỉ có 27 điều được phê chuẩn. Riêng Tu chính án thứ 27 được phê chuẩn sau … 202 năm, kể từ khi nó được đề xuất.


Cái Tu chính án thứ 27 đó chỉ vỏn vẹn có một câu như thế này : “Trước cuộc bầu cử hạ nghị sĩ, không một điều luật nào nhằm thay đổi các khoản trợ cấp cho công việc của thượng nghị sĩ và hạ nghị có hiệu lực”. Điều này được hiểu rằng Quốc Hội không được bỏ phiếu tăng lương cho chính mình, nếu các anh có bỏ phiếu tăng lương cho các nghị sĩ thì các nghị sĩ nhiệm kỳ sau mới được hưởng, các anh thì không được. Kể từ khi James Madison đề xuất điều bổ sung này và Quốc Hội thông qua ngày 25-9-1789, mãi hơn 200 năm vẫn chưa có đủ số bang phê chuẩn. Cho đến khi dư luận chỉ trích gay gắt tình trạng Quốc Hội tăng lương cho chính mình, khiến cho bang Michigan không im lặng được phải phê chuẩn vào ngày 7-5-1992, khi đó mới đủ số bang phê chuẩn, Tu chính án mới có hiệu lực. Một chút lợi nhỏ như vậy thôi mà hơn 200 năm mới chịu từ bỏ, huống hồ là những cái lợi lớn do các lái súng đem lại !


Nền dân chủ nào cũng có khiếm khuyết. Người Mỹ chấp nhận sống hòa bình với sự khiếm khuyết đó, và họ vẫn hát mãi bài ca “God made man, but Mr. Colt made all men equal”.

Chủ Nhật, ngày 22 tháng 3 năm 2009

Sự kiện báo chí lớn nhất thế kỷ 20


Tiến sĩ Daniel Ellsberg giữa một rừng phóng viên ngày 28-5-1971

Sự kiện báo chí lớn nhất thế kỷ 20, và cho đến nay là sự kiện báo chí lớn nhất mọi thời đại, là vụ công bố “Tài liệu Lầu Năm góc” năm 1971. Càng đọc lại vụ này càng thấy thú vị.

Có lẽ khi quyết định công bố 47 tập, gồm 7000 trang tài liệu mật về chiến tranh Việt Nam cho tờ New York Times, tiến sĩ Daniel Ellsberg, một chuyên viên cao cấp của tập đoàn nghiên cứu chiến lược Rand và là sĩ quan cao cấp của Lầu Năm Góc, không tin rằng ông sẽ được tòa án bảo vệ. Ông làm điều này vì lương tâm của người trí thức.

Cũng như những nhân viên công vụ khác, ông đã thề trung thành với cấp trên và không tiết lộ bí mật. Nhưng khi tiếp cận với bộ hồ sơ đồ sộ về chiến tranh Việt Nam, bộ hồ sơ nói lên sự dối trá của 5 đời tổng thống Mỹ, khiến cho người bạn gái của ông phải ghê tởm thốt lên : “Đây là ngôn ngữ của bọn đồ tể”, ông quyết định xóa bỏ lời thề đó. Nghĩa vụ cao nhất của ông là trung thành với đất nước, trung thành với Hiến pháp. Ông chấp nhận đối diện với nhà tù.

Từ 1-10-1969, với sự cộng tác của một người bạn – ông Anthony Russo, Daniel bắt đầu sao chụp 7000 trang tài liệu. Đầu tiên ông chưa nghĩ đến chuyện đưa cho báo chí mà tìm cách đưa cho Quốc Hội. Ông đã lần lượt gặp 3 thượng nghị sĩ danh giá và nổi tiếng chống chiến tranh là Fullbright, McGovern và Mathias. Cả ba đều hăng hái ủng hộ ông, nhưng cuối cùng đều từ chối. Các thượng nghị sĩ này không đủ dũng cảm, không đủ tầm cỡ đặt lợi ích của đất nước lên trên lợi ích đảng phái của họ.

Đường đến với Quốc hội bị tắc. Daniel buộc phải bí mật đưa cho tờ New York Times, thông qua một nhà báo ông quen từ trước – ký giả Neil Sheehan.

Ngày Chủ nhật 13-6-1971, New York Times khởi đăng tài liệu trên trang nhất. Nước Mỹ chấn động. Ngày 15-6, khi đăng đến kỳ thứ 3, Bộ trưởng Tư pháp John Mitchell gửi một bức thư đến toà soạn yêu cầu ngừng đăng và trao lại bản sao tài liệu. New York Times từ chối. Ngay trong chiều hôm đó, theo đề xuất của Bộ Tư pháp, toà án quận cấp liên bang tại New York ra lệnh cấm. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, một lệnh cấm của toà án liên bang ngăn cản một tờ báo in một câu chuyện nhiều kỳ.


Không chịu thua, New York Times kháng án. Trong khi làm thủ tục kháng án, Dunn Gifford, một người bạn của Neil Sheehan đề nghị Daniel Ellsberg cung cấp hồ sơ này cho tờ Washington Post (thời gian này Neil Sheehan và New York Times “cắt liên lạc” với ông để bảo đảm nguyên tắc nghiệp vụ). Daniel trả lời là “Không thể”. Ông muốn giữ độc quyền và danh tiếng cho New York Times vì ông biết chắc rằng họ sẽ được giải thưởng Pulitzer, sự dũng cảm của họ xứng đáng được như vậy.

Nhưng Dunn Gifford bảo danh tiếng của New York Times là chuyện nhỏ, tiếp tục công bố tài liệu cho công chúng biết mới là chuyện lớn, vì không biết đến bao giờ New York Times mới được tiếp tục đăng lại và việc công bố tài liệu có thể chấm dứt tại đây, trừ phi các tờ báo khác nắm lấy ngọn cờ. Gifford cũng cảnh báo ông rằng toàn bộ tiến trình công bố tài liệu có thể dừng lại vĩnh viễn, trừ phi chính ông tiếp tục thúc đẩy nó.

Daniel tìm cách liên lạc với một người quen đang làm biên tập viên tờ Washington Post. Ông hỏi Washington Post có cần tài liệu đó không ? Dĩ nhiên là họ cần. Có cam kết sẽ đăng không ? Người này liên lạc với chủ bút tờ báo – ông Ben Bradlee. Bradlee nói dứt khoát : “Trong trường hợp tôi có được những hồ sơ đó và nếu chúng không được đăng trên số báo ngày hôm sau, thì tờ Washington Post sẽ có một chủ bút mới”. Sự khẳng khái của người chủ bút là sự động viên lớn, nó tiếp sức ông.


Ngày 18-6, Washington Post khởi đăng loạt bài đầu tiên. Lập tức Bộ Tư pháp yêu cầu ngừng đăng. Washington Post từ chối. Chính phủ Mỹ đưa Washington Post ra toà, nhưng toà bác yêu cầu của Chính phủ. Ngay trong đêm, Chính phủ Mỹ kháng cáo. Toà trên bác phán quyết của toà dưới, yêu cầu xử lại. Ngày 21-6, Toà dưới xử lại và lại bác yêu cầu của Chính phủ, Washington Post được đăng tiếp. Ngày 22-6, New York Times cũng thắng, tiếp tục đăng Hồ sơ. Nhưng sự việc chưa dừng lại ở đó mà phải đưa lên tòa tối cao.

Chủ tịch Washington Post Katharine Graham
và Chủ bút Ben Bradlee tươi cười hết cỡ sau khi thắng kiện


Do sự thúc đẩy của Daniel, trong đó có việc ông nhờ Washington Post chuyển một bộ tài liệu đến Thượng nghĩ sĩ Mike Gravel, tài liệu tiếp tục được phổ biến. Gravel là thượng nghị sĩ chống chiến tranh quyết liệt nhất và là người duy nhất dám nhận Hồ sơ và làm tất cả những gì ông có thể để đưa ra Quốc hội và phân phát cho báo chí. Gravel dũng cảm làm điều đó mà không có bất cứ sự bảo đảm nào về quyền miễn trừ cho hành động của ông. Thượng nghị sĩ có nguy cơ mất chức.

Sau khi New York Times và Washington Post đăng tải tài liệu và bị cấm, 17 tờ báo khác đồng loạt vào cuộc. Các đài truyền hình và phát thanh cũng vào cuộc, thách thức chính quyền Mỹ. Rồi toàn giới truyền thông Mỹ nhập vào dàn đồng ca.

Ngay cả tạp chí TIME, là tờ báo luôn ủng hộ chính quyền Mỹ tiến hành chiến tranh, vẫn không đứng ngoài cuộc. TIME viết một câu chuyện về Daniel Ellsberg để đăng trên trang nhất, nhưng quy định của TIME là câu chuyện trên trang nhất phải có phỏng vấn nhân vật. Họ tìm ông để yêu cầu, thậm chí dành cho ông 3 trang để ông nói bất cứ điều gì ông muốn, không biên tập, nhưng Daniel đã từ chối. Cuối cùng tạp chí này vẫn đăng ông trên trang nhất. Kể từ khi đăng bài viết về Hitler năm 1943, đây là lần đầu tiên một nhân vật được đưa lên trang bìa báo TIME mà không có phần phỏng vấn cá nhân.



Daniel Ellsberg nhớ lại trong hồi ký của mình : “Những gì đang xảy ra ở nước Mỹ thật đáng ngạc nhiên và chưa từng có. Ngành công nghiệp báo chí, trong vòng 30 năm trở lại đây hoặc lâu hơn nữa, mỗi khi động đến chính sách đối ngoại và các vấn đề quốc phòng luôn bằng lòng với việc dựa vào các văn kiện của chính phủ, bỗng nhiên nổi loạn khắp nơi”.

Để tài liệu được công bố càng nhiều càng tốt, Daniel Ellsberg phải “hoạt động bí mật” nhằm lẩn tránh sự truy tìm của FBI. Không phải ông sợ đối diện với luật pháp, ông phải tranh thủ đủ thời gian. Ngày 25-6, lệnh bắt giam ông được ký, để đưa vào hồ sơ trước khi Tối cao pháp viện họp về vụ New York Times và Washington Post. Daniel phải trì hoãn thêm mấy ngày để phân phát hết tài liệu. Và ông đã chủ động đến toà án liên bang, không để FBI bắt dọc đường. Tại đây, Daniel bị vây quanh bởi một làn sóng phóng viên báo chí. Trước một rừng micro trước mặt, ông nói :

“Mùa thu năm 1969, với sự chủ động cá nhân, tôi nhận trách nhiệm báo cáo với Chủ tịch Uỷ ban Đối ngoại Thượng viện (thượng nghĩ sĩ Fullbright) thông tin trong cái gọi là Hồ sơ Lầu Năm góc, bao gồm cả tài liệu nghiên cứu về các cuộc đàm phán của Mỹ, những điều chưa từng được tiết
lộ cho báo giới. Đến thời điểm đó chỉ có tôi và hơn chục cá nhân khác có quyền tiếp cận những nghiên cứu này. Đến mùa xuân năm nay – hai cuộc xâm lược sau đó - khoảng 9 ngàn người Mỹ nữa và hàng trăm ngàn người dân Đông Dương bị chết, tôi chỉ có thể ân hận rằng tại thời điểm đó, tôi đã không phơi bày lịch sử trên báo chí cho người dân Mỹ biết. Hiện nay tôi đã hoàn thành công việc đó, một lần nữa, với sự chủ động của cá nhân tôi.

Tất cả những hành động đó trái ngược với quy định bảo mật và, thậm chí, trái ngược với cách xử lý thông tin của Bộ Quốc phòng. Tuy nhiên, với tư cách là một công dân có trách nhiệm, tôi cảm thấy không thể hợp tác thêm nữa trong việc che giấu thông tin này đối với công luận Mỹ. Tất nhiên, hành động của tôi có thể gây nguy hiểm cho bản thân, và tôi sẵn sàng chịu trách nhiệm về mọi hậu quả do quyết định của mình gây ra. Đó có thể là hậu quả cho cá nhân tôi, gia đình tôi.

Nhưng dù hậu quả đó có ra sao, cuối cùng chúng cũng không thể so sánh với những hậu quả mà tôi, cùng với hàng triệu người Mỹ khác, đã từng vui vẻ chấp nhận khi trước để phục vụ tổ quốc này.

Đối với tôi đây là một hành động của hy vọng, một hành động của lòng tin. Hy vọng rằng sự thật sẽ giải thoát cho chúng ta khỏi cuộc chiến này. Tin rằng những người dân Mỹ hiểu biết sẽ buộc những công chức của họ ngừng nói dối, ngừng tàn sát và chấm dứt chết chóc ở Đông Dương do những người Mỹ gây ra”
.

Daniel được “tại ngoại” sau khi nộp 50.000 USD tiền bảo lãnh.


Chiều 30-6-1971, Tối cao pháp viện, với 6 phiếu thuận và 3 phiếu chống, đã huỷ bỏ tất cả các lệnh cấm và gạt bỏ mọi trở ngại cho việc đăng tải Hồ sơ Lầu Năm góc. New York Times và Washington Post thắng kiện. Toàn bộ khối hồ sơ mật sau đó được công chúng biết đến một cách sâu rộng nhất.

New York Times họp báo. Từ trái sang : A. M. Rosenthal (thư ký tòa soạn),
Athur Ochs Sulzberger (Chủ tịch) và James C. Goodale (phụ trách pháp lý), rạng rỡ sau khi thắng kiện


Nhưng người ta đã không tha cho Daniel Ellsberg. Một bản cáo trạng quy kết ông 12 tội danh và ông phải đối diện với 115 năm tù.

Trong thời gian đó chính quyền Nixon cho tiến hành nhiều hoạt động bẩn thỉu nhằm bôi nhọ thanh danh của Daniel, trong đó có việc đột nhập văn phòng bác sĩ tâm lý đánh cắp hồ sơ để cải sửa bệnh án nhằm quy cho ông bị bệnh tâm thần, tiến hành nghe trộm điện thoại của ông… Tất cả những hoạt động trái pháp luật đó đều được đưa ra công khai tại tòa án. Và ngày 11-5-1973, Tòa tối cao tuyên bố hủy bỏ phiên tòa và yêu cầu “dưới chính quyền đương nhiệm, các bị cáo sẽ không bị xét xử thêm một lần nữa về cùng những cáo buộc này”. Daniel Ellsberg và bạn của ông vô tội.


Các hoạt động phi pháp nhằm bôi nhọ thanh danh của Daniel nằm trong chuỗi scandal tai tiếng nhất trong lịch sử nước Mỹ : Vụ Watergate.


Bộ trưởng Tư pháp John Mitchell, người đứng ra khởi tố Daniel, bị truy tố. Một tuần sau, Quốc hội tiến hành điều trần vụ Watergate. Nixon từ chức. Quốc hội nắm quyền kiểm soát. Người thay thế Nixon là Gerald Ford tuân thủ quyết định của Quốc hội chấm dứt chiến tranh Đông Dương.


Vụ tiết lộ Hồ sơ Lâu Năm góc là một trong những thử thách lớn nhất đối với sự bất khả xâm phạm của Hiến pháp nước Mỹ. Sau đây là một đoạn trích từ website của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội nhắc đến phiên tòa xử cho tờ New York Times và Washington Post thắng kiện :


“Tòa phán rằng, không có đủ cơ sở để Tổng thống có thể nói rằng an ninh quốc gia có thể bị ảnh hưởng do việc xuất bản thông tin đó. Tòa cho rằng, Hiến pháp đã có một “sư dự liệu quan trọng” nhằm chống lại sự can thiệp quyền tự do báo chí. Trong khi có thể thuyết phục Tòa rằng việc báo chí xuất bản các tài liệu mật có thể gây ra những hậu quả nghiêm tọng, thì Chính phủ đã thất bại trong việc chứng minh điều đó trong trường hợp cụ thể này”.

“Sự dự liệu quan trọng” nói trên là gì ? Trong nỗ lực biến nước Mỹ trở thành một nước “Hiến trị”, các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã tính đến khả năng vi phạm Hiến pháp của nhà cầm quyền nên đã tìm cách ngăn chặn bằng một điều khoản “khét tiếng”. Đó là Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất trong 10 Điều bổ sung sửa đổi đầu tiên trong Hiến pháp Hoa kỳ (10 điều này thường gọi là “Tuyên ngôn nhân quyền”). Phần liên quan đến tự do báo chí trong Điều khoản đó cực kỳ ngắn gọn như sau : “Quốc Hội không được ban hành một đạo luật nào nhằm … ngăn cấm tự do ngôn luận, báo chí”. Nó ngăn chặn một cách triệt để việc Quốc hội ban hành các đạo luật tùy tiện, cũng như ngăn chặn tất cả việc “xử lý” tùy tiện của chính phủ và tất cả các cơ quan nhà nước khác về tự do ngôn luận, báo chí.


Chính điều khoản ngắn gọn đó đã bảo vệ được em bé 13 tuổi chống chiến tranh, bảo vệ được tờ New York Times và Washington Post thắng kiện.


Nhưng như những gì đã thấy ngay tại nước Mỹ, quyền được ghi trong Hiến pháp không có nghĩa là nó được thi hành một cách tự nhiên. Cô bé 13 tuổi phải đi kiện mới có. Các tờ báo phải đi kiện mới có. Có lần thẩm phán Potter Stewart của Tối cao pháp viện Hoa Kỳ nói với một nhóm quan tòa, luật sư và nhà báo về điều khoản này : “Các bạn thử nghĩ xem các quyền này từ đâu tới ? Không phải là con cò đã mang đến, mà chính là các quan tòa đã mang nó đến” (trích từ website của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội).


Nghĩa là tòa án phải độc lập. Nếu như tòa án Mỹ không độc lập với Tổng thống Nixon thì chắc chắn “Hồ sơ mật Lầu Năm góc” đã không được công bố như nó đã được công bố và Daniel Ellsberg không thoát khỏi nhà tù. Dù sau khi hai tờ báo thắng kiện, tài liệu được công bố rộng rãi, Nixon vẫn phớt lờ để tiếp diễn chiến tranh, nhưng sự kiện báo chí này đã đưa phong trào phản chiến lên cao trào, làm thức tỉnh Quốc Hội, thức tỉnh lương tâm nước Mỹ, để đến khi vụ Watergate được phanh phui, ý chí của những kẻ hiếu chiến bị chặn đứng. Có thể nói, sự kiện báo chí đó đã góp phần cứu sống biết bao nhiêu người Việt Nam, biết bao nhiêu người Mỹ. Nó cũng để lại một bài học lớn : Bài học “Hiến trị”.



(Nguồn cho những trích dẫn :
+ Daniel Ellsberg : Secrets : A Memoir of Vietnam and the Pentagon papers
– Bản tiếng Việt (Những bí mật về chiến tranh Việt Nam), NXB CAND, Hà Nội, 2006;
+ Website Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội)

Thứ Tư, ngày 18 tháng 3 năm 2009

Tiếng thở dài


Những cánh rừng trụi lá

Dòng sông khô

Tổ quốc loang lổ

Tổ quốc cháy sém

Tổ quốc … bật thành tiếng nấc


Người chào hàng bán rao chân lý

Sự thật biến thành đồ hộp

Kẻ hành khất cải biên bài hát cũ

Cơn bão quay vòng như điệp khúc

Lòng yêu đặt lên bàn cân


Trời đất mênh mông

Trời đất mênh mông

Trời đất mênh mông cho ai đây

Bạn bè đấm đá

Những giọt nước mắt chảy sau chiếc mặt nạ


Trời đất mênh mông

Trời đất mênh mông

Trời đất mênh mông cho ai đây


Trời đất mênh mông

Trời đất mênh mông

Trời đất mênh mông cho ai đây

Câu thơ nén trong lồng ngực

Bật ra thành tiếng thở dài


HOÀNG HẢI VÂN

1989

Chủ Nhật, ngày 15 tháng 3 năm 2009

Tui đi bán báo


Thanh Niên Thể thao&Giải trí đã ra được 14 số. Nghiên cứu thị trường thấy rằng : Sạp báo nào treo báo lên hoặc người bán báo giới thiệu với người mua báo thì báo ở đó bán hết. Nhiều sạp mỗi ngày bán được 60-70 tờ. Sạp báo nào để báo lút vào trong hoặc người bán báo không nói năng gì, ai hỏi thì đưa ra ai không hỏi thì thôi, thì báo ở đó bán không hết. Dĩ nhiên thừa không nhiều, vì báo in gần sát với mức độ tiêu thụ.

Hôm qua ra quán cà phê 1 Bùi Thị Xuân lần lượt gặp 2 đồng nghiệp nhí bán báo dạo, hỏi TNTT&GT còn không bán chú 1 tờ. Một thằng bảo hết rồi, một thằng còn 1 tờ, mua luôn. Tâm sự phải không một hồi, rồi nhờ một đứa "tập hợp" cho một đám bán báo dạo, nó nói bọn con có 10 thằng, ngày mai sẽ có 6 đứa.

Sáng nay mang 6 cái poster quảng cáo in màu khổ A4 đưa cho thằng đồng nghiệp hứa hôm qua, nó đến rất đúng giờ (làm ăn đàng hoàng ai cũng phải đúng giờ cả), bảo nó kẹp cái bảng quảng cáo này sát ngực cho người ta thấy, phía trước thì đưa tờ báo thò ra, sử chiêu "tiền xe hậu pháo". Nó "nhận nhiệm vụ" nhanh chóng mang đi hướng dẫn mấy đứa khác.

Ra khỏi cửa nó thầm thì gì đó với chị bán thuốc lá (kiêm bán báo) rồi đưa cho chị 1 cái. Nó quay lại nói báo chị ấy bán là do nó gửi, chú yên tâm đi. Chị thuốc lá cầm cái poster dựng trên quày, dựa vào tủ thuốc nhỏ phía trên, hướng ra đường, dựng như thế chỉ cần gió nhẹ là bay mất. Nhưng cái poster chưa kịp bay thì một anh xe ôm lại cầm lên xem, xem xong lơ đãng gấp đôi lại, miết một cái thành nếp rồi đặt nằm ngang trên mặt quầy, hai nửa cái poster nửa này "quảng cáo" cho nửa kia xem. Anh xe ôm đi rồi, chị thuốc lá cầm cái poster lên vuốt thẳng lại, nhưng nó đã bị gãy rồi không dựng lên như trước được, chị đặt nó nằm ngửa quay mặt lên, "quảng cáo" cho trời xem.


Nhìn cảnh đó vừa tức cười vừa ngao ngán. Bán được một tờ báo chua chát lắm.


Ngày mai 10 anh chị em sẽ ra đường triển khai 50 điểm bán báo mẫu. Đại để cũng giống như triển khai cho mấy đồng nghiệp báo dạo vừa nói. Cuối tuần qua đã cho người làm thử vài điểm, thấy có hiệu quả. Một sạp báo nhỏ bán trước đó được 8 tờ, sau khi có poster (lớn hơn poster đưa cho báo dạo), bán được 15 tờ.


"Kích hoạt" hàng ngàn điểm bán báo ở Sài Gòn này không dễ chút nào hết.


Chắc phải nhờ ông Thạo dạy thêm cho mấy miếng võ bí truyền để đi giang hồ "mãi võ bán báo" như Hàn Phi Quang mới được, hehe.


Thứ Sáu, ngày 13 tháng 3 năm 2009

Khách giang hồ thứ thiệt (7)

Trung Trung Đỉnh


Kỳ cuối : “Giải cứu con tin"


Chỉ một phiên chợ mà Hàn Phi Quang đã bán hết sạch số thuốc mang theo. Tiền thu lèn cứng ba lô. Quang thuê thằng con ông Chiền và thằng Cu, bạn nó, xếp loại nào ra loại ấy, bó lại, mỗi bó bao nhiêu, ghi vào mẩu giấy bó cùng để nhớ.


Thằng Cu có vẻ bám Quang lắm. Nó cúc cung tận tụy, chỉ cần Quang liếc mắt một cái là nó hiểu ý cần làm gì ngay. Mấy ngày không có chợ phiên tôi và quang cùng thằng Cu vào bản chơi. Quang bắt thân rất nhanh với một cụ già dễ có đến trên 80 tuổi. Cụ là chủ ngôi nhà sàn to đẹp nhất bản. Hàn Phi Quang mang theo sẵn một bó tiền, cậu đưa cho cụ già nhờ phân phát cho mọi người. Cụ già chối đây đẩy, thậm chí tỏ ra giận dữ. Tôi bảo Quang làm thế người ta tự ái. Quang "hừm" một cái rồi nói với cụ già:


- Con mua vé cho mọi người coi con biểu diễn mà.


Nói rồi cậu biểu diễn mấy màn nho nhỏ cho ông cụ và con cháu cụ trong nhà coi. Có mấy người được coi cậu biểu diễn ở chợ rồi nên càng háo hức. Họ gọi bạn bè và dân bản đến. Tin Quang đang biểu diễn trong nhà cụ già nhanh chóng được lan truyền. Người ta kéo nhau đến đông quá, Quang đành xin phép được xuống sàn biểu diễn trong ánh đuốc bừng bừng.


Rôi Quang nhờ tôi và thằng Cu chia tiền cho mọi người. Dân bản rất vui nhận những đồng tiền do chúng tôi phân phát. Họ đem ra một cái gùi, người một nhúm, người một bát gạo, tặng "đoàn".


Quang không phải văn công. Quang không phải người làm từ thiện. Quang là khách giang hồ thứ thiệt. Cậu múa võ, nuốt gươm, nhai thủy tinh, tung hứng, lộn nhào, uốn dẻo...tất cả đều theo bước chân giang hồ "Hà tất lợi danh thắng dạ thần".


Chúng tôi thu xếp đồ đoàn, nhanh chóng theo xe Ton "xuôi". Thằng Cu đã biến mất.


Ton "đổ" chúng tôi xuống ga Yên Bái. Cuộc chia tay của ba anh em bằng một bữa ăn ở nhà ăn Quốc doanh "Kêu gì cũng không có" giữa ga. Quang vô chợ và về với một con gà luộc và mấy khoanh giò chả. Còn Ton thì đi đâu đó và mang hẳn ra một can năm lít rượu ngô. Đang rót rượu thì có một bà te tái xách một cái làn đến, bày lên bàn cho chúng tôi một mâm cỗ gồm xôi, gà, giò chả, mỗi thứ chừng nửa cân. Quang vào phía trong "xin phép mấy chị cho Quang mời!". Mấy chị cửa hàng từ chối, nhưng Quang không nghe. Cậu kiên quyết "biểu tình đứng", đến khi tôi và Ton lại phải vào thương thuyết các chị mới đùn đẩy nhau ra ngồi quanh bàn.


Chúng tôi ăn quáng ăn quàng vì theo chị cửa hàng trưởng, chỉ còn nửa tiếng nữa là có tầu về Hà Nội. Bà đem đồ ăn thức uống tới cho chúng tôi cũng là người đem vé đến. Theo mấy chị nhà ăn xì xào bàn tán với nhau, gọi bà ta bằng giọng rất khinh bỉ : "con phe"!


Hai anh em tôi chia tay "mấy chị" và tài xế Ton rất quyến luyến. Quang cầm một bó tiền, bửa ra làm đôi, đưa cho các chị một nửa, anh Ton một nửa. Tôi ngạc nhiên thấy Ton không từ chối và các chị cũng không từ chối. Họ đưa chúng tôi ra tận toa và chỉ đến khi tầu chuyển bánh mới chịu quay về...


Về tới Hà Nội, mấy ngày nghỉ ngơi, Quang đi đâu thường mãi khuya mới về. Rồi đến một hôm, tôi thấy Quang có vẻ bất an. Cậu loay hoay "làm dược" xong lại loay hoay viết lách đến khuya. Tôi không ngủ được nên lấy chai rượu ra, hai anh em tâm sự cái sự đời. Tôi kể chuyện tôi có bà chị đi kinh tế trên rừng núi Tân Trào, Tuyên Quang, vừa xa vừa nghèo vừa ốm đau bịnh tật, nhất thiết ngày mai tôi phải lên đó coi tình hình thế nào. Quang nghe chuyện bảo, thế cho em cùng đi. Quang cũng trút bầu tâm sự. Hóa ra Quang cũng có quá nhiều nỗi niềm. Lớn lên ở cô nhi viện, học hành không được bao nhiêu thì trốn ra sống "tự do" có tới chục năm nay. Hiện cậu đang cố đi kiếm tiền đem về nuôi cô vợ mà cậu "lượm" được ở PLeiKu. "Nàng" đang có bầu bẩy tháng. Cái bầu ấy không phải của cậu, nhưng cậu coi đó là "chuyện nhỏ", mình là đàn ông, mình phải có tiền lo cho vợ đẻ.


Thế là lần nầy Quang theo tôi chứ không phải tôi theo Quang đâu nhé!


Hai đệ tử "Tây đen" không hiểu chúng làm thế nào đã có được giấy tờ tùy thân cùng "ngược" Tuyên với hai "đại ca". Không thể nói là thuận buồm xuôi gió vì chúng tôi mang theo hai bao tải "dược" đen và hai ông em "đệ tử" cao nghều, cũng đen kịt như cục thuốc tễ, đi đến đâu cũng bị các trạm kiểm soát và công an "hỏi thăm". Tôi như người vô can vì giấy tờ quá ngon lành. Nhưng giấy của hai đệ tử có dấu đỏ hẳn hoi mà đến trạm nào cũng bị "soi" rất kỹ. Kỹ thì kỹ nhưng rồi cũng qua. Đến trạm Đoan Hùng, bỗng trong đám mấy ông khám xe, có một ông xọc cây thuốn vào bao tải dưới chân tôi. Ông ta thấy quanh quánh, đen đen liền đưa lên mũi ngửi, lại thấy thơm thơm liền ra lệnh cho hai nhân viên khuân xuống kiểm tra. Tình thế không như tôi tưởng. Tôi đem giấy tờ ra trình. Họ nhìn tôi rất khả nghi vì tôi không đeo quân hàm, lại đi dép Tiền Phong.


- Thuốc này là thuốc gì?. Một người hỏi.


- Báo cáo các đồng chí thuốc tễ chữa bệnh nhức mỏi, đau xương cốt. Tôi trả lời.


- Anh đem đi bán hay làm gì?


- Báo cáo các đồng chí, tôi đem đi bán.


- Vậy giấy tờ đâu?


- Giấy tờ tôi đưa các đồng chí rồi mà.


- Giấy tờ bán thuốc kia!


- Nói thật các đồng chí, tôi đem lên Tân Trào, tận vùng kinh tế mới cho bà chị tôi bán lấy giá chênh lệch.


Đang bị tra vấn, bỗng thấy bên ngoài ồn ào, có một tiếng "uơ...uớ...ớ..." rất to và rất dài. Tôi hiểu ngay Quang đang làm gì. Cánh cán bộ liên ngành đang tra vấn tôi, thấy ồn cùng nhìn ra. Một đám đông, chủ yếu do khách trên xe vây quanh Hàn Phi Quang trước sân "Trạm kiểm soát" xem cậu biểu diễn. Cánh cán bộ đang "thi hành công vụ" quên khuấy mất tôi cùng nhảy ra xem. Mới đầu họ cũng có ý định dẹp, nhưng khi tới coi, ngay lập tức bị cuốn vào cuộc. Tôi bình thản xách bao dược ném dưới chân ghế xe, chỗ chúng tôi ngồi, rồi ra đứng cửa xe hút thuốc.


Màn biểu diễn của thầy trò Quang đến là may khi họ phát hiện có một đống gạch của Trạm sát bên. Quang nháy "đệ tử" khuân ra 10 viên, một thằng cong lưng, Quang và thằng kia chồng lên đó mười hòn gạch - việc này khó khăn đến nghẹt thở. Rồi Quang xắn tay áo, đứng ở thế "tấn". Bỗng hét lên một tiếng. Như một con nhái nhảy lên cành cây, Quang nhảy lên lưng tên "đệ tử" cũng đang "tấn". Hắn dang cánh tay, huơ lên, chém cái "bụp" xuống 10 viên gạch, Gạch vỡ vụn trong tiếng reo hò. Cả nhà xe và "nhà trạm kiểm soát" đều hồ hởi, không còn ai coi chúng tôi là "đối tượng" nữa. Cuộc biểu diễn nầy là để "giải cứu con tin" chứ không bán thuốc. Khách trên xe nhìn anh em chúng tôi thân thiện đã đành, nhân viên "Trạm kiểm soát" không những không hỏi han gì nữa, họ còn kéo nhau ra tiễn chúng tôi lên đường và hẹn, hôm nào "xuôi" thì ghé trạm "chúng em" chơi...Thời ngăn sông cấm chợ khó khăn đủ bề nhưng không hiểu sao người ta lại sống hồn nhiên với nhau thế.


Chúng tôi thuê nhà trọ ngay tại bến xe, cho hai "đệ tử" ngủ, và Quang giao hẹn "hai em" ở nhà, không được ra ngoài. Tôi bảo cho chúng nó đi dạo. Quang nhất thiết không! Rồi giải thích thêm, để mai biểu diễn, người ta nhìn thấy chúng nó lần đầu tiên độc đáo hơn. À ra thế! Không thể chê Quang vào đâu được. Tôi dẫn Quang đến chỗ nhà văn Đinh Công Diệp chơi.


"Mỗi chú làm một chén, rượu Na Hang ngâm rết, tuyệt vời đấy”, anh Diệp rót rượu nói. Tôi cầm cái chai dơ lên coi. Rượu trắng nhờ nhờ. Con rết to bằng ngón tay chỉ còn cái xác te tua. Tôi giới thiệu Quang, lên đây “Sơn đông mãi võ. Anh Diệp kéo tôi ra ngoài, thì thầm, không được đâu, ở trên nầy người ta đã có lệnh cấm các nhóm mãi võ bán thuốc, nếu không có giấy phép. Tôi gọi Hàn Phi Quang ra nói lại. Không ngờ Quang đã có giấy phép xin được ở trong Nam do Ty y tế tỉnh Nghĩa Bình cấp, nhưng đã … hết hạn.


Tôi và anh Diệp uống với nhau cho đến khuya, Quang lẩn đi đâu mất, đành lăn ra ngủ. Mãi tới chừng 9 giờ sáng mới tỉnh hẳn, tôi kéo anh Diệp ra bến xe. Bến xe có một khoảng trống rất rộng, người ta đang xúm đen xúm đỏ. Ba thầy trò Quang đang biểu diễn và bán thuốc.


Biểu diễn ở Tuyên Quang 3 ngày, rồi về Hà Nội. Tối đó xuống ga Hàng Cỏ, chúng tôi trôi theo dòng người ra cửa ga, gọi một xích lô "phi" về Vân Hồ Ba, còn hai "đệ tử Tây" đi bộ về nhà. Thật chẳng may xích lô vừa ra khỏi cổng ga đang cố lách khỏi đám người nhốn nháo liền bị hai anh công an giữ lại. Hình như đang có vụ săn bắt cướp, dĩ nhiên không có liên quan gì đến chúng tôi. Tôi chỉ kịp thọc tay vào ba lô lấy khẩu súng ngắn K54 theo bản năng, và có lẽ cũng theo bản năng một anh công an cũng thọc tay vào đó. Hai chúng tôi giằng co nhau khẩu súng. Nhoáng một cái Quang biến khỏi xe cùng với ba lô tiền.


Tôi bị giải về đồn và đưa giấy tờ ra liền được xin lỗi và thả bổng.


Về tới nhà đã thấy Quang đang biểu diễn màn nuốt gươm và đập vỏ chai cho mấy anh ở trại viết không đi thực tế coi. Mấy anh coi không giống bà con dân phố, dân bản. Ai cũng có sẵn một sự khó chịu trong lòng nên cái cách hỏi và xem không được bình đẳng cho lắm. Nhưng Quang rất hồn nhiên một khi có ai hỏi với giọng khinh khí. Sau này cậu bảo tôi, muốn giải tỏa ác cảm cho người thì mình phải giải tỏa mặc cảm cho mình trước.


Đường rong ruổi của chúng tôi còn dài, cho đến khi Hàn Phi Quang biến mất. Nhưng tôi phải tạm kết thúc ở đây.


Hàn Phi Quang đã biến khỏi tôi và khu trại viết ở Vân Hồ Ba gần 30 năm rồi. Quang đi đâu về đâu không ai biết. Anh Thanh Thảo đã nhờ chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly” tìm kiếm Quang. Xin giới thiệu kèm theo đây một bài thơ của Thanh Thảo viết về Hàn Phi Quang.


Tôi rất hy vọng, ở đâu đó Quang đọc được những dòng này và tìm lại chúng tôi.

TTĐ


thanh thảo

NGƯỜI MÃI VÕ SƠN ĐÔNG

“Sơn Đông mãi võ giang hồ khách”

Hàn Phi Quang

1


như những chiếc vòng bỗng móc chặt vào nhau

anh đã móc đời mình với hiểm nguy với manh áo chén cơm với

tiếng cười những cặp mắt hân hoan với

nỗi sợ đứng tim từng giây phút


những thanh gỗ xoay tít

âm nhạc vỏ chai đập vào đầu

nổ hàng vạn chấm sao


hãy giữ thăng bằng

vì chúng ta đều đang đi trên giây

hãy rũ bỏ

thật nhẹ mình

vừa tung lên khoảng không những quả bóng màu sặc sỡ

vừa thản nhiên huýt gió


2


có bao nhiêu con đường dẫn về minh triết

anh đã chọn con đường nguy hiểm nhất

dang tay đi giữa đỉnh cao và vực sâu

nói không ngừng những điều nhàm chán

rồi thốt nhiên im lặng


như thi sĩ anh đã rao bán đức tin dầu cù là thuốc ban nóng hiệu con bìm bịp

những niềm vui hiếm hoi dễ dãi

những thần dược rẻ hơn tô bún bò

khiến ta bừng tỉnh trước khổ đau


3


lên đường!

là ngọn gió không nhà chen chúc trong toa tàu đen đũi

là trái banh từ bàn chân định mệnh


lên đường !

thành phố bến xe công viên những vồ vập hững hờ cùng một lúc

nụ cười nở giữa những toà nhà lam nham sỏi cát

nụ cười như bông hoa quái ác dính cứng vào miệng anh

chiếc mặt nạ đã hoá thành da thịt


lên đường !

theo bốn mùa xoay chuyển

ghé lại nhiều ga xép

và luôn luôn trễ giờ

Qui Nhơn 1980


TNTT&GT số 11, 12-3-2009

Khách giang hồ thứ thiệt (6)

Trung Trung Đỉnh

Kỳ 6 : Mẹo của ông Hữu Thỉnh không thiêng

Tôi về, làm một bụng cơm nguội với cá kho rồi lăn ra ngủ. Được một giấc, tỉnh dậy, còn nằm mơ mơ màng màng trong chăn, bỗng nghe có tiếng khọt khet, khè khè. Tôi không hiểu thứ tiếng gì nên tung chăn ngồi dậy. Trước mắt tôi là một cảnh kinh hoàng : Một đàn rắn có tới năm sáu con. Hóa ra chúng chui được qua miệng ba lô! Con đen trũi, con vàng ươm, đều to cỡ cổ tay đang bò ven các góc tường phòng, vừa trườn vừa kêu khọt khẹt. Tôi tự bảo mình bình tĩnh, nhưng run quá. Có con ngo ngoe ngóc đầu dậy "phì" một phát dọa tôi.

Chợt thấy có bóng người đi qua cửa kính, tôi gọi to:

- Ai đi qua đấy? Cứu tôi với!


Tôi nghe tiếng ai như tiếng nhà thơ Hữu Thỉnh đang xuống bếp trả soong nồi mượn của chị nuôi khi chiều.

Tôi liền gọi to hơn, nhưng cửa tôi lại chốt trong.

- Có chuyện gì thê?

Đúng là tiếng anh Thỉnh. Tôi đứng trên giường, rút một thanh giát, dùng nó làm que đẩy, đẩy bật được cánh cửa sổ. Nhà thơ Hữu Thỉnh có lẽ lần đầu thấy nhiều rắn thế nên cũng hoảng hồn, nhưng anh bảo tôi bình tĩnh, không được cựa quậy. Anh bảo, loài rắn, nó bò qua chân cũng cứ ngồi im, mọi chuyện sẽ qua, để anh ra vườn dân trước khu nhà chúng tôi ở, vặt lá sắn dây. Chỉ cần ném lá sắn dây vào là bọn rắn nằm im như thóc, anh nói thế.

Có chừng năm phút sau Hữu Thỉnh ôm về một ôm lá sắn dây. Mọi người trong khu Trại nghe chuyện xúm đến khá đông. Mỗi anh một ý, nhưng mẹo mà Hữu Thỉnh đưa ra khá thuyết phục. Có anh bảo bọn ngỗng cũng thế, có thể dùng lá khoai nước đặt lên đầu ngỗng, chúng có thể nằm im từ tối đến sáng luôn. Anh Hữu Thỉnh lần lượt từng nắm to lá sắn, đứng ngoài cửa sổ, ném vào chỗ bọn rắn đang bò tản mát trong phòng. Có nắm anh ném trúng đầu con Hổ mang bành, nó ngóc thẳng đầu lên, "phì" ra một phát khiến tôi rùng mình. Tôi dùng đầu que dát giường khẩy lá sắn dây tủ lên người con rắn đen trùi trũi. Bỗng nó quăng mình, đớp vào đầu que khiến tôi hồn xiêu phách lạc. Tôi đành ngồi ôm chăn vừa run, vừa cảnh giác. Mẹo của anh Hữu Thỉnh không thiêng.

May quá, đúng lúc ấy Hàn Phi Qang dẫn hai "đệ tử" da đen về đến. Tôi dùng cây dát giường khoèo cái ghế tựa lại rồi nhẩy lên ghế, bám lên song cửa sổ, một chân trên ghế, một chân trên bậu cửa, dùng cây dát giường đẩy chốt cửa. Cửa bung ra. Hàn Phi Quang vô tư bước vào, lần lượt tới bên từng con rắn cầm đuôi chúng nhấc lên, cho gọn vào trong ba lô.

Hàn Phi Quang bày ra nền nhà nào thịt quay, gà tần, nào giò chả và tất nhiên có hai chai rượu vốt-ca Ba Lan, loại có cọng cỏ bên trong. Tôi mừng rơn rủ anh Thỉnh ngồi lại nhậu, nhưng anh Thỉnh từ chối.

Tôi không nhớ chúng tôi nhậu đến mấy giờ khuya, nhưng hai lần anh Ròong cán bộ hành chính khu Trại đến nhắc nhở. Hai anh da đen nằm say chỏng vó, còn Hàn Phi Quang thì đang cặm cụi làm thuốc. Tôi hứng khởi đi ra phía trước, thấy trăng sáng quá liền nhảy qua tường, sang vườn chuối của dân, tè.

Tôi đang tè thì bỗng có một bóng đen nhảy tới, túm ngực tôi, giật tới giật lui, rít lên:

- Tôi nói cho chú biết! Chú tha về mấy thằng Tây, lại tổ chức nhậu nhẹt trong doanh trại mà không báo cáo, nếu có chuyện gì xảy ra chú phải hoàn toàn chịu trách nhiệm!

Tôi nghe tới hai từ "trách nhiệm" liền bừng tỉnh và nhận ngay ra ông Hữu Thỉnh.

Tôi vâng dạ liên hồi rồi quay về phòng.

*

Theo đề nghị của Hàn Phi Quang, chúng tôi theo xe tải của một anh tài chuyên chở ngô sắn cho Hợp tác xã về thị xã Yên Bái. Anh lái xe xem Quang biểu diễn ở bến xe và mê tít thò lò luôn. Anh ta tên là Ton. Đường vào Văn Chấn Nghĩa Lộ đẹp như trong tranh. Tôi ngây ngất ngắm cảnh núi rừng mờ mờ ảo ảo. Con đường gập ghềnh khúc khuỷu nhưng chúng tôi được ngồi ca-bin cùng Ton nên sướng rơn. Mấy ngày ở Yên Bái, Quang lao động hết công suất. Số thuốc mang từ Hà Nội lên đã bán gần hết. Hai cô gái Tày - bây gìơ tôi mới nghĩ lại, hình như họ cứ nói em là người Tày, người Thái, nhưng thật ra họ là Thái...Bình! Thì có sao đâu. Các cô đã đem đến cho Quang một bao tải dược đúng y như loại dược Quang mang từ Hà Nội lên. "Bao giờ bán hết thì về đây chúng em để lại cho". Số tiền kiếm được Quang bó thành bó, bỏ trong ba lô của tôi.
Không có "đệ tử" nhưng mọi việc dọc đường Ton tình nguyện làm hết. Ton bảo được mời hai "đại ca" ngồi trong ca bin về thị trấn, coi như một đặc ân đối với anh. Tôi cứ cảm thấy sao sao, chưa thoát ra khỏi cái mặc cảm ăn bám, mặc dầu Quang chả để ý gì. Xe qua ngầm sang sông, chúng tôi ở lại tắm một trận, mặc dù trời khá lạnh.

Tắm xong, Ton bảo chúng tôi nhanh chóng lên xe, anh sẽ đưa về nhà trọ sát chợ. Dãy nhà trọ là một ngôi nhà cấp bốn dài dặc, được ngăn ra thành từng ngăn nhỏ. Cũng có vài ba người khách từ xuôi lên, từ trên núi xuống. Họ ngồi quanh nồi gì khá to, sôi ình ịch, vừa để sưởi ấm, vừa để uống rượu nóng. Hóa ra đó là chủ quán phở. Một thứ phở hổ lốn mà sau nay tôi mới biết, người ta gọi là thắng cố. Thắng cố là món ăn đặc trưng truyền thống của người Mông. Thịt nấu thắng cố là thịt bò, thịt trâu, thịt ngựa hoặc thịt lợn. Các bộ phận như lòng, tim, gan, tiết, thịt bạc nhạc, xương được cho vào chảo nước đun nhừ, có thể cho thêm các loại rau. Khi ăn, chảo vẫn để trên bếp đun sôi, ăn đến đâu múc ra đến đó. Đây là món ăn thường được làm vào các ngày lễ hội, lễ ăn thề bảo vệ rừng, hội làng, việc họ hoặc chợ phiên. Chủ quán là một người đàn ông Mông nhỏ thó nhưng rất lanh lợi. Ông ta vừa là "chủ quán" vừa là người thu tiền trọ cho Hợp tác xã mua bán. Thấy chúng tôi đến bằng xe tải "chú Ton" thì có vẻ nể trọng lắm. Quang trả tiền xe nhưng Ton chối quầy quậy, kiên quyết không lấy.

Phòng trọ của chúng tôi rất tuềnh toàng. Chính cái nhà trọ nầy cũng là một bộ phận quan trọng của chợ mà chợ cũng toàn lều tranh, có một ngôi nhà cấp bốn dài và rộng, đối diện phía bên kia bãi, y hệt dãy nhà chúng tôi đang ở, cũng thấy có một đống lửa và lố nhố những bóng người. Trời xâm xẩm tối, cảnh đìu hiu đến nao lòng. Tôi bảo Quang, lên đây có lẽ sai sách rồi. Quang chỉ "hừm" một cái rồi chắp tay sau đít đi dạo. Theo lời mấy người ở đây thì bãi trống được gọi là chợ kia sáng mai sẽ đầy người, đầy ngựa.

Hai anh em tôi thỏa thuận với thằng bé tên Chiện, con ông Mã A Chiền, nhờ nó làm "giao liên". Chúng tôi ghé vào ăn thắng cố, uống đến bát rượu thứ ba tôi say bét. Còn Quang lại nổi máu nghề nghiệp, diễn trò cho mọi người xem. Cả đám bên dãy nhà bên kia cũng đổ sang “coi xiếc”.
Tôi bỏ về "nhà" nằm từ lúc nào. Đến khi tỉnh dậy, thấy trời tồi mờ mờ mịt mùng sương dăng dày đặc và mịt mùng ánh trăng lẫn trong sương. Tôi thấy có ba cái xác đang nằm cuộn khoanh trong mấy tấm chăn thổ cẩm dưới sàn nhà ngủ. Hóa ra Hàn Phi Quang và thằng bé Chiện cùng một đứa nữa. Tôi chất đống củi ngoài cửa đốt lên cho tan giá. Từ trong đêm sương mờ trăng trong thung lũng tôi nghe như có tiếng lao xao nói chuyện đâu đó cứ mỗi lúc một rõ dần. Tôi tò mò ra sau nhà đứng tè, giật mình nhìn lên mới thấy xa xa có một dây lửa đuốc ngoằn ngoèo.

Rồi rất nhiều dây lửa cùng lúc xuất hiện từ trên cao hạ xuống dần. Tiếng lao xao hiện rõ hơn và tiếng gõ móng rộn rã của loài ngựa. Tôi bấm đèn pin coi đồng hồ trên tay Quang. Đã năm rưỡi sáng. Tôi nghĩ số tôi may mắn được chứng kiến cảnh phiên chợ vùng cao từ đầu chí cuối. Các dây đuốc- dây người đổ xuông thung lũng ngày càng đông thì trời cũng dần sáng. Bãi giữ ngựa giống như bãi giữ xe đạp dưới xuôi đã đông nghịt. Những đôi trai gái ríu rít quây quanh mấy nồi thắng cố ăn uống. Ai mua bán gì thì mua bán, còn ai ăn uống thì cứ ăn uống. Tôi đi trong rừng người xem người ta tụ bạ nói chuyện rôm rả. Xem người ta hát xướng rộn ràng. Xem người ta múa khèn, hát đối, uống rượu. Có cảm giác ở đây ai cũng uống được rượu giỏi và ai cũng biết ca hát.

Tôi quay về phòng trọ thì không thấy Quang đâu. Tôi được thằng Chiện trao lại cho cái ba lô tiền, nó nói đại ca đã ra chợ bán dược rồi. Chợ mỗi lúc một đông. Tôi bảo thằng Chiện ngồi đấy để tôi ra xem. Tôi quá ngạc nhiên thấy chợ phiên đông có tới hàng ngàn người mà đâu ra đấy, chỗ mua bán , chỗ múa hát, chỗ ăn chơi thảy đều trật tự vui vẻ, không có cảnh chen lấn, chửi đánh nhau. Trên một khoảng trống cách chợ chừng mười lăm mét có một đám đông vây tròn. Ở giữa là Hàn Phi Quang. Tôi lách đám đông vào coi. Quang đang tung hứng cái thanh đuya-ra và cây đũa cả còn cậu bé "đệ tử" đeo một cái gùi mới toanh. Khi Quang ngưng diễn là đến màn bán thuốc. Trời ơi, người ta mua tới tấp, không hề so đo. Cái gùi của thằng bé kia đã được chừng một phần ba gùi tiền, còn số dược đem theo đã gần cạn. Tôi "bay" về phòng, nghĩ, ít nhất cũng giúp được cho Quang một tí đỉnh. Tôi bảo thằng Chiền ôm bọc thuốc còn lại trong bao tải ra chợ cho Quang. Tôi ra cửa đứng xem sự chuyển động của phiên chợ vùng cao. Đây là lần đầu tiên tôi được chiêm ngưỡng và nó khắc vào ký ức tôi đến tận bây giờ. Cái phiên chợ kì lạ ấy chẳng thấy người ta mua bán mấy, chỉ thấy mặt ai cũng tươi sáng, cũng hồ hởi. Ai cũng mặc đẹp. Các cô gái và các bà già đều mặc những bộ áo váy diêm dúa. Họ giống như những con công. Đi chợ cũng là đi trẩy hội…

(còn tiếp)

Thanh Niên Thể thao&Giải trí số 10, 11-3-2009




Khách giang hồ thứ thiệt (5)

Trung Trung Đỉnh


Kỳ 5 : Xuất hiện 2 ông đệ tử da đen


Tôi tưởng Quang đã quên chuyện "về nhà mẹ" rồi nên vẫy cái xích lô, bảo về Vân Hồ Ba. Quang "hừm" rồi bảo lên Ba Đình, về nhà "mẹ" ngủ.


Tôi không hiểu vì sao lúc ấy tôi lại không ngăn Quang, chỉ biết hai chúng tôi bị tóm vào đồn công an và tôi cũng không nhớ được chuyện gì mới xảy ra. Hình như ông xích lô không chịu đi vô đường Hùng Vương, trước lăng Bác, nhưng chúng tôi cứ ép ông ta phải vô, vì ban đêm chắc không cấm. Và hình như họ chỉ "bắt" chúng tôi vì tội ấy nên cũng không có chuyện gì phải lo. Tôi có thẻ nhà báo, giấy chứng minh thư sĩ quan Quân đội, lại quân của Tổng cục chính trị nên mấy anh công an chỉ hỏi: "Thế cậu này là thế nào với đồng chí", tôi nói đại: "Đây là cậu em con ông cậu ở trong Nam mới ra chơi". Tôi có ông cậu ruột ở trong Nam thật!


Nhưng trong số các anh công an kia lại có một người nhận ra Quang là Sơn Đông mãi võ. Anh ta béo tai Quang bảo biểu diễn một màn chơi. Nếu biểu diễn được thì tha cho về, còn không thì... Được lời như cởi tấm lòng, Quang liền "uớ" lên một tiếng rồi cầm cây thước gỗ trên bàn, quay tít trên đầu ngón tay, đoạn cúi chào, uốn người uặt về phía sau, chui đầu qua hai háng và bụng chân. Chỉ trong tíc tắc Quang bật dậy, nhìn thấy đĩa táo cậu liền lượm ba quả, làm màn tung hứng tuyệt mỹ. Các anh công an có mặt ở đồn đều xúm vào khen và cổ vũ. Hồi đó công an mình hồn nhiên thật. Chúng tôi được "tha" trong niềm hân hoan với những cái bắt tay rất nồng nhiệt.


Chỉ trong vòng mấy tiếng đồng hồ tôi được hai lần vinh-quang-theo, trong lòng lâng lâng tự hào bảo Quang về Nam Ngư ăn phở.


Quang đồng ý và đồng ý về Vân Hồ Ba với tôi, không đòi về "nhà mẹ" nữa.


Đêm ấy tôi ngủ như chết, cho tận tới trưa hôm sau. Khi tỉnh dậy thấy nhà cửa cả khu trại im phăng phắc. Sau mới biết, hôm ấy tất cả Trại đều được triệu về Văn nghệ Quân đội học chính trị, Phạm Hoa, Thái Bá Lợi Nguyễn Trí Huân thấy tôi say quá nên "tha" cho, không gọi, các anh báo cáo với Trại trưởng Hữu Thỉnh là tôi bị sốt rét tái phát.


Sáng dậy mấy anh em tôi kéo nhau đến trường, nghĩ rằng chiều về có khi Quang vẫn ngủ. Tôi luôn nghĩ, tay này có tài ngủ thông đêm thấu ngày. Nhưng tôi đã nghĩ sai. Chiều về không thấy hắn đâu, chúng tôi xuống nhà bếp lấy phần cơm tập thể về để khi nào đói thì ăn với món cá kho. Tối nay Phạm Hoa được ông anh cả cho xe về đón vô Thanh. Anh Thái Bá Lợi thì đã hẹn với Trần Vũ Mai lên nhà anh Đào Hùng đánh chén. Tất nhiên anh Hùng và anh Mai có hẹn cả cánh chúng tôi, nhưng tôi đã hẹn với bạn đi xem phim còn Nguyễn Trí Huân thì tối nào chả phắn lên nhà bạn gái. Hình như anh Trần Vũ Mai có mua được cái đầu bò hay đầu trâu gì đó, mãi trên công trình thủy điện Hòa Bình đem về. Nhà bác Đào Hùng có ba bố con ở riêng một căn. Cụ Đào Duy Anh và cụ bà một căn. Tôi có mấy bận được yết kiến cụ. Cụ để râu ba chòm nom như ông tiên, rất hiền. Cụ bà nhỏ bé, đi lại nhẹ nhàng, tôi ngồi thu tay trong lòng nghe cụ kể chuyện ngày xưa các cụ cùng lứa chơi với nhau thế nào. Anh Đào Hùng uyên bác là thế nhưng cũng rất "chịu chơi", thỉnh thoảng tôi được anh dẫn đi uống bia với anh Thái Bá Tân và Cụ Từ. Tôi là thằng đàn em may mắn được thường ngày đi ăn nhậu cà kê với bậc trí giả uyên thâm, nhiều khi cứ thấy như mình được đấng tối cao ưu đãi. Nghe chuyện của các bậc đại trí thức, mà các "bậc ấy" lại chỉ nói chuyện theo lối nói rất bình dân, sướng từng câu từng chữ. Chuyện nầy tôi cũng lại phải khất bạn đọc để dành dịp khác. Tôi dang kể chuyện "dị nhân" Hàn Phi Quang kia mà.


Tôi đang định rủ các bạn ra quán anh Gù làm vài chén nước chè trước khi ai đi việc nấy thì Quang lù lù xuất hiện, với một ba lô lộn ngược. Tôi hỏi cái gì. Quang bảo rắn. Thấy mấy anh ăn hôm nọ ngon, em mang về cho mấy anh nhậu chơi. Hôm trước Quang cũng đem một ba lô rắn về. Lần này chúng tôi ớn quá bảo thôi, hôm nay không rắn rết gì nữa. Quang bảo vậy cho em gởi đây, sáng mai lại lấy.


Thế là ba lô rắn treo trên cây cọc màn cuối giường tôi. Tôi thấy Quang tất tả mở bao tải tiền, lấy một mớ rồi bảo, hết rồi, phải đi kiếm nữa chớ, rồi tất tả đi. Quang nháy tôi ý nhị, rủ : "Về nhà em chơi đi?". Tôi biết "nhà" Quang rồi. Tôi cũng biết tâm trạng Nguyễn Trí Huân, Phạm Hoa và Thái Bá Lợi không mấy mặn mà với ông khách quý này. Nhưng tôi lại thấy hay hay. Tôi bảo thôi em cứ đi đi, anh đã có hẹn bạn đi xem phim rôi. Quang nài nỉ: "Hôm nay em có chương trình đặc biệt, anh đi với em". Đi thì đi.


Tôi liền bị Quang cuốn ra khỏi nhà.


Lần nầy cũng ra ga, nhưng không phải con ngõ cụt sâu hun hút, hôi hám và đầy bất trắc ấy, mà là một khu nhà sát bên một đơn vị công an, hình như đơn vị nầy khá to vì tôi thấy nhiều người ra vào, bên cạnh cái bệnh xá cũng của công an. Tôi tò mò hỏi Quang vào đây làm gi? Quang bảo chơi. Chơi với công an à ? Hừm.


Đã đến cái đoạn "hừm" là thôi, tôi không hỏi nữa.


Quang gõ cửa một căn nhà khoảng giữa dãy. Người đàn bà to béo, da nâu đen mở cửa có khuôn mặt rất ấn Độ, vừa nhìn thấy Quang đã khép lại, chỉ để một khe nhỏ, nói:


- Hai thằng nó đi chơi đâu rồi.


Đoạn, bà kéo cánh cửa sắt lại.


Quang bảo tôi đi ra. Chúng tôi băng qua đường, tới một con hẻm khác. Con hẻm nầy rộng hơn, có đèn đường đàng hoàng. Tới một quán nước, chui vô, hóa ra người Quang tìm đang ở đây. Đó là hai thanh niên da đen, cao chừng mét tám, nói tiếng Việt như người Việt. Quang đã giới thiệu tôi với họ từ trước thì phải. Họ tỏ ra thân thiện và kính trọng tôi ra mặt. "Đây là Khôi, còn đây là Thanh, đệ tử của em", Quang giới thiệu với vẻ mặt đầy tự tin và hãnh diện. Hai "đệ tử" đứng lên cúi gập người "chào đại sư huynh". Tôi ngượng chín người vì lúc ấy trong quán khá đông và tôi chưa bao giờ là tâm điểm cho đám đông, nhất là đám đông dân dã kiểu y. "Ngồi đi! Uống nước đi. Anh em mình với nhau, đại sư huynh với tiểu sư huynh quái gì ở đây!"


Các khách uống nước có vẻ ngại bọn tôi nên lần lượt biến.


Phía sau quán nước có một khoảng trống. Quang nói với hai "đệ tử" và cả với bà chủ quán nước:


- Thôi, vô tập.


Hai chàng trai da đen kịt đứng lên theo Quang ra sau. Tôi thấy bà chủ quán rất bình thản nên cũng thấy yên lòng, bèn hỏi:


- Hai cậu da đen này là thế nào hả chị.


- Con bà Tuyết bên kia kìa.


- Cái bà to béo da đen ấy hả chị.


- Thế chú chưa biết họ à?


- Dạ tôi mới chỉ biết bạn tôi là cậu Quang đấy thôi.


- Ra sau mà xem, chúng nó tập đập gạch hay lắm.


- Cám ơn chị, nhưng tôi ngồi đây cũng được.


- Thằng Quang bé tí mà chỉ cần nhếch mép một cái là hai thằng đen to cao kia quỳ mọp.


- Thì làm đệ tử phải thế chứ chị.


- Tôi ở với hai thằng này từ bé. Chúng nó hiền lành, ngoan ngoãn lắm.


- Hay nhỉ.


- Hay cái con khỉ. Chúng nó đếch có hộ khẩu, khổ như chó.


Chị ta văng tục tự nhiên, đến nỗi, tôi không thể không viết ra đây. Tôi thì tôi không hiểu gì về cái khoản hộ khẩu hộ khiếc. Đấy là một trong những yếu tố quan trọng nhất đối với những ai có nhu cầu sinh sống và làm việc ở thủ đô, nhưng tôi mù tịt, mặc dù cũng thỉnh thoảng có nghe người này người kia kêu muốn có hộ khẩu phải chạy chọt ghê lắm. Chúng tôi là lính, hộ khẩu trong thành. Hết. ở trại viết rục rịch cũng có anh đang chạy tách hộ khẩu ra ngoài. Cánh chúng tôi chẳng anh nào có ý định ấy nên cứ bình chân như vại...


Có người trong đời ta chỉ gặp một lần là nhớ, mặc dù người ấy chẳng có gì đặc biệt. Chị hàng nước đối với tôi là thế. Chị có khuôn mặt rất dễ ưa, vừa hiền lại vừa lanh lợi. Chị kể hai "thằng bé" từ nhỏ đã phải đi bán nước chè rong ở ga. Mẹ chúng là một người đàn bà Ân Độ, lấy bố chúng nó là một người Pháp da đen...Ông Pháp về Pháp từ hồi chúng nó đỏ hỏn. Mẹ chúng nuôi chúng bằng nghề chè chén ngoài ga và phe vé. Chúng không có hộ khẩu nhưng nhìn tướng chúng là rõ rồi, cần gì hộ khẩu!


- Học chăm đáo để, chị ta nói. Nhưng ngữ ấy học để làm gì.


- Sao chị lại nói thế?


Chị ta thở dài, nhìn ra khi có hai ông khách bước vào.


Tôi không thể nói chuyện riêng, đành để bụng, thế nào cũng có dịp vào đây uống nước nghe tiếp chuyện hai cậu "đệ tử" của Quang nên lững thững ra sau quán.


Một chồng gạch chừng 10 viên xếp trên một tấm ván ngang tầm tay chém. Tôi thấy Quang đang đứng trước hướng dẫn cho hai "đệ tử". Cậu Thanh là em, người mảnh và cao lêu đêu, cao hơn cậu Khôi. Khôi cũng cao nhưng có vẻ đậm hơn Thanh một tí. Thấy tôi đến hai em cúi chào. Tôi bảo Quang hay ba anh em cứ tập, tôi phải về có việc. Quang "hừm" một tiếng rồi lại tập trung vào việc "Lên khoa mục" giống như các cán bộ huấn luyện chúng tôi thời mới nhập ngũ trên Yên Tử…


(còn tiếp)

Thanh Niên Thể thao&Giải trí số 9, 10-3-2009