Thứ Năm, ngày 30 tháng 4 năm 2009

Cần công bằng với Thanh Tâm Tài Nhân


Hồi nhỏ tôi thường nghe mẹ tôi đọc Kiều, vì thương mẹ nên tôi gần như thuộc lòng luôn truyện Kiều, nhưng không mê. Lớn lên chút nữa, đọc Phạm Quỳnh “Truyện Kiều còn tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn” cũng không thấy mê món “quốc hồn quốc túy” này, dù tôi chưa bao giờ ghét cụ Phạm Quỳnh, cũng như không ghét cụ Ngô Đức Kế khi cụ kịch liệt bài bác Truyện Kiều.


Khi nghe ông Tố Hữu gọi “Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều” thấy hay hay, nhưng lúc ông bảo “Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân/Bâng khuâng nhớ cụ thương thân nàng Kiều” thì thấy ông không hẳn là thành thật.


Nói chung, khi người lớn đem Kiều ra làm chính trị, con nít không thấy hấp dẫn. Học Kiều ở trường phổ thông, bị buộc phải hiểu theo ý thầy cô, cũng không thấy thích.


Cho đến khi đọc Bùi Giáng, tôi mới thực sự thấy thích Kiều. Có lẽ vì tôi thích cái điên điên khùng khùng của Bùi Giáng nên thích luôn Kiều. Ngó tới ngó lui thì thấy người viết về Kiều vô tư hồn nhiên nhất là Bùi Giáng.


Khi thích Kiều rồi, tôi vẫn thấy lợn gợn một chuyện nhưng không sao tìm được lời giải đáp. Từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân mà Nguyễn Du phóng tác thành Truyện Kiều, ai cũng biết điều đó, nhưng giáo trình dạy cho học trò cũng như hầu hết các sách vở viết về Truyện Kiều đều nói rằng, Truyện Kiều của Nguyễn Du mới là kiệt tác văn chương bất hủ, còn Kim Vân Kiều truyện củaThanh Tâm Tài Nhân chỉ là một tác phẩm “tầm thường thô thiển”.


Tôi biết chắc những người nói điều này chưa bao giờ đọc Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, đơn giản là tác phẩm đó đã bị “thất truyền”. (Thực ra năm 1925 Nhà xuất bản Tân Dân có in thành sách một bản dịch Kim Vân Kiều truyện, sau đó có một vài bản dịch khác nữa, nhưng nói chung những sách này rất ít người biết, mãi đến năm 2005 nhiều người mới biết đến qua một bản dịch do Nhà xuất bản Văn học ấn hành. Nghe nói bản chép tay bằng chữ Hán đang được lưu giữ tại Viện Viễn Đông bác cổ Paris).


Khoảng 13-14 năm trước, một lần nói chuyện với nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân ở Đà Nẵng, ông bất ngờ đề cập đến Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Ông bảo, Kim Vân Kiều truyện hoàn toàn không phải là “tác phẩm tầm thường” như người ta nói. Lúc đó tôi đang giúp Báo Nông thôn ngày nay làm tờ Nguyệt san, tôi quá hào hứng chuyện này nên đề nghị cụ Nguyễn Văn Xuân viết luôn một bài phân tích. Bài đó đã được đăng ngay.


Trước đây khi ca ngợi Truyện Kiều của Nguyễn Du, một số nhà nghiên cứu thường dẫn lời hai ông vua Minh Mạng và Tự Đức. Đúng là Minh Mạng – một minh quân trong lịch sử, và Tự Đức – một trong hai ông vua “hay chữ” nhất (người kia là Lê Thánh Tôn), đã hết lời ca ngợi Truyện Kiều. Nhưng cụ Nguyễn Văn Xuân đưa ra nhiều chứng cứ cho thấy Minh Mạng và Tự Đức ca ngợi Kiều là ca ngợi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, chứ không phải ca ngợi Nguyễn Du. Có lẽ đây là bài nghiên cứu đầu tiên đặt ngược vấn đề lâu nay được số đông nhắm mắt thừa nhận. (Tôi hiện không có bài báo đó trong tay, nhưng chắc chắn tôi sẽ nhờ người tìm được).


Gần đây, một bài viết của cụ Vũ Quốc Thúc công bố tại Pháp năm 2006, có đề cập đến những tác phẩm của Minh Mạng và Tự Đức liên quan đến Truyện Kiều mà cụ thân sinh của cụ Thúc còn lưu giữ. Bài viết của cụ Vũ Quốc Thúc hoàn toàn không đề cập đến việc so sánh hơn kém giữa Thanh Tâm Tài Nhân và Nguyễn Du, nhưng chỉ riêng tên gọi của những tài liệu này cũng phát ra một thông báo quan trọng. Từ thời vua Minh Mạng đến đầu thế kỷ 20 đã có ba thế hệ thi gia Việt Nam viết về Kiều, tập hợp lại thành một bộ với cái tựa chung là “Thanh Tâm Tài Nhân thi tập”. Tập đầu tiên soạn khi Minh Mạng mới lên ngôi (1820) gồm những bài thơ xướng và họa bằng chữ Hán dựa theo từng hồi của Kim Vân Kiều truyện, do Phụ chính đại thần Hà Tôn Quyền chủ xướng, đến năm Minh Mạng thứ 11 (1830), đích thân nhà vua viết một bài Tổng thuyết cho thi tập, cũng bằng chữ Hán. Vào năm 1871, tập tiếp theo do Tự Đức chủ xướng, đích thân nhà vua làm các bài thơ xướng cho mỗi hồi và viết lời tựa (Tổng từ)chung cho thi tập. Tập thứ ba ra đời vào cuối thế kỷ 19, có Chu Mạnh Trinh và Nguyễn Khuyến tham gia. Những bản chép tay các tập thời Minh Mạng và Tự Đức mang tên "Thanh Tâm tài tử cổ kim minh lương đề tập biên" hiện lcũng được lưu giữ tại Thư viện quốc gia Hà Nội, ký hiệu VNV 240.


Nói tóm lại, dù Truyên Kiều của Nguyễn Du có ra đời trước, sau hay cùng lúc với “Thanh Tâm Tài Nhân thi tập” thì, như chính tên gọi của công trình này, nó chỉ có thể là sự hưởng ứng với chính tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân.


Trên tạp chí Văn học số 2, 1998, trong bài viết "Không có "Bản Kinh" Truyện Kiều do vua Tự Đức sửa chữa đưa in", tuy không phải là bài đánh giá so sánh tác phẩm, nhưng nhà nghiên cứu Đào Thái Tôn sau khi phân tích, đã khẳng định : "Chắc chắn là : trong khi cầm bút viết Tổng thuyết hay Tổng từ, Minh Mệnh và Tự Đức đều viết về Kim Vân Kiều truyện của Trung Quốc, chứ không phải viết về Truyện Kiều của Nguyễn Du".


Như vậy là trong suốt 4/5 thế kỷ 19 và mấy năm đầu của thế kỷ 20, ba thế hệ thi gia xuất sắc nước ta, trong đó có hai ông vua có học vấn uyên thâm là Minh Mạng và Tự Đức, dấy lên một cuộc xướng họa vô cùng tâm đắc với tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, thì liệu nó có phải là một tác phẩm “tầm thường thô thiển” ? Lại nữa, qua lời của Tự Đức và ngày nay nhiều người đã biết, Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân có lời bình của Kim Thánh Thán. Nhà phê bình tài giỏi và kiêu ngạo đệ nhất Trung Hoa này liệu có để tâm đến một thứ phẩm văn chương ?


Nhưng vì lý do gì mà từ lâu văn học sử Trung Hoa không hề nhắc đến Kim Vân Kiều truyện ? Nó đã bị thất truyền ? Nhưng vì sao nó bị thất truyền ? Tôi không biết được. Chỉ biết rằng cho đến năm 1981 người Trung Quốc mới phát hiện ra nó.


Nguyên do là Truyện Kiều của Việt Nam quá nổi tiếng được nhiều nước trên thế giới quan tâm. Trong giáo trình văn học nước ngoài dạy cho sinh viên Trung Quốc, Truyện Kiều của Nguyễn Du được coi là “viên ngọc sáng” của văn học phương Đông. Giới nghiên cứu Trung Quốc đánh giá Truyện Kiều của Nguyễn Du là “tác phẩm lớn vạch thời đại”, là “toàn vẹn không khuyết”. Và khi biết rằng cái truyện đó có nguồn gốc từ Trung Quốc, họ bắt đầu “nóng mặt” lao đi tìm kiếm. Năm 1981, một nhà nghiên cứu nước này tên là Đổng Văn Thành bất ngờ phát hiện một bản Kim Vân Kiều truyện tại Thư viện Đại Liên. Năm 1983, Nhà xuất bản Xuân Phong văn nghệ ấn hành tác phẩm này, từ đó nó mới được biết đến ở Trung Quốc. Giáo sư Đổng Văn Thành đã tiến hành một loạt các nghiên cứu chuyên sâu về Kim Vân Kiều truyện, trong đó có nghiên cứu “So sánh truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”. Bài so sánh này được nhà nghiên cứu Phạm Tú Châu dịch, sau 10 năm “lưu hành nội bộ”, đã in trong cuốn “200 năm nghiên cứu bàn luận truyện Kiều” (NXB Giáo dục, 2005).


Bài nghiên cứu của ông Đổng Văn Thành được thực hiện công phu, đề cao cả Thanh Tâm tài Nhân lẫn Nguyễn Du, tuy nhiên ông lại lấy quan điểm giai cấp pha thêm một chút tư tưởng Đại Hán để chê những chuyện không đáng chê của Nguyễn Du và đề cao những chuyện không đáng đề cao của Thanh Tâm Tài Nhân. Bởi vậy mà những phân tích của Đổng Văn Thành không có sức thuyết phục, khiến người đọc lại định kiến với Thanh Tâm Tài Nhân. Tôi đọc cũng thấy choáng. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi không im lặng được, đã tức khí viết một bài dài “Trở lại câu chuyện so sánh Kim Vân Kiều truyện với Truyện Kiều của ông Đổng Văn Thành” đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học tháng 12-2005, “đấu” trực diện với quan điểm lệch lạc của ông này, để bảo vệ Nguyễn Du.


Thành ra câu chuyện về giá trị thật của Kim Vân Kiều truyện cuối cùng vẫn … để đó, dù cả hai tác phẩm đã được in ra phổ biến rồi. Lẽ đời là vậy, phải bảo vệ “người nhà” trước đã, công bằng với “người ngoài” tính sau. Trăm sự đều do thói hồ đồ của cái ông Đổng Văn Thành này cả, ông ta lại một phen làm hại đến uy tín của Thanh Tâm Tài Nhân. Cũng cần ghi nhận là đã có một số tác giả đã cho giới thiệu song song hai tác phẩm của Nguyễn Du và Thanh Tâm Tài Nhân trong một công trình để người đọc tự đối chiếu, mở đầu cho việc đánh giá công bằng đối với Thanh Tâm Tài Nhân.


Tôi tay ngang trong văn chương, chỉ có thể nói leo tới đó.

Thứ Ba, ngày 28 tháng 4 năm 2009

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (5)

(tiếp theo)

"Công bằng xã hội" : sứ mệnh hay sự giả dối ?

Trong toàn bộ tư tưởng triết học và kinh tế của mình, Hayek không bao giờ đề xuất xây dựng các thiết chế quản lý xã hội, không đề xuất giải pháp “nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế” hay những chuyện đại loại như vậy. Giải pháp của ông đơn giản là : giảm thiểu, loại bỏ sự can thiệp của Nhà nước. Nhà nước càng tránh xa catallaxie (trật tự tự phát) bao nhiêu tốt bấy nhiêu, dù trong bất kỳ tình huống nào.

Nếu đem những tư tưởng của Hayek ra “phản biện”, lấy số đông đè số ít như cách thức thời thượng hiện nay thì ông thua là cái chắc.

Câu chuyện tiến sĩ Ludwig Erhard “lén lút” xóa bỏ những quy định kiểm soát giá cả làm hồi sinh nước Đức (đề cập ở phần trước) trở thành một “điểm nhấn” của lịch sử. Vừa mới nhận nhiệm vụ, Erhard đã nhìn thấy một chỗ sơ hở và lợi dụng nó ngay. Theo “quân pháp”, bất cứ sự thay đổi quy định nào cũng phải được sự phê duyệt của quân Đồng minh, đứng đầu là tướng Mỹ Lucius Clay, nhưng cũng không có sự “chế tài” nào nếu những quy định đó đã bị xóa bỏ trong thực tế. Sau đây là một đoạn đối thoại nổi tiếng giữa tướng Clay và Erhard. Tướng Clay bực dọc : “Ông Erhard, các cố vấn của tôi đã nói với tôi rằng điều mà ông đang làm là một sai lầm tệ hại”. Erhard : “Thưa tướng quân, mặc kệ nó. Các cố vấn của tôi cũng nói như vậy”. Câu chuyện này do Erhard kể lại với Hayek. Hayek đánh giá rất cao Erhard, ông cho rằng thành tựu đó “gần như của chỉ một người”, là Erhard. Ông bình luận : “Hẳn không bao giờ có thể đạt được những gì mà ông (Erhard) đã làm nếu phải chịu những ràng buộc quan liêu hay dân chủ. Một khoảnh khắc may mắn khi một con người thích hợp ở vào một địa vị thích hợp được tự do làm những gì mà anh ta coi là đúng, cho dù anh ta có thể chưa bao giờ từng thuyết phục được bất kỳ ai khác rằng điều đó là đúng”.

Cũng bắt đầu từ việc tháo bỏ rào cản thị trường trong nông nghiệp, mới chỉ cho phép người nông dân được mua bán một phần sản phẩm do họ làm ra thôi, đã là một cú hích vĩ đại để Đặng Tiểu Bình làm thay đổi nước Trung Hoa…

Cũng từ việc “khoán chui” của ông Kim Ngọc và hiệu quả của việc lén lút xóa bỏ ngăn sông cấm chợ, dù thị trường chỉ được khai thông một chút xíu thôi, cũng đủ làm Việt Nam thức tỉnh để bước vào Đổi Mới. Cần biết rằng, vào thế kỷ 16, nhà Mạc ở nước ta đã xóa bỏ ngăn sông cấm chợ, nhưng đầu những năm 80 của thế kỷ 20 tình trạng ngăn sông cấm chợ lại nặng nề đến mức chính ông Võ Văn Kiệt khi “bật đèn xanh” cho bà Ba Thi “xé rào” mua gạo từ đồng bằng sông Cửu Long về cho dân thành phố đang thiếu lương thực đã thốt lên một câu nổi tiếng “Nếu chị ở tù, tôi sẽ đem cơm”.

Lịch sử cho thấy : sự thịnh vượng gắn liền với sự giải thể của chủ nghĩa can thiệp, mức độ thịnh vượng tỉ lệ thuận với khoảng cách tránh xa của Nhà nước đối với thị trường. Chưa bao giờ xảy ra điều ngược lại.

Nhưng Hayek không phải là người tự do vô chính phủ. Theo ông, nhiệm vụ của Nhà nước chung quy lại có mấy việc : Tạo khuôn khổ pháp lý để đảm bảo cho catallaxie vận hành theo trật tự của chính nó (đương nhiên bản thân Nhà nước cũng phải hoạt động trong khuôn khổ pháp lý đó). Nhà nước có quyền cưỡng bức để không ai xâm phạm tự do của người khác. Đó là độc quyền hợp lý duy nhất của Nhà nước và quyền này càng ít sử dụng càng tốt, vì chỉ riêng việc Nhà nước có quyền này cũng đủ để răn đe những kẻ muốn ức hiếp người khác rồi. Dĩ nhiên, Nhà nước còn có nhiệm vụ phòng chống kẻ thù bên ngoài và bảo vệ môi trường sống. Để đảm trách những việc người dân không thể làm được đó, Nhà nước phải thu thuế, thu thuế trong chừng mực đủ để đảm trách những công việc hợp lý này.

Nhà nước cũng có nhiệm vụ cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ công cộng, mà do sự đặc thù của chúng trong những hoàn cảnh nhất định, các lực lượng thị trường không làm được. Tuy nhiên, ngay cả việc cung cấp những dịch vụ đó cũng phải được tiến hành theo một phương thức cạnh tranh : nghĩa là đến khi nào các lực lượng thị trường có thể làm được dịch vụ nào thì Nhà nước phải “rút lui” đối với những dịch vụ đó và trong lúc Nhà nước và thị trường vẫn còn “cùng làm” một dịch vụ thì dứt khoát các dịch vụ đó phải mang tính cạnh tranh.

Nhiều người đã phê phán rằng Hayek muốn bỏ mặc cho “cá lớn nuốt cá bé” khi ông thẳng tay vạch trần sự giả dối của những tuyên bố “công bằng xã hội” – những tuyên bố dẫn đến việc thiết lập các chính sách “an sinh xã hội” và điều tiết thu nhập của Nhà nước “vú em”.

Người giàu, trong phạm vi catallaxie - tức là không phải giàu do dùng các lợi thế chính trị hoặc quyền lực để tước đoạt, chèn ép người khác - thường là những người sáng tạo, những người có ý tưởng và biết khai thác tốt nhất các nguồn lực để làm ra nhiều của cải. Chính họ tạo ra thịnh vượng và thúc đẩy nền văn minh. Tước một phần thu nhập của họ để chia cho người khác vốn đã không công bằng, huống hồ chính sách điều tiết thu nhập thực chất là tước đoạt của người giàu nhưng phần lớn của cải “tước đoạt” được lại không nhằm để giúp đỡ những người bất hạnh nhất. Hayek phản đối điều đó và đề nghị Nhà nước có trách nhiệm đối với những người khốn khó bằng cách thiết lập một mức thu nhập tối thiểu để đảm bảo cuộc sống cho những người tàn tật, những người bất hạnh không có sức lao động và không nơi nương tựa. Đó mới là sự phòng vệ hoàn toàn chính đáng.

Hệ thống phúc lợi đồ sộ và khó hiểu của các nhà nước hiện đại từ lâu đã vượt quá và đi chệch khỏi chức năng bảo vệ người yếu thế. Nó chủ yếu nhằm đáp ứng yêu sách của tầng lớp trung lưu vốn đố kỵ với những người thành đạt nhưng lại mong muốn một cuộc sống khá giả hơn những gì mà tầng lớp này tạo ra. Hơn ai hết, chính tầng lớp này là tác giả của các yêu sách “công bằng xã hội”. Điều nguy hiểm là, cũng chính họ là tầng lớp điều khiển nền dân chủ. Bởi vậy mà theo Hayek, dân chủ chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để bảo đảm cho một xã hội tự do, vì dân chủ cũng có thể xâm phạm đến tự do.

Chỉ riêng việc nhân danh “công bằng xã hội” thôi, bộ máy của một Nhà nước đã có lý do phình to ra rồi. Tiền thuế đáng lý ra chỉ dùng để đảm trách những công việc hợp lý “dân không làm được” như đã nói, Nhà nước lại tự gán cho mình vô số những sứ mệnh “công bằng xã hội”, kéo theo là một bộ máy thực thi những sứ mệnh đó. Lại phải cần thêm tiền để nuôi bộ máy luôn có khuynh hướng phình to ra này. Ngân sách gia tăng, chi tiêu vô tội vạ...

(còn tiếp)

Thứ Ba, ngày 21 tháng 4 năm 2009

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (4)

(tiếp theo)


Thế kỷ 20 là thế kỷ bùng nhùng giữa rối ren chết chóc và sự thịnh vượng. Nhân loại vẫn chưa biết chắc những gì là phù du cần gác lại phía sau và những gì cần làm hành trang đi tới.


Nếu không bị những thiên kiến làm mờ mắt, người ta vẫn cảm nhận được “bàn tay vô hình” của Adam Smith luồn lách trong mớ bòng bong rối rắm của lịch sử. Dưới góc độ nào cũng có thể thấy, chỉ có laissez-faire mới làm nên thịnh vượng.


Sau Đại chiến 2, học thuyết Keynes chính thức được áp dụng tại Hoa Kỳ và Anh Quốc. Tại Anh, Công Đảng cầm quyền đưa Clement Attlee lên làm Thủ tướng, thực hiện “kế hoạch hóa” nền kinh tế, quốc hữu hóa hầu hết những ngành kinh tế then chốt. Những “Tổng Công ty Nhà nước” lớn ra đời, nói theo ngôn ngữ của chúng ta ngày nay thì nó cũng “đóng vai trò chủ đạo” trong nền kinh tế. Những tập đoàn quốc doanh này không những chỉ có Than, Điện lực, Luyện kim, Dầu khí, Viễn thông… mà còn có cả các ngành phục vụ công cộng, chẳng hạn như hãng BBC (vẫn là hãng quốc doanh cho đến bây giờ). Thất nghiệp chấm dứt (cuối những năm 1940 chỉ còn 1,3% so với 12% những năm 1930), y tế, giáo dục, hưu trí… được Nhà nước bảo đảm. Trong những năm khó khăn, lương thực và hàng tiêu dùng thiết yếu thực hiện theo chế độ phân phối, ngay cả hoàng gia Anh cũng có “sổ gạo” cho đến đầu những năm 1950. “Nhà nước phúc lợi” đầu tiên ra đời ở Anh sau đó được áp dụng phổ biến ở châu Âu.


Sau chiến tranh, trong các nước đồng minh, Mỹ là nước ít bị thiệt hại nhất, nền kinh tế lại được chiến tranh tiếp sức, nên trở thành cường quốc hùng mạnh, trong khi châu Âu bị chìm trong đống tro tàn đổ nát. Như đã đề cập, New Deal của tổng thống F.D. Roosevelt dù để lại hậu quả nặng nề sau này, nhưng một mặt nền kinh tế Mỹ được lợi lớn từ công nghiệp phục vụ chiến tranh, mặt khác – và đây là điều quan trọng hơn, là những tư tưởng về tự do kinh doanh được các nhà lập quốc đưa thành nền tảng trong Hiến pháp, nên dù bị New Deal kìm hãm, tinh thần laissez-faire vẫn không bị phế bỏ và đây là yếu tố chủ yếu khiến cho nền kinh tế Mỹ có khả năng tự điều chỉnh. Không phải ngẫu nhiên mà Tối cao pháp viện Mỹ đã bác bỏ hàng loạt các định chế của F.D. Roosevelt và không phải ngẫu nhiên mà F.D. Roosevelt đã tìm cách mở rộng cơ quan tư pháp này nhằm đưa “người của mình” vào đó, nhưng nỗ lực của ông bị thất bại. Chính tinh thần laissez-faire bất khả xâm phạm trong Hiến pháp Mỹ đã giúp nước Mỹ không bị “liệt kháng”.


Một kế hoạch tái thiết đồ sộ nhất trong lịch sử được triển khai tại châu Âu – kế hoạch Marshall, với tổng giá trị lên tới 17 tỷ USD (một số tiền rất lớn lúc bấy giờ), do Mỹ tài trợ. Các sử gia đã và đang tranh cãi về hiệu quả, tác động cũng như “mặt phải mặt trái” của kế hoạch Marshall. Dưới góc độ kinh tế, nhờ khoản tiền viện trợ khổng lồ này mà châu Âu có điều kiện nhanh chóng phục hồi nền kinh tế. Nhưng sự thật thì, như Alan Greenspan viết : “Kế hoạch Marshall đã giúp châu Âu, nhưng chỉ đóng góp một phần nhỏ vào sự phục hồi kinh tế mạnh mẽ thời hậu chiến. Tôi coi chính sách tự do hóa thị trường hàng hóa và tài chính Tây Đức do Ludwig Erhard đưa ra năm 1948 là đóng vai trò quan trọng hơn rất nhiều trong việc thúc đẩy khôi phục kinh tế thời hậu chiến của Tây Đức. Tất nhiên là Tây Đức đã trở thành một cường quốc kinh tế nổi bật ở khu vực”.


Ludwig Erhard (Thủ tướng Cộng hòa liên bang Đức từ 1963-1966) cũng là một nhân vật kỳ lạ. Xuất thân là một nhân viên bán vải trong cửa hàng của gia đình, có bằng tiến sĩ kinh tế, rồi làm chuyên viên nghiên cứu tiếp thị. Do bị thương trong Đại chiến 1 nên không tham gia quân đội quốc xã, trong đại chiến 2 ông vẫn làm nghiên cứu thị trường, bị mất việc năm 1942, nhưng ông vẫn tự mình tiếp tục công việc mà ông yêu thích. Sau chiến tranh có thời gian ngắn ông làm Bộ trưởng Kinh tế, sau đó làm chuyên gia kinh tế trong khu vực Mỹ và Anh chiếm đóng. Một cách ngẫu nhiên, khi giám đốc Ủy ban Kinh tế Bizonia (khu vực do Mỹ và Anh chiếm đóng) bị tướng Lucius Clay, tư lệnh quân đội Mỹ chiếm đóng Tây Đức lúc đó, cách chức do ông này "hỗn láo" với người Mỹ, Erhard đã được Clay chọn thay thế. Là người bẩm sinh am hiểu thị trường, Erhard đã khôn khéo qua mặt tướng Clay, trong một đêm đã xóa bỏ hầu hết các quy định về phân phối và kiểm soát giá cả đang kiềm chế nặng nề nền kinh tế vừa thoát khỏi chiến tranh. Sự khôn khéo đó làm cho kinh tế Đức trở nên sinh động bất ngờ, chợ đen biến mất, hàng hóa lưu thông bình thường. Khi CHLB Đức được thành lập năm 1949, Erhard làm Bộ trường kinh tế và sau này làm Thủ tướng. Chính đường hướng thị trường tự do của Erhard, tất nhiên còn bị giới hạn bởi sự áp đặt của lực lượng chiếm đóng, đã đưa nền kinh tế Tây Đức trỗi dậy thần kỳ.


Nhưng các nước khác thì không như vậy. Tiền Mỹ đổ vào châu Âu, kéo theo đó là mô hình kinh tế-xã hội Mỹ-Anh được áp dụng. Học thuyết Keynes trở thành học thuyết kinh tế chính thống của “bên này”, vừa phỏng theo vừa làm đối trọng với “bên kia” là hệ thống kinh tế kế hoạch của Liên Xô. Nhà nước đứng ra điều hành nền kinh tế, lo từng “miếng ăn giấc ngủ” cho dân. Laissez-faire bị phế bỏ.


Nhà nước phúc lợi được ca ngợi, nhưng muốn làm được chức năng mà nó được ca ngợi, tức là để “toàn dụng lao động”, để trợ cấp thất nghiệp, để chăm sóc y tế và các dịch vụ miễn phí cho toàn dân, để bù lỗ cho các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thu lỗ, đồng thời để nuôi một bộ máy khổng lồ đảm trách các chức năng đó, Nhà nước phải có nhiều tiền. Muốn có nhiều tiền, Nhà nước phải đánh thuế cao người giàu (thuế thu nhập lũy tiến), bán tài nguyên và vay mượn. Khi nào “bí” quá thì in thêm tiền. Theo Hayek, chính Keynes đã thể chế hóa lạm phát.


Là kẻ “độc hành trên sa mạc”, Friedrich Hayek tiến hành cuộc thánh chiến chống lại chủ nghĩa can thiệp tất cả mọi loại, từ kinh tế kế hoạch tập trung đến Nhà nước phúc lợi Âu-Mỹ.


Hayek nói những điều mà không chỉ các nhà cầm quyền, các quan chức kinh tế không nghe mà cả giới trí thức và số đông dân chúng cũng không chấp nhận được. Ông cho rằng nền kinh tế là không thể kế hoạch hóa, Nhà nước can thiệp vào kinh tế nhiều bao nhiêu hại bấy nhiêu. Ông đề nghị cởi bỏ các luật lệ ràng buộc, tư nhân hóa nền kinh tế, hủy bỏ việc kiểm soát giá cả, giảm thiểu các chương trình an sinh xã hội, giảm các chương trình trợ cấp thất nghiệp, bãi bỏ các chương trình trợ cấp nhà ở và kiểm soát giá thuê nhà, thu hẹp quyền lực của công đoàn…


Trong khi phần lớn những quan điểm triết học về tự do của Hayek bị bỏ ngoài tai thì những tuyên bố xã hội và kinh tế của ông lại gây shock, nhất là khi ông thách thức nhân loại bằng việc bác bỏ “công bằng xã hội” và thách thức các Nhà nước bằng việc đề nghị tư nhân hóa cả tiền tệ…

(còn tiếp)

______________


Khi tìm hiểu về ông Hayek này tôi có đọc Alan Greenspan. Tôi biết Greenspan, “lão phù thủy” tiền tệ theo trường phái tự do kinh doanh của Mỹ, chịu ảnh hưởng bởi Milton Friedman, song không thấy ông nói nhiều đến Hayek. Nhưng tôi phát hiện ra một điều rất thú vị : một trong hai người ảnh hưởng đến Greenspan nhiều nhất là Ayn Rand, một triết gia kiêm văn sĩ, Greenspan coi Rand là người thầy thực sự của mình mặc dù bà Rand không phải là nhà kinh tế. Lần đầu tiên Việt Nam dịch cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Rand, cuốn The Fountainhead (Suối Nguồn). Đọc cuốn sách tôi thấy quá hứng thú, nên đã viết bài giới thiệu trên Báo Thanh Niên cuối năm 2007 : “Số lượng người” không thể thay cho chân lý.


Bà Rand với ông Hayek không biết có quen biết nhau không, nhưng tư tưởng của họ rất giống nhau.

Thứ Tư, ngày 15 tháng 4 năm 2009

Nhà nước vú em


Bổ sung một số hình ảnh khá thú vị cho bài "Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (3)". New Deal của F.D Roosevelt là nền tảng của một "Nhà nước mạnh", từ đây phát triển thành Nhà nước phúc lợi, để sau này người Mỹ còn gọi nó là Nanny State (Nhà nước vú em).

Sự phát triển của "Nhà nước vú em" ở Mỹ trong thế kỷ 20 làm mất dần tự do. Trong hình : thời kỳ Laissez-faire (thị trường tự do) tượng nữ thần tự do còn nguyên vẹn. 18th Amendement (tu chính án thứ 18, thông qua năm 1921 và bãi bỏ năm 1933, tức luật cấm rượu : sản xuất, mua bán, chuyên chở, xuất nhập khẩu rượu đều bị cấm) khiến nữ thần tự do mất cánh tay. New Deal làm bức tượng mất luôn cái đầu. Chính sách Great Society thời tổng thống Johnson làm bức tượng mất luôn hai vai. Nanny State thay tượng nữ thần tự do bằng một bà vú. Quá hay ! Nguồn : karendecoster.com

Sự thật về New Deal : Trước chiến tranh, F.D Roosevelt
chưa bao giờ đưa thất nghiệp xuống dưới 20%. Nguồn : heritage.org.

Một bức tranh sinh động mô tả F.D Roosevelt gia tăng thuế
để giải quyết việc làm. Nguồn : flichr.com

Một hý họa về Nhà nước vú em. Nguồn: cartoonstock.com


Các phương thuốc chống thất nghiệp
và chống khủng hoảng kinh tế của F.D. Roosevelt. Nguồn : wordpress.com

(xem tiếp Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (4) hôm sau)

Thứ Hai, ngày 13 tháng 4 năm 2009

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (3)


Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (1)
Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (2)

(tiếp theo)

Từ những phân tích của mình, Hayek cho những biến động chu kỳ trong kinh tế là không thể tránh, cho nên không thể tránh khủng hoảng. Khi khủng hoảng nổ ra, theo Hayek, giải pháp đối phó với khủng hoảng là “không làm gì hết”, tức là không cần can thiệp. Khủng hoảng sẽ cho phép loại trừ các yếu tố mất cân bằng sinh ra trong giai đoạn hưng phấn của nền kinh tế trước đó và chính nó là cơ chế phân bố lại các nguồn lực.

Như đã nói, dù bắt đầu từ bất cứ lý do gì thì, theo Hayek, nguyên nhân khủng hoảng truy cho cùng đều do “mụ phù thủy” tiền tệ.

Bởi vậy mà Hayek trước sau vẫn ủng hộ hệ thống bản vị vàng (hoặc hệ thống tiền tệ tương tự, sẽ nói sau). Hệ thống bản vị vàng chính là cái phanh kìm hãm có hiệu quả việc tùy tiện phát hành tiền tệ. Tuy nhiên, trong và sau Đại chiến I, hàng loạt các nước đã từ bỏ bản vị vàng để dễ dàng phát hành tiền tài trợ cho chiến tranh và bồi thường chiến tranh. Bỏ hệ thống bản vị vàng đồng nghĩa với việc trao quá nhiều quyền cho các nhà chính trị và các ngân hàng trung ương thao túng chính sách tiền tệ. Điều này, theo Hayek, là nguyên nhân sâu xa dẫn đến Đại khủng hoảng.

Đối với Hayek, đối phó với khủng hoảng trước hết là chống chủ nghĩa can thiệp, là rút Nhà nước ra khỏi sự vận hành của thị trường. Muốn vậy, phải đặt vấn đề ở một tầm nhìn dài hạn. Hayek cho rằng sự can thiệp có thể giải quyết vấn đề trong ngắn hạn nhưng sẽ làm cho những vấn đề đó trầm trọng thêm trong tương lai, kể cả vấn đề thất nghiệp.

Ngặt nỗi các chính trị gia lại không nghĩ đến tương lai. Phần lớn trong số họ đều “tư duy theo nhiệm kỳ”. Và chính Keynes cũng từng tuyên bố “trong dài hạn tất cả chúng ta đều chết”.

Keynes cùng những người đồng quan điểm, sau này được gọi chung là keynesian, không thừa nhận “bàn tay vô hình” của Adam Smith. Họ cho rằng thị trường vốn hàm chứa sự bất ổn mà bản thân nó không thể tự điều chỉnh được. Sự bất ổn đó dẫn đến suy sụp đầu tư và giảm tiêu dùng, theo Keynes, đó là nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng. Giải pháp có thể nói ngắn gọn là “kích cầu” (từ ngữ thời thượng bây giờ trên báo chí, có nguồn gốc từ học thuyết của Keynes). Theo Keynes, Nhà nước phải bơm tiền vào nền kinh tế bằng cách tăng đầu tư công (bổ sung cho sự thiếu hụt của đầu tư tư nhân) và mở rộng tín dụng để “toàn dụng lao động”, giải quyết thất nghiệp, nâng sức mua cho dân chúng. Đại để là Keynes xúi nhà nước dùng những khoản tiền lớn mà bản thân nhà nước không có để đem lại ấm no thịnh vượng. Keynes cảnh báo, thị trường tự do với hai khuyết điểm cố hữu : thất nghiệp quá cao và bất bình đẳng lớn trong thu nhập có nguy cơ làm sụp đổ chủ nghĩa tư bản, “lót đường cho cách mạng”.

Dân chúng thì cần việc làm, cần có một cuộc sống được đảm bảo chắc chắn, nhưng trong thời kỳ khủng hoảng thất nghiệp và nghèo đói tràn lan, cuộc sống bất bênh vô định, do đó họ cần đến bàn tay cứu rỗi của Nhà nước. Các chính trị gia đương nhiên phải đáp ứng ngay những nhu cầu đó, nếu không muốn mất quyền hành. Ví dụ điển hình là Thủ tướng Anh Winston Churchill, đã mất chức Thủ tướng ngay trước khi Đại chiến 2 kết thúc, vì Đảng của ông đã không chìa bàn tay cứu rỗi ra cho dân chúng như Công Đảng, mặc dù Churchill là anh hùng cứu nước Anh khỏi họa phát xít, là vĩ nhân của nước Anh và thế giới. Cần biết thêm, năm 1925, Churchill lúc đó là Bộ trưởng Tài chính, đã đưa nước Anh trở lại hệ thống bản vị vàng, sự kiện này đã bị Keynes chỉ trích gay gắt.

Các giải pháp của Keynes đưa ra đúng lúc, đáp ứng được sự mong muốn của các chính trị gia. Học thuyết keynesian được phát triển thành kinh tế học vĩ mô hiện đại với hệ thống các công cụ mô hình hóa, trở thành học thuyết chính thống của hệ thống kinh tế tư bản. Keynes coi nền kinh tế là môt tổng thể có thể đo lường, có thể “kế hoạch hóa” và quản lý được. Những từ ngữ được dùng phổ biến ngày nay như “tái thiết đất nước”, “tăng trưởng kinh tế”, “thu nhập bình quân đầu người”, “tỉ lệ lạm phát”, “tỉ lệ thất nghiệp”, “hệ thống tài khoản quốc gia”, “ổn định kinh tế vĩ mô”… là sáng tạo của Keynes và những người keynesian. Những khái niệm “trợ cấp hưu trí”, “trợ cấp thất nghiệp”, “bảo hiểm y tế”, “an sinh xã hội”, “phúc lợi công cộng”… gắn liền với các loại Nhà nước mạnh hoặc Nhà nước phúc lợi theo mô hình keynesian. Và như đã biết, nó đã thành công đến hơn 30 năm. Đến đoạn cuối của chủ nghĩa can thiệp tại Mỹ, tổng thống Nixon vẫn tuyên bố : “Giờ đây tất cả chúng ta đều là keynesian”.

Vì sao học thuyết của Keynes lại có thể thống trị thế giới tư bản suốt 30 năm (và giờ đây nhiều người đang muốn quay trở lại) ? Đã và đang có rất nhiều tranh cãi về vấn đề này, nhưng nếu nhìn dưới góc độ lịch sử thì có thể thấy : Nó được Đại chiến 2 và “chiến tranh lạnh” tiếp sức.

Hãy nhìn nước Mỹ với “New Deal” (chính sách kinh tế xã hội mới) của tổng thống Franklin D. Roosevelt. Lúc ông mới lên làm tổng thống (1933), nước Mỹ có tới 13 triệu người thất nghiệp (chiếm ¼ lực lượng lao động toàn liên bang). Một chương trình “toàn dụng lao động” để giải quyết thất nghiệp được triển khai khắp nước Mỹ với việc mở ra các dự án khổng lồ tái thiết và phục vụ công cộng. Cơ quan quản lý các công trình công cộng (PWA) và một loạt các cơ quan khác đã ra đời để điều hành các dự án đó.

Về nông nghiệp, năm 1933, Quốc Hội thông qua đạo Luật Điều chỉnh nông nghiệp (AAA) cho phép tăng thu thuế từ các doanh nghiệp chế biến thực phẩm, dùng tiền đó trợ cấp cho nông dân để họ cắt giảm sản lượng nhằm tăng giá nông sản. Luật AAA bị Tối cao pháp viện bãi bỏ năm 1936 vì vi hiến, nhưng đến năm 1938 lại phục hồi do đa số thành viên Tối cao pháp viện ủng hộ New Deal. Cho đến năm 1940, đã có 6 triệu nông dân nhận được trợ cấp của Chính phủ. Một số tiền khổng lồ Nhà nước đã bỏ ra để làm việc đó.

Cũng trong năm 1933, Quốc Hội thông qua đạo luật Phục hồi Công nghiệp quốc gia (NIRA), kéo theo đó là sự ra đời của Cơ quan Phục hồi Quốc gia (NRA) với sự can thiệp “chưa từng có tiền lệ” vào hoạt động kinh tế của doanh nghiệp với tham vọng điều chỉnh sản lượng, thiết lập giá cả, nâng thu nhập và bảo đảm việc làm, quyền của người lao động và vai trò của công đoàn được đề cao. Năm 1935, cơ quan này cũng bị giải thể vì vi hiến. Quốc hội lại tiếp tục thông qua Luật quan hệ Lao động quốc gia và lập ra Ủy Ban Quan hệ lao động quốc gia (NLRB) nhằm mục đích bảo đảm việc làm. Những chính sách này tuy không đem lại kết quả, nhưng Đảng Dân chủ của F.D Roosevelt vẫn có lợi vì nhận được sự ủng hộ về chính trị của tầng lớp lao động.

New Deal giai đoạn đầu không làm chấm dứt suy thoái kinh tế. Một cuộc suy thoái lớn lại diễn ra vào năm 1937-1938.

Lúc này Keynes đã phát hành cuốn sách “Lý thuyết tổng quát” (1936), cuốn sách nền tảng cho học thuyết của mình. Người Mỹ nhanh chóng tiếp thu tư tưởng của Keynes, bắt đầu từ Trường Đại học Harvard, sau đó được quảng bá rộng rãi. Chỉ trong một thời gian hết sức ngắn, chính quyền F.D.Roosevelt chấp nhận học thuyết này và chính sách tài khóa của Keynes bắt đầu đem ra áp dụng ngay từ năm 1938. Như vậy, New Deal thời gian đầu mang màu sắc dân túy, đã biến thành một hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô có lý luận bài bản.

F.D. Roosevelt tiếp tục áp dụng các “biện pháp mạnh”, thường gọi là New Deal lần thứ hai.

Cơ quan Xúc tiến việc làm (WPA) được thành lập để hỗ trợ Chính phủ. Đạo Luật Bảo hiểm xã hội do Quốc hội ban hành năm 1935 được F.D. Roosevelt coi là “nền tảng của New Deal”, cho phép Chính phủ tạo ra một quỹ phúc lợi để trợ cấp cho người thất nghiêp, người nghèo, người tàn tật và bảo hiểm hưu trí. Tiếp đó là một loạt các đạo luật khác : Luật Thuế thu nhập nhằm tăng thuế đối với người giàu, Luật về các Công ty công ích ra đời nhằm thống nhất các công ty Điện lực thành tập các tập đoàn lớn do Nhà nước chỉ huy, Luật Ngân hàng mở rộng quyền của Cục Dự trữ Liên bang can thiệp các ngân hàng tư nhân… Một tổ hợp Nhà nước khổng lồ đầy tham vọng và chưa có tiền lệ được lập ra để thực hiện chương trình “Điện khí hóa nông thôn”. Một loạt các Ủy ban Nhà nước ra đời để quản lý các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế : Ngoài Ủy ban chứng khoán và ngoại hối, Ủy ban Quan hệ lao động quốc gia, còn có : Ủy ban Hàng không dân dụng, Ủy ban Năng lượng, Ủy ban Truyền thông…

Hằng hà sa số những quy định kinh tế ban hành từ thời đó biến thành các thủ tục vô cùng rườm rà phức tạp ăn sâu vào hệ thống quản lý, thành những “cơ chế” cứng nhắc trong nền kinh tế Mỹ, để lại những di chứng lâu dài. Một ví dụ là ngành Hàng không. Cưu Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Alan Greenspan dẫn lại lời của nhà kinh tế Afred Kahn, người lãnh đạo ngành hàng không thời kỳ Carter phát biểu trước Quốc hội năm 1978, tức 40 năm sau khi Ủy ban Hàng không dân dụng (CAB) được thành lập, về “hàng ngàn những quy định tầm thường” của nó như sau : “Liệu một hãng hàng không có thể sử dụng máy bay năm mươi chỗ ngồi ? Liệu một hãng vận tải phụ có được chở ngựa từ Florida đến một nơi nào đó ở Đông Bắc ? Liệu chúng ta có được để một máy bay theo lịch đón các khách thê bao chuyến và dành cho họ chỗ ngồi mà nếu không cũng bị bỏ trống, theo mức giá thuê bao ?... Liệu một hãng vận tải đưa ra giá vé đặc biệt cho những người trươt tuyết có thể trả lại tiền vé cho họ nếu trời không có tuyết ? Liệu những nhân viên của hai hãng hàng không không liên kết về mặt tài chính có thể mặc đồng phục giống nhau ? … Đây có phải là những băn khoăn tôi tự hỏi mình hàng ngày : Hành động này có cần thiết hay không ? Liệu mẹ tôi nuôi dạy tôi có phải để làm những việc đó ?”. Nhưng bãi bỏ những quy định tồn tại 40 năm này không phải dễ. Theo đề nghị của thượng nghị sĩ Edward Kenedy, một cuộc điều tra về các quy định trong ngành hàng không (và các ngành khác) nhằm cải cách nó, tiếp đó là “một cuộc chiến” diễn ra để xóa những quy định này được tiến hành từ thời tổng thống Ford, nhưng phải kéo dài đến tháng 10-1978, dưới thời Carter, việc xóa bỏ các quy định này mới được luật hóa, và mãi đến năm 1985 CAB mới rút khỏi hoạt động kinh doanh.

Trở lại New Deal của tổng thống F.D. Roosevelt. Nếu không có Đại chiến 2, chính sách này có thành công không ? Có rất nhiều đánh giá khác nhau. Nhưng thực tế thì đến trước chiến tranh, kinh tế Mỹ vẫn không thoát khỏi suy thoái. Tỉ lệ thất nghiệp vẫn trên 20% vào năm 1938. Nói chung suốt 2 giai đoạn của New Deal trước chiến tranh, F.D. Roosevelt chưa bao giờ đưa mức thất nghiệp xuống dưới 20%. Đại chiến 2 đã đẩy 17 triệu thanh niên Mỹ vào quân đội, nền kinh tế chuyển sang thời chiến. Lao động lúc đó mới được “toàn dụng”. Đến năm 1942, tỉ lệ thất nghiệp chỉ còn 2%. Nước Mỹ thoát khỏi khủng hoảng kinh tế. Keynes hí hửng cho rằng có thể chuyển mô hình kinh tế thành công trong thời chiến sang thời bình…

(còn tiếp)

Tham khảo và trích dẫn :
+ Khái quát về lịch sử nước Mỹ - website của ĐSQ Hoa Kỳ tại Việt Nam.
+ Chủ nghĩa tự do của Hayek (sđd).
+ Friedrich Hayek : cuộc đời và sự nghiệp (sđd).
+ Alan Greenspan : Kỷ nguyên hỗn loạn (sđd).
+ Tư tưởng kinh tế kể từ Keynes (sđd).
+ The commanding Heights : The Batte for the World Economy (bản tiếng Việt : Những đỉnh cao chỉ huy, NXB Tri thức, Hà nội 2008).
+ willisms.com, wikipedia...

Thứ Bảy, ngày 11 tháng 4 năm 2009

Trần Quốc Thực, thi sĩ



Mấy hôm trước Nguyễn Nhật Ánh bảo gửi bài “Trần Quốc Thực, thi sĩ” đăng trên Thanh Niên năm ngoái cho anh ta đăng lại trên quandodo.com. Cái Quán Đo Đo của anh ta vừa đặt mua dài hạn 10 tờ Thanh Niên Thể thao&Giải trí cho nhân viên và khách hàng đọc. Cái quán này ngày càng dễ thương, hehe.

Đăng lại bài này ở đây để bạn nào chưa đọc thì đọc cho biết.

HHV

Tiễn nhau một bận qua bậu cửa
Tiễn nhau lần nữa trong chiêm bao

(Trần Quốc Thực)

1.

"Cô phàm viễn ảnh bích không tận
Duy kiến trường giang thiên tế lưu"

Hai câu thơ trên của Lý Bạch trong một bài thơ tiễn bạn (Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng) được ông Ngô Tất Tố dịch: "Bóng buồm đã khuất bầu không/Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời". Người uyên thâm Hán học như Ngô Tất Tố mà cũng chỉ dịch được tới đó. Hai câu đó có nghĩa như thế này: Cái bóng xa của cánh buồm đơn độc đã mất hút trong khoảng không xanh biếc, chỉ còn thấy con sông dài cùng bầu trời trong một dòng chảy. Nhưng dịch ra văn xuôi như vậy cũng không lột tả hết ý, huống hồ không chỉ có ý mà còn có tứ, có tình, có chí. Sông và trời ở đây không phải bên nhau, không "và", không "cùng", cũng không "nhập" vào nhau, không phải là hai thành phần hai yếu tố, mà đồng nhất, là một "trường giang thiên tế lưu". Hai câu thơ này không thể dịch được. Cũng không thể giải thích được. Giải thích được nó phải bằng chính nó. Nó kinh thiên động địa, nó là cú sút của Maradona vào "điểm chết".

Người ta bảo thơ Đường là đỉnh cao thi ca nhân loại. Vào thời thịnh Đường, Trung Hoa có đến vài ba ngàn nhà thơ, nhưng trụ được trên cái đỉnh cao chót vót đó chỉ còn được mươi vị. Có nghĩa là trên đời không có nhiều thi sĩ.

Ở nước ta, thi sĩ may ra có được dăm sáu ông. Trong dăm sáu ông đó, theo tôi có ông Trần Quốc Thực.

Xin hãy đọc hai câu sau đây trong bài Tiễn của Trần Quốc Thực:

"Tiễn nhau một bận qua bậu cửa
Tiễn nhau lần nữa trong chiêm bao"

Ông Nguyễn Khắc Phục khởi thủy là một nhà thơ, sau đó không hiểu sao ông chỉ viết văn, viết kịch bản phim mà không thấy thơ phú gì nữa. Cho đến cách đây khoảng 20 năm, trong một lần đến chơi nhà một người bạn, ông Phục đánh liền một lúc 3 ván cờ với một người mới quen, sau đó chăm chú nghe người đó đọc liền một lúc mấy bài thơ, nhìn mặt ông thấy có vẻ tâm đắc lắm. Tôi cũng thấy thơ của người này hay. Khi ra đường tôi hỏi ông Phục: "Anh thấy thơ anh ta thế nào ?". Ông Phục khoát tay: "Anh không quan tâm, thơ thì đến thơ Đường là hết rồi. Anh đánh cờ với anh ta và nghe thơ của anh ta để biết anh ta là ai mà thôi". Lúc đó tôi mới ngộ ra vì sao ông Phục không làm thơ nữa. Một lần khác cách đây hơn 10 năm, nhà văn Nguyễn Khắc Phục sau khi đọc lên hai câu thơ nói trên của Trần Quốc Thực, đã buột miệng nói với bà Phạm Thị Sửu vợ ông Thực, có tôi chứng kiến: "Làm được hai câu đó là thiên tài!".

Không phải tôi mượn lời ông Phục để lăng-xê ông Thực, vì có thể đó chỉ là khẩu ngữ khi cao hứng. Nhưng đối với tôi, hai câu thơ trên của ông Thực cũng kinh thiên động địa như hai câu của Lý Bạch. Khó có thể tìm thấy trên mặt đất thi ca Việt Nam những câu thơ "quỷ khốc thần sầu" như vậy.

Xin bạn đọc đừng vội chê mắng là tôi một tấc tới trời. Đối với thi ca, mỗi người thưởng ngoạn theo mỗi cách. Cách ngày xưa cũng không giống cách ngày nay. Trong hơn 1.000 bài thơ của ông Lý Bạch còn để lại cho nhân gian không phải bài nào cũng hay, trong một bài hay cũng không phải câu nào cũng hay. Các cụ ngày xưa bảo đọc thơ mà mổ xẻ hết từng câu trong bài là không hiểu gì về thơ. Thi tứ như một tiếng động dưới đáy hồ, nó khiến cho mặt hồ nổi sóng.

2.

Miền Chờ là tập thơ đầu tiên của ông Thực. Bà Phạm Thị Sửu là nhà báo, đã giới thiệu tập thơ này và mê luôn ông Thực. Bà Sửu là bạn tôi, nên tôi quen ông Thực. Lúc đó ông Thực làm nhân viên morasse ở Báo Văn nghệ, sống lông bông không nhà cửa, rất ít bạn bè thân hữu. Ông Thực hút thuốc lào như đa số đàn ông miền Bắc, nhưng mỗi lần gặp ông ở nhà bà Sửu tôi đều thấy ông hút thuốc lào qua cái ống cuộn bằng giấy trông rất buồn cười. Ông nhét thuốc vào cái ống giấy đó, ngậm một búng nước trong miệng rồi châm lửa ... rít, khói thuốc được lọc qua nước trong miệng. Ông không hút bằng điếu cày như người khác, lý do đơn giản là muốn hút bằng điếu cày phải có chỗ để, tức là phải có nhà hoặc một chỗ ở ổn định, nhưng ông Thực thì không, ông phải ngủ nhờ nay chỗ này mai chỗ kia. Biết tôi có làm thơ võ vẽ, ông Thực bảo: "Mày làm tặng tao một bài thơ, nói về cái ống thuốc lào bằng giấy đó đi". Tôi vâng lời. Mấy hôm sau mang đến "trả bài" cho ông. Đó là bài Ngơ ngác miền chờ, hoàn toàn không có giá trị thơ phú gì, nhưng tôi xin ghi lại đây, như là một cách hiểu sơ khai của tôi về Trần Quốc Thực 18 năm về trước (những cụm từ in đứng là câu thơ hoặc tên bài thơ của Trần Quốc Thực):

không có chỗ dựng điếu cày
anh hút bằng ống giấy
bạn bè ơi
rượu ơi
thuốc lào ơi !

không có chỗ dựng điếu cày
nửa đời bạc tóc
cạn chén rượu chiều thu ngồi vuốt mặt
bạn bè rơi rụng hết
những mảnh tình tuột mười đầu ngón tay

Hà Nội ơi
phố ngập ngang vai
bài ca vu vơ bám đầu ngọn cỏ
mình chẳng gặp mình mà dại khờ trẻ nhỏ
lặng lẽ mười năm còn ngơ ngác giữa miền chờ.

Vì yêu thơ ông Thực mà bà Sửu cưới luôn ông, từ đó ông mới "có chỗ dựng điếu cày" và hút thuốc lào như người khác.

Nét khắc (1995) là tập thơ tiếp theo của ông, được giải A của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật toàn quốc. Biết tin này tôi rất khâm phục những người chấm giải. Nghe nói từ giải thưởng đó mà ông được "đề bạt" từ chân chấm morasse lên biên tập viên của Báo Văn nghệ. Thiên hạ biết người biết ta như vậy là rất tốt rồi. Tôi biết ông Thực cũng không mong muốn gì hơn. Ông còn in tiếp hai tập thơ nữa là Trái tim hoa bìm (1998) và Tháp cúc (2003).

3.

Bạn bè ông Thực viết về ông đều nhắc đến chuyện ông uống rượu, nhưng tôi chưa thấy ai viết đúng bản chất. Người ta uống rượu thường để giải tỏa điều gì đó hoặc thể hiện điều gì đó, để thêm hoặc bớt điều gì đó, còn ông Thực thì không. Uống rượu đối với ông là mục đích tự thân, dù ông không bao giờ nói ra, cái gì tự nó là nó thì cần gì giải thích. Nhìn ông cầm cái chai (có khi là cái hũ, cái bầu), rót rượu ra cái chén nhỏ xíu và đưa chén lên môi thì biết. Tôi có cảm giác rượu vào miệng ông không giống như vào miệng người thường, nó tan ra thành từng sợi mỏng, thấm vào các tế bào miệng. Nhiều khi say rồi ông lăn ra ngủ, bất kể trên bàn trên chiếu có bao nhiêu người quen người lạ đang ngồi. Tôi không nghĩ là có mối liên hệ nào đó giữa rượu với thơ trong con người ông Thực.

Trần Quốc Thực chưa bao giờ là một người đàn ông có chí khí. "Một tay nâng chén dâng ngang mày" (Tiễn) là khí phách cao nhất của ông. Ông không hết mình, không quyết liệt trong bất cứ thứ gì, cả hỷ nộ ái ố ông cũng nửa vời không đến nơi đến chốn. Gia đình con cái một tay bà Sửu lo toan, ông cứ ù ù cạc cạc. Ông không khiêm tốn, cũng không kiêu ngạo, nói đúng hơn ông không có bản lĩnh để khiêm tốn, không có bản lĩnh để kiêu ngạo. Ông sống làng nhàng nhìn đến phát mệt.

ngày đang duỗi thăm
lối hai tháp cúc
nhấp nhô cánh buồm
con sông phía trước

tháp cúc quệt quạc
ánh vàng lên mây
miền sông lối cát
miền trời heo may

miền nào nữa cúc
đầy hoe bóng người

những tháp cúc nở
em vừa đi qua
bạn ngồi bạn nhẩm
bông gần bông xa

mình ngồi mình mớ
em người đâu ta...

(Tháp cúc)

Con người nhìn đến phát mệt đó đã "tiết" ra một thứ thơ như vậy. Thơ đó chỉ có thể chiêm ngưỡng, không thể bình luận.

Có những nhà thơ để lại các thi phẩm toàn là vàng lấp lánh, những tiếng vang lảnh lót, nhưng không có kim cương, không có những "tiếng động dưới đáy hồ". Thơ Trần Quốc Thực không có nhiều vàng, không có nhiều tiếng vang, nhưng có kim cương, có những "tiếng động dưới đáy hồ".

HOÀNG HẢI VÂN

(Thanh Niên, 12-2-2008)

Bài liên quan :

Thanh Thảo bình thơ Trần Quốc Thực

Thứ Hai, ngày 06 tháng 4 năm 2009

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (2)

(tiếp theo)

Friedrich Hayek. Ảnh từ Wikipedia

Các học thuyết kinh tế một thế kỷ qua cung cấp cho thiên hạ những tri thức nhiều tầng nhiều nhánh chồng chéo nhau như một mê hồn trận. Mỗi kinh tế gia, giống như một chưởng môn trong truyện Kim Dung, đều có một học thuyết, đều cho học thuyết của mình là chân lý và đều muốn xưng bá võ lâm.


Có lẽ Hayek là cao thủ duy nhất không có “cơ tâm” xưng bá trong kinh tế học, mặc dù sở học của ông đạt đến cảnh giới thượng thừa. Ông là một hiện tượng kỳ lạ. Người ta bảo việc trao giải Nobel kinh tế cho Hayek là một sự kiện hy hữu. Nhưng hy hữu hơn là thái độ của ông đối với giải thưởng danh giá đầy uy lực này. Trong diễn từ khi nhận giải Nobel kinh tế, ông bảo rằng nếu có ai hỏi ý kiến ông khi lập ra giải này thì ông sẽ khuyên là “Không nên”.

“Giải Nobel kinh tế”, không phải được trao theo di chúc của Alfed Nobel mà mới được lập ra sau này (1969) do Ngân hàng hoàng gia Thụy Điển chủ xướng với tên gọi chính xác “Nobel Memorial Prize in Economics” (Giải thưởng khoa học kinh tế tưởng nhớ Nobel). Hầu hết những người nhận giải thưởng này đều hài lòng với sự trọng vọng mà thiên hạ dành cho mình như một đỉnh cao trí tuệ. Nhưng Hayek thì khác, ông bảo sự trọng vọng này sẽ “tạo ra một uy quyền trong kinh tế học mà không ai có quyền có được”. Theo ông : “Không có lý do nào để một người có cống hiến quan trọng trong kinh tế học lại có thẩm quyền toàn diện trên tất cả các vấn đề của xã hội – điều mà báo chí có xu hướng nhận định và cuối cùng tự huyển hoặc mình” (trích từ Chủ nghĩa tự do của Hayek – sách đã dẫn).

Gần suốt cuộc đời mình, Hayek bị đẩy ra bên lề của kinh tế học. Ông không nằm trong dòng chảy chính thống và ông cũng không hề có ý định trở thành chính thống.

Hayek không coi kinh tế học là một khoa học như các khoa học tự nhiên. Ông phản đối kinh tế học vĩ mô, vì ở đó ngự trị chủ nghĩa duy khoa học. Đối tượng của kinh tế học, theo ông, là con người có tự do và ý chí “mà hành vi thì không tiên đoán được”. Đó là hành vi của hàng triệu cá thể khác nhau, không thể dùng toán học dể định lượng, không thể mô hình hóa bằng các phương pháp của khoa học tự nhiên. Phân tích kinh tế phức tạp hơn rất nhiều so với nghiên cứu vật lý học. Ông cho rằng, trái với vật lý học, trong kinh tế học “các khía cạnh của những biến cố được nghiên cứu mà chúng ta có thể thu thập được dữ liệu định lượng tất yếu là giới hạn và có nhiều khả năng không phải là khía cạnh quan trọng nhất”.

Từ quan điểm triết học của mình, nhất là quan niệm về “trật tự tri giác” và “phương pháp luận cá thể”, Hayek tiếp cận những vấn đề kinh tế theo một cách khác.

Theo Hayek, “trật tự thị trường”, mà ông gọi là catallaxie, là trật tự sinh ra bởi sự điều chỉnh lẫn nhau của hàng triệu cá thể kinh tế, những cá thể này vốn rất khác nhau và phân tán trong xã hội. Không người nào hoặc nhóm người nào, dù tài giỏi đến đâu, có thể nắm bắt được những khối lượng thông tin khổng lồ và rất khác nhau tương tác qua lại giữa hàng triệu cá thể. Bởi vậy thị trường là không thể can thiệp được. Hayek kế thừa lý luận “bàn tay vô hình” của Adam Smith, nhưng ông đi xa hơn và triệt để hơn Adam Smith. Adam Smith cho rằng trật tự tự phát của thị trường được điều khiển bằng một “bàn tay vô hình” để cuối cùng đem lại cho cộng đồng một cuộc sống thịnh vượng sung túc, nên ông chấp nhận một ngoại lệ : khi nào mục đích của cá nhân đi trệch ra ngoài lợi ích chung thì Nhà nước cần can thiệp điều tiết, vì vậy thuyết “bàn tay vô hình” vẫn thuộc kinh tế vĩ mô. Nhưng Hayek thì chối từ luôn ngoại lệ đó cũng như ông không chấp nhận kinh tế vĩ mô. Mọi ý định can thiệp vào thị trường, dù xấu hay tốt, đều đem lại hậu quả tồi.

Chủ nghĩa tự do kinh tế của Adam Smith với ẩn dụ nổi tiếng về “bàn tay vô hình” một thời là tư tưởng chủ đạo tạo nên sự phồn thịnh cho nước Anh và châu Âu thế kỷ 19. Theo lý thuyết (của kinh tế học cổ điển), do tính trung lập của tiền tệ nên tổng cung tạo ra chính cầu của nó, do đó nền kinh tế thị trường tự do không thể xảy ra khủng hoảng thừa và thất nghiệp. Nhưng thực tế không phải như vậy.

Giữa mê cung của các lý thuyết kinh tế, Hayek có cái nhìn trong suốt nhất quán về thị trường. Ngay từ những năm 20 của thế kỷ trước, những công trình nghiên cứu đầu tiên của ông, nhất là tác phẩm “Monetary Theory and the Trade Cycle” (Lý thuyết tiền tệ và chu kỳ kinh doanh) như một phát súng nổ vào kinh tế học.

Cũng theo lý thuyết, trạng thái cân bằng của nền kinh tế được đặc trưng bởi việc toàn dụng các nguồn lực và bằng tính linh hoạt hoàn hảo của giá cả. Ở đó tỉ số giữa sản xuất sản phẩm tiêu dùng và sản phẩm đầu tư tương ứng với tỉ số chi tiêu tiêu dùng và mức tiết kiệm do sở thích liên thời gian của các tác nhân quyết định. Lãi suất là một giá thực tế cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư, và do đó bảo đảm cân bằng liên thời gian trong nền kinh tế. Các đại lượng thực tế đặc trưng cho nền kinh tế cũng giống với các đại lượng trong tình thế hàng đổi hàng.

Nhưng theo Hayek, một “thiên đường” như vậy không bao giờ có trong thực tế. Có vô số những nguyên nhân khởi động sự mất cân bằng và luôn luôn có một “mụ phù thủy” đứng ra đối phó. “Mụ phù thủy” chính là tiền tệ. Điều khiển tiền tệ là các chủ ngân hàng và vì nó là sản phẩm “quốc doanh” nên do các nhà chính trị thao túng. Do không bao giờ có thể hiểu được thị trường nên chính sách tiền tệ luôn có xu hướng “bẩm sinh” là bơm tín dụng vào nền kinh tế vượt quá mức cần thiết để duy trì cân bằng. Xu hướng “bẩm sinh” này xuất phát từ mục đích chính trị, từ lòng tham và thiên kiến.

Chính sự gia tăng cung tiền này khiến cho lãi suất tiền tệ xuống dưới mức lãi suất tự nhiên, điều này kéo dài quá trình sản xuất và gây ra mất cân bằng giữa đầu tư và tiết kiệm mong muốn. Sự sụt giảm của lãi suất làm cho việc sản xuất các sản phẩm đầu tư trở nên có lợi hơn là sản xuất các sản phẩm tiêu dùng, kéo theo nguồn lực được chuyển dịch từ khu vực sản xuất sản phẩm tiêu dùng sang các sản phẩm đầu tư khiến cho giá sản phẩm tiêu dùng tăng. Giá tiêu dùng tăng làm giảm tiêu dùng thực tế của cộng đồng, được gọi là “tiết kiệm bắt buộc”, “tiết kiệm bắt buộc” này tài trợ cho đầu tư quá mức. Lúc này tình thế đảo ngược : quá trình sản xuất rút ngắn lại. Hậu quả là thất nghiệp gia tăng. Và khủng hoảng nổ ra khi nguồn tín dụng cạn, vì các ngân hàng không thể cho vay vô tận.

Hayek cho rằng cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 là “do đầu tư quá mức xuất phát từ một chính sách tiền tệ dễ dãi, dựa trên ảo tưởng kích thích nền kinh tế bằng lạm phát”. Cách giải thích của Hayek hoàn toàn trái ngược với cách giải thích của Keynes. Keynes cho rằng cuộc khủng hoảng là do thiếu đầu tư gây nên. Hai cách giải thích trái ngược kéo theo hai giải pháp trái ngược hoàn toàn. Một cuộc “thánh chiến” kéo dài mấy thập kỷ mà phần thắng thuộc về Keynes, không phải vì Hayek sai mà bởi do ông là một trí thức trung thực không xu thời (và giờ đây, ông lại sắp thua một lần nữa).

Trong buổi lễ trao giải Nobel kinh tế cho Hayek năm 1974, Viện Khoa học hoàng gia Thụy Điển nhận xét :

“Những tác phẩm nghiên cứu của ông gồm sách và báo trong những năm 1920 đến 1930 khởi xướng một thảo luận vô cùng sống động. Cụ thể là giả thuyết của ông về chu kì kinh doanh và ảnh hưởng của chính sách tín dụng và tiền tệ đang được khuấy lên. Ông đã cố gắng nhìn thấu sâu hơn vào các mối tương quan phụ thuộc có chu kì so với thường lệ trong thời gian đó bằng cách xem xét các giả thuyết tư bản và cơ cấu trong phân tích. Một phần có lẽ vì phân tích chu kì kinh doanh sâu sắc này, giáo sư Hayek là một trong số ít các nhà kinh tế có thể đoán biết trước nguy cơ của một cuộc khủng hoảng kinh tế lớn trong những năm 1920, sự cảnh báo của giáo sư thực tế đã được đưa ra kịp thời trước khi vụ sụp đổ lớn đó xuất hiện giữa mùa thu năm 1929” (trích từ economy.com.vn).

Trong các bộ tiểu thuyết của Kim Dung, tôi thích nhất Hiệp Khách Hành. Đó là câu chuyện về 24 câu thơ trong bài Hiệp Khách Hành của Lý Bạch được khắc trên vách của 24 gian thạch thất trên một hòn đảo giữa biển khơi với các sơ đồ và những lời chú giải trừu tượng đa nghĩa, ở đó ẩn chứa những bí quyết võ công thượng thừa. Hàng năm chúa đảo phát thiệp mời các cao thủ đứng đầu các môn phái lên đảo “ăn cháo Lạp Bát”. Tất cả những người được mời lên đảo không một ai trở lại nên thiên hạ cho rằng ai lên đó tất cả đều phải chết. Thực ra không ai chết cả, họ không về là họ bị hút vào những sơ đồ trên 24 bức vách. Ai cũng đem hết sở học bình sinh của mình để nghiên cứu các sơ đồ và lời chú giải, những mong tìm ra bí quyết võ công để trở thành thiên hạ vô đích. Nhiều người ở đó lì trên đó suốt 30 năm, trong đó có cả phương trượng chùa Thiếu Lâm danh bất hư truyền, nhưng không ai phát hiện ra thứ gì cả. Cuối cùng, chỉ có Thạch Phá Thiên, một chàng thanh niên không biết chữ do ngẫu nhiên bất đắc dĩ phải làm chưởng môn một phái, lên đảo và nhìn ngay ra các bí quyết võ công. Các cao thủ không nhìn ra vì họ bị cơ tâm chi phối, họ lại bị những lý thuyết in sâu trong đầu óc thành định kiến và nhìn sự vật thông qua lăng kính của những định kiến đó. Còn Thạch Phá Thiên thì trong lòng không có cơ tâm, trong đầu không có định kiến.

Thỉnh thoảng tôi nghĩ đến câu chuyện này và khi tìm hiểu về Hayek tôi lại có chút liên tưởng. Hayek là một triết gia, dĩ nhiên ông không phải là “không biết chữ” như Thạch Phá Thiên, nhưng chắc chắn ông là người không có “cơ tâm”.

(còn tiếp)

Thứ Năm, ngày 02 tháng 4 năm 2009

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (1)


Mỗi lần xảy ra khủng hoảng kinh tế, lại diễn ra một trường ác đấu giữa các kinh tế gia. Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và toàn cầu lần này, các mũi dùi tập trung đả kích vào “chủ nghĩa tự do” (mô hình kinh tế thị trường tự do) và các phương tiện truyền thông lại được dịp “bầy đàn”.

Những gói tiền giải cứu và kích thích kinh tế được đưa ra ào ạt, đầu tiên là 700 tỷ USD cuối thời Tổng thống Bush, 787 USD tỷ khởi đầu thời Obama, đến hàng trăm tỷ USD của Nhật bản và châu Âu… dường như làm đảo lộn phải trái . Có vẻ như “chủ nghĩa can thiệp” thịnh hành sau Đại khủng hoảng 1929 và sau Đại chiến 2, đang trỗi dậy.

Tui không đủ kiến thức chuyên môn để phân tích các học thuyết kinh tế. Nhưng nhìn vào lịch sử cũng có thể thấy đôi điều thú vị.

Suốt thế kỷ 20, không tính đến hệ thống kinh tế kế hoạch theo mô hình Liên Xô cũ bị thất bại, tựu trung có hai mô hình, hay hai trường phái thay phiên nhau lên voi xuống ngựa. Đó là “chủ nghĩa tự do” và “chủ nghĩa can thiệp”. Tương ứng với hai mô hình đó, là hai kiểu Nhà nước, tạm gọi là “Nhà nước yếu” (còn gọi là “Nhà nước tối thiểu”) và “Nhà nước mạnh” (còn gọi là “Nhà nước phúc lợi”).

Phái “Nhà nước yếu” chủ trương không can thiệp vào kinh tế mà để cho “bàn tay vô hình” của thị trường điều tiết. Phái này là đồ đệ của Adam Smith, tiếp đó là Friedrich Hayek (1899-1992) và Milton Friedman (1912-2006). Phái “Nhà nước mạnh” chủ trương Nhà nước can thiệp vào kinh tế. Phái này áp dụng mô hình kinh tế của John Maynard Keynes (1883-1946) và những người kế tục.

Sau Đại khủng hoảng năm 1929, người ta cãi vả ôm sồm về nguyên nhân của nó, đa số đổ tội cho thuyết “bàn tay vô hình” và bảo rằng thị trường tự do không đem lại lời giải cho khủng hoảng. Adam Smith bị rơi vào quên lãng. Nước Mỹ dưới thời Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã thông qua một loạt các đạo luật cho phép Chính phủ can thiệp mạnh vào nền kinh tế.

Sau Đại chiến 2, học thuyết Keynes được áp dụng hầu như trên toàn thế giới tư bản. Việc Liên Xô, với nền kinh tế kế hoạch, trở thành một siêu cường chỉ sau mấy thập kỷ, khiến cho các kinh tế gia và chính trị gia phương tây lúng túng. Họ không hiểu thực chất bên kia bức tường Berlin diễn ra những gì. Do đó, “Nhà nước phúc lợi”, “Nhà nước mạnh” còn được coi là mô hình bảo đảm “công bằng xã hội”, làm đối trọng cạnh tranh với hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Dưới thời Kenedy và Johnson, trong vòng 5 năm, nước Mỹ đã tạo thêm 7 triệu việc làm, lợi nhuận tăng gấp đôi, GDP tăng 1/3. Các nhà nước phúc lợi Bắc Âu đem lại cho dân chúng một cuộc sống sung túc với hệ thống “an sinh xã hội” được bảo đảm ở mức gần như lý tưởng. Vì vậy mà người ta gọi những năm 1960 là thời hoàng kim của chủ nghĩa can thiệp.

Hayek, nay được đánh giá là một trong những triết gia và kinh tế gia lỗi lạc nhất của thế kỷ 20, người suốt đời đối đầu không khoan nhượng với Keynes, chống lại chủ nghĩa can thiệp, bảo vệ đến cùng mô hình thị trường tự do, đã đau xót thốt lên : “Khi tôi còn trẻ, chỉ có vài người già tin tưởng thị trường tự do; khi tôi là trung niên, trừ tôi ra không còn ai tin vào nó”. Ông đã thể hiện quan điểm của mình trong những tác phẩm triết học và kinh tế từ trước những năm 30. Năm 1944, cuốn sách nổi tiếng “Con đường dẫn tới nô lệ” (The Road to Serfdom) của ông gây chấn động, nhưng ông gần như bị cả thế giới tẩy chay vì công kích vào Nhà nước phúc lợi ở Anh và châu Âu.

Khi học thuyết Keynes thắng thế, Hayek bị cô lập cả về tri thức lẫn chính trị, hầu hết các học trò của ông đều theo Keynes, khiến cho ông buồn bã nhưng vẫn tự tin là mình đúng : “Hầu như cả thế giới đã đi nhầm đường”. Ông sống trong bệnh tật và nghèo khó, đến nỗi ông phải bán bộ sách 7000 quyển mà ông sưu tầm được, sau khi bán bộ sưu tập quý hiếm về lý thuyết và lịch sử tiền tệ.

Cho đến đầu những năm 1970, cuộc khủng hoảng dầu lửa, kéo theo đó là tình trạng suy thoái kinh tế trầm trọng ở Mỹ và châu Âu, hệ thống kinh tế của chủ nghĩa can thiệp được dịp bộc lộ sự yếu kém và xơ cứng. Mô hình của Keynes bắt đầu bị chỉ trích.

Bất ngờ, Hayek được tặng giải Nobel kinh tế năm 1974. Hai năm sau, Milton Friedman, một bậc thầy khác của thị trường tự do cũng được giải Nobel kinh tế 1976. Friedman, thủ lĩnh “trường phái Chicago” của Mỹ, trường phái tương đồng và chịu ảnh hưởng của Hayek về học thuyết kinh tế, nhưng khác xa trên bình diện triết học, tuy nhiên Friedman đánh giá Hayek là "triết gia tự do vĩ đại nhất thế kỷ 20". Từ giải Nobel danh giá mà tên tuổi và học thuyết của Hayek và Friedman được toàn thế giới biết đến. Trận chiến ý tưởng xoay chiều, Hayek và Friedman lọt vào mắt xanh của các nhà lãnh đạo Anh và Mỹ.

Ở Anh, Hayek trở thành nguồn cảm hứng của Margaret Thatcher. Không lâu sau khi trở thành lãnh tụ Đảng Bảo thủ, bà Thatcher cầm cuốn sách “Hiến pháp của tự do” (The Constitution of Liberty) của Hayek giơ lên nói với thuộc cấp : “Đây là cái mà chúng ta tin tưởng”. Và ngày 5-1-1981, Thủ tướng Thatcher tuyên bố trước Quốc hội : “Tôi là người ngưỡng mộ giáo sư Hayek. Sẽ là điều tốt nếu các thành viên đáng kính của Viện này đọc một số tác phẩm của ông, Hiến pháp của tự do và bộ ba tập Pháp quyền, pháp chế và tự do” (trích từ sách Chủ nghĩa tự do của Hayek, NXB Tri Thức, Hà Nội, 2008).

Lên cầm quyền ở nước Anh, Thủ tướng Thatcher thực hiện một cuộc cách mạng tẩy bỏ hệ thống quản lý keynesian. Giữa lúc kinh tế đình trệ, một loạt các ngành công nghiệp thua lỗ, thất nghiệp gia tăng, bà Thatcher thẳng tay giảm chi tiêu của Chính phủ, cắt bỏ trợ cấp doanh nghiệp, trả nền kinh tế lại cho thị trường. Đình công nổ ra dữ dội, nhất là công nhân ngành than, công đoàn yêu cầu chính phủ trợ cấp để tạo công ăn việc làm nhưng người đàn bà thép này dứt khoát không khoan nhượng. Một loạt các công ty quốc doanh được “cổ phần hóa”, cả đối với những ngành then chốt như điện, viễn thông, hàng không, xe lửa… Bà thực hiện thị trường tự do quyết liệt đến mức tư nhân hóa cả … nhà tù. Nền kinh tế được kích hoạt, nước Anh hồi sinh.

Tại Mỹ, lệnh cấm vận dầu lửa từ các nước Ả rập vào năm 1973 đã khiến nền kinh tế Mỹ rơi vào cuộc suy thoái tồi tệ nhất kể từ năm 1930. Vụ Watergate và chiến tranh Việt Nam làm tăng thêm màu ảm đạm của bức tranh kinh tế. Năm 1974 lạm phát lên mức 2 chữ số, cả nước Mỹ có đến 5 triệu người thất nghiệp. Nixon đổ, Gerald Ford lên làm Tổng thống giữa lúc nền kinh tế suy thoái chưa biết bao giờ mới tới đáy. Cựu Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ Alan Greenspan mô tả về tình trạng doanh nghiệp bị trói buộc lúc đó như sau : “Thật khó tưởng tượng được những doanh nghiệp Mỹ đã bị hạn chế như thế nào. Các ngành hàng không, vận chuyển bằng xe tải, đường sắt, đường ống dẫn dầu, điện thoại, vô tuyến, những người môi giới cổ phiếu, thị trường tài chính, các ngân hàng tiền gửi tiết kiệm, những ngành phục vụ đều hoạt động dưới quy định nặng nề. Các hoạt động được giám sát tới từng chi tiết nhỏ nhất”.

Gerald Ford quyết định cởi trói cho doanh nghiệp. Đó là một “thành công lớn không được ca tụng” (theo lời Greenspan) của ông. Tháng 8-1975, trong một bài diễn văn đọc tại Chicago, Ford cam kết sẽ “tháo xiềng xích cho các doanh nhân Mỹ”, rằng “Chính phủ liên bang tránh xa doanh nghiệp của các vị, khỏi cuộc sống, khỏi ví tiền và không chạm tới một sợi tóc của quý vị nếu tôi có thể”. Việc đọc bài diễn văn này tại Chicago mang một ý nghĩa : Ford tán thành quan điểm của “trường phái Chicago”, phi luật lệ hóa, giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế.

Chính sách phi luật lệ hóa của Gerald Ford dù chưa kịp phát huy tác dụng, nhưng kinh tế cũng bắt đầu phục hồi. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của vụ Watergate và việc Ford xóa tội cho Nixon, nên ông đã thất cử. Jimmy Carter lên làm tổng thống ngày 20-1-1977. Carter trở nên do dự với thị trường tự do. Thời Carter, nền kinh tế Mỹ lại rơi vào suy thoái, lạm phát không kiểm soát được (có lúc lên tới đỉnh 15%). Năm 1981, Carter thất cử, Rolnald Reagan lên làm tổng thống – một tổng thống thực sự làm thay đổi nước Mỹ.

Trong báo cáo kinh tế đầu tiên của mình, Reagan tuyên bố : “Mục tiêu đầu tiên và chính yếu của tôi là cải thiện thành tích của nền kinh tế bằng cách giảm đi nhiều chiều kích của vai trò của chính phủ liên bang”. Cùng với Thatcher, Reagan áp dụng thành công mô hình kinh tế thị trường tự do của Hayek-Friedman, làm hồi sinh nền kinh tế Mỹ. Ông đã đi vào lịch sử với tư cách là một trong những tổng thống giỏi nhất Hoa Kỳ, thậm chí năm 2005 Reagan được bình bầu là người Mỹ vĩ đại nhất, xếp trên cả Abraham Lincoln.

Hayek-Friedman hóa thân vào hai tên tuổi chính trị lớn trên thế giới là Reagan và Thatcher. Học thuyết Reagan-Thatcher ra đời từ đó. “Nhà nước mạnh” nhường bước cho “Nhà nước yếu”…

(còn tiếp)

__________
Tham khảo và trích dẫn :
+ Friedrich Hayek : Cuộc đời và sự nghiệp, NXB Tri Thức, Hà Nội 2008.
+ Chủ nghĩa tự do của Hayek. NXB Tri Thức, Hà Nội, 2008.
+ Tư tưởng kinh tế kể từ Keynes, NXB Tri Thức, Hà Nội, 2008.
+ Alan Greenspan : Kỷ nguyên hỗn loạn. NXB Trẻ, TP.HCM, 2008.
+ Một số tư liệu liên quan trên Wikipedia…