Chủ Nhật, ngày 31 tháng 5 năm 2009

Atlas Shrugged của Ayn Rand


Cuốn The Fountainhead (Suối Nguồn - bản dịch của NXB Trẻ) của Ayn Rand tôi đã có bài giới thiệu ở đây. Nhiều thế hệ người Mỹ đã chịu ảnh hưởng cuốn sách này. Đọc Alan Greenspan thấy ông này coi bà Rand là thầy mình. Đọc cuốn Bộ chín bên trong thế giới bí mật của tòa án tối cao Mỹ (The Nine inside the Secret World of the Supreme Court) cũng thấy điều thú vị : Đại thẩm phán Clarence Thomas rất tôn sùng Ayn Rand, đễn nỗi tất cả các thư ký luật mới đến làm việc đều được ông yêu cầu xem bộ phim dựng theo Fountainhead.

Rất tiếc, ở Việt Nam mới chỉ có Nhà xuất bản Trẻ lần đầu tiên in một tác phẩm của Rand. Mong rằng những tác phẩm của bà sẽ được dịch hết ra tiếng Việt.

Cuốn tiểu thuyết Atlas Shrugged là tác phẩm cuối cùng và dài nhất của Rand, những người yêu thích Rand hy vọng sẽ sớm có bản dịch tiếng Việt. Sau đây là một đoạn video phỏng vấn bà Rand được thực hiện năm 1959 sau khi Atlas Shrugged xuất bản (1957) và một đoạn giới thiệu cuốn sách, lấy trên Youtube :




Thứ Bảy, ngày 30 tháng 5 năm 2009

Tui đang thèm cháo gà Đo Đo đây


Người ta bảo “trà tam tửu tứ du hành nhị”, còn đi ăn Đo Đo phải mấy người mới đủ bộ thì chưa có tổng kết. Riêng tui thì chưa bao giờ đi ăn một mình.


Từ ngày chị Thu mua dài hạn mỗi ngày 10 tờ Thanh Niên Thể thao&Giải trí cho nhân viên và thực khách đọc, Đo Đo thành khách “sộp” của người đi bán báo là tui đây. Nhưng gần đây ít ra Đo Đo, vì ngày nay tui đã “chuyển công tác khác” nên trưa trưa ít còn ai để rủ ra đó nữa. Thỉnh thoảng thèm Đo Đo phải gọi Nguyễn Nhật Ánh đi cùng, nhưng cha Ánh là đứa ham chơi hơn ham ăn nên cứ 7 lần gọi thì 6 lần nói “kẹt”. Tui không hề có ý định dìm hàng khi nói chả ham chơi và “nói bậy”. Đã viết văn thì phải ham chơi, không ham chơi không viết được. Các văn nhân thi sĩ nổi tiếng kim cổ đông tây đều thế cả. Không chơi thì biết gì đời mà viết, đúng không ?


Nói bậy cũng vậy, không biết nói bậy thì viết văn thế quái nào được. Nhìn Lev Tolstoy coi, ông ta còn nổi tiếng do nói bậy nữa. Tui cũng biết, Nguyễn Nhật Ánh lỡ chọn con đường viết văn cho con nít, nên ham chơi thì thỏa mái nhưng nói bậy trong văn chương thì hơi bị gò bó, chỉ nói bậy được chuyện con nít thôi.


Nhìn cha Ánh nhiều khi thấy tức cười. Một mặt cũng muốn tứ đốm tam khoanh như thiên hạ, một mặt thì hồn nhiên thơ dại, thành thử già không đều. Nhưng cộng lại chia ra thì thành một thằng thanh niên, hehe, cái này là “nâng hàng” rồi đó nhé.


Chiều qua ra Đo Đo được ăn cháo gà. Cháo gà Đo Đo ngon tuyệt. Nhưng phát hiện ra bữa cháo gà này rất thiếu lành mạnh, vì người trả tiền là cha Đỗ Trung Quân thua độ bóng đá. Cha Ánh thắng nên mặt cứ nhơn nhơn, lộ rõ nguyên hình gã Chu Đình Ngạn chuyên nghiên cứu bóng đá để viết bài kiếm cơm. Cha Đỗ Trung Quân lơ mơ hình như chưa biết trái banh có mấy múi, thắng thế nào được lão Chu Đình Ngạn có sạn trong đầu. Từ đây mới biết những cuộc như thế này diễn ra khá thường xuyên, mỗi hôm thành phần có thay đổi nhưng Chu Đình Ngạn và con cừu non Đỗ Trung Quân thì thường trực.


Xin mách thêm, trong những cuộc đó “chúng nó” toàn nói bậy không à, không có chuyện văn chương thơ phú gì cao siêu đâu, hehe. Tại cuộc hôm qua, tui có đóng góp, kể chuyện trước đây tui xem một chương trình hướng dẫn sinh đẻ có kế hoạch của VTV2, thấy người ta chỉ vào hình vẽ bảo cái này là cái gì, cái này chạm vào cái kia gọi là làm gì, nói bằng thứ ngôn ngữ giản dị dễ hiểu của chính nông dân. Tui thề đó là sự thật, nhưng cha Ánh gân cổ lên cãi rằng làm gì có chuyện đó. Chả tưởng những chuyện mấy chả nói trong bữa cháo gà người ta không đưa lên truyền hình được chắc !


Nếu bạn nào chiều chiều ra Đo Đo mà thấy Nguyễn Nhật Ánh nhơn nhơn giữa cuộc cháo gà thì làm ơn gọi tui một tiếng, những cuộc này “chúng nó” không chủ động mời người ngoài đâu, nhưng nếu biết thì có thể đến ăn thoải mái. Tui đang thèm cháo gà đây, hehe.


HOÀNG HẢI VÂN

(đăng trên quandodo.com)

Thứ Năm, ngày 28 tháng 5 năm 2009

Con Háu bỗng dưng thắc mắc...


"Bố ơi, tại sao bố không viết về con trên Blog nữa ?", con Háu bỗng dưng thắc mắc. "Ừ ừ...", tui hơi bị cứng họng. Tại sao ? Tại sao ? Con Háu giãy đành đạch một hồi rồi lên đường với "Như chưa hề có cuộc chia ly", niềm say mê vô bờ bến của Háu ta.

Tui cứng họng vì tui đã làm sai "tôn chỉ mục đích". Mục đích chủ yếu khi lập cái Blog này là suy ngẫm về lịch sử và nói chuyện con Háu, nhưng được một thời gian thì con Háu "biến mất" trên Blog của tui.

Người ta thường nghĩ là con nít không thể hiểu được nhiều chuyện người lớn làm. Nhưng tui, kẻ theo trường phái Saint-Ex, có quan niệm ngược lại. Mỗi khi nhìn lên trời lại nhớ đến Hoàng tử bé và nỗi cô đơn của Saint-Ex : lúc ông nghĩ con cừu không ăn bông hoa của Hoàng tử bé, ông thấy bầu trời sáng trong rạng rỡ, còn khi nghĩ đến con cừu đã ăn bông hoa rồi thì bầu trời trở nên u ám.Ông bảo những người lớn không ai hiểu được điều đó đâu.

Con Háu biết tỏng tòng tong vì sao tôi làm sai "tôn chỉ mục đích". Những ý đồ của người lớn, những niềm hứng thú nhơn nhơn và sự khổ đau cay cú của bọn họ thường không đáng giá một xu và làm sao có thể thoát được cặp mắt tinh tường của con nít. Nhưng lượng khoan dung của con nít lại to hơn người lớn. Bởi vậy nên ngoài những lúc mè nheo, con Háu vẫn nhìn sự tầm thường của một người lớn là tui đây bằng cái nhìn độ lượng. Nó bảo : "Sao bố viết cái gì cũng nhất quán thế !". Tui lại chỉ biết ậm ừ. Tui hiểu, tâm hồn tui không còn hồn nhiên như cây cỏ nữa.

Gần đây tui thấy con Háu chơi thân với một người bạn mới. Đó là chú chó con 1 tháng tuổi của chị bán thuốc lá trước cổng báo Thanh Niên. Hàng ngày chú cún ngồi chơi một mình trong tủ thuốc, lúc nào chú mắc tè chị thuốc lá sẽ mở cửa cho ra. Mỗi lần đi qua đây con Háu đều sà vào chơi với chú cún. Nhìn cảnh con Háu thơm nó và nó liếm mặt liếm tai con Háu, tui như thấy từng mảng xơ cứng trong tâm hồn mình rạn nứt, tan chảy.

Chiều hôm qua, con Háu bận đi xa không đến, tui ra đường đến chỗ chị thuốc lá đưa tay cho chú cún con, nhưng nó đứng trơ lỳ không nhúc nhích. Tui thoáng lặng người, cái thoáng lặng người đó không một người lớn nào có thể nhận ra. Nhưng cô bé con chị thuốc lá lại dễ dàng nhìn thấy. Cô bé thương hại động viên tui : "Con cún hiền lắm chú ơi, nó không cắn đâu".

Chủ Nhật, ngày 24 tháng 5 năm 2009

Công cụ dân chủ hàng đầu của Tự do


Alexis de Tocqueville (1805-1859), nhà chính trị học vĩ đại người Pháp viết tác phẩm bất hủ “De la démocratie en Amérique” (Nền dân trị Mỹ), xuất bản vào năm 1835 và 1840. Điều lạ lùng là cuốn sách của một người Pháp viết về Mỹ, nó đề cao nền dân trị Mỹ song không ca ngợi một chiều, mà ngược lại còn chỉ ra một cách cụ thể những khiếm khuyết và cảnh báo một loạt vấn đề nảy sinh trong tương lai, nhưng lại được người Mỹ tôn thờ như một thứ “tôn giáo chính trị”, bên cạnh bản Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp Hoa Kỳ. Hơn 170 năm sau ngày cuốn sách được xuất bản, lịch sử Hoa Kỳ và thế giới diễn ra nhiều sự kiện đúng như những lời tiên tri của Tocqueville : hai cuộc đại chiến thế giới, sự phình to của bộ máy nhà nước - từ các loại "kế hoạch hóa" đến New Deal của F.D. Roosevelt, Great Society của L.B. Johnson và các loại Nanny State ở châu Âu... đều là những biểu hiện khác nhau của tình trạng chuyên chế, bức hiếp, hạ thấp tự do cá nhân. Ngay cả điều tưởng như đơn giản, như sự không hạn chế thời gian tái cử tổng thống , ông cũng cảnh báo sự nguy hại của nó từ hơn 1 thế kỷ trước khi nước Mỹ giới hạn lại còn tối đa 2 nhiệm kỳ...


Tự do là khát vọng ngàn đời của con người, khát vọng đó xuyên suốt lịch sử nhân loại cũng như xuyên suốt một đời người. Tagore bảo “trong bụng mẹ, đứa trẻ được tự do lần thứ nhất”, vì ở đó con người không bị can thiệp tùy tiện. Marx từng tuyên bố về một xã hội “từ vương quốc tất yếu sang vương quốc tự do” như là cứu cánh của học thuyết của mình. Cụ Hồ cũng bảo (câu này hình như nhiều người muốn lờ đi không dám nhắc tới) : “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (Báo Cứu quốc 17-10-1945).


Như sau này Friedrich Hayek nhấn mạnh, dân chủ chủ yếu là một phương tiện để bảo vệ tự do cá nhân, nhưng dân chủ chưa phải là một phương tiện chắc chắn, rằng một chính phủ được bầu cũng có thể trở thành một chính phủ độc tài, học thuyết của Tocqueville, về bản chất, là học thuyết về tự do.


Tuy dân chủ mở ra một khung trời mới để nhân loại khôi phục và nuôi dưỡng tự do, nhưng khung trời đó vẫn bị giới hạn. Ngay từ đầu thế kỷ 19, khi laissez-faire đang là chủ đạo, khi toàn bộ quân đội Mỹ lúc đó chỉ có 6000 người, khi kích cỡ bộ máy nhà nước của các nước dân chủ còn rất bé so với hiện nay, bằng những chiêm nghiệm từ nước Mỹ và châu Âu, Tocqueville đã cảnh báo :


Nếu như thời nay mà các quốc gia dân chủ có xác lập được nền chuyên chế, thì hẳn là nền chuyên chế đó sẽ phải có những đặc điểm khác : nó sẽ trải ra trên diện rộng hơn và nó có một dáng vẻ hiền lành hơn nhiều, nó có thể sẽ làm cho con người bị mất phẩm chất người đi, nhưng nó không làm cho lương tâm con người quằn quại đau khổ…


Tôi không hồ nghi chút gì rằng, trong những thời kỳ của ánh sáng và của quyền bình đẳng như thời đại chúng ta, những kẻ cầm quyền tối cao lại dễ dàng làm cho mọi quyền lực công cộng đều tập hợp được vào trong đôi tay mình, và thâm nhập khôn khéo hơn và sâu xa hơn vào các miền lợi ích riêng tư, những điều mà không một kẻ chuyên chế nào của thời Cổ đại có thể làm được…


Tôi muốn hình dung xem sự chuyên chế mới sẽ mang những nét mới nào trong cuộc sống này : tôi nhìn thấy một đám đông vô cùng với những con người giống hệt nhau, họ đang không ngừng quay đầu tìm lẫn nhau ở những thú vui nhỏ bé và thô lậu chất chứa đầy đầu óc họ… Bên trên những con người này là một quyền lực bao la và cũng là thế lực đỡ đầu họ, riêng nó chịu trách nhiệm bảo đảm cho họ có mọi hưởng thụ và chăm lo cho số phận của họ. Quyền lực này là tuyệt đối, chăm lo tỉ mỉ chi tiết, chính quy, nhìn xa trông rộng và mềm mỏng. Quyền lực này sẽ như thể quyền của người cha với người con nếu như mục đích của nó là chuẩn bị cho đàn con lớn khôn mạnh mẽ; nhưng trái lại, quyền lực này chỉ nhằm làm sao cho con cái mãi mãi bị cột chặt vào tuổi ấu thơ; quyền lực này muốn các công dân được hưởng thụ, miễn sao hưởng thụ phải là mục tiêu duy nhất của họ, thế là được. Quyền lực này tình nguyện hoạt động vì hạnh phúc của những con người kia; nhưng nó muốn chỉ có nó tạo ra hạnh phúc đó và quyết định thế nào là hạnh phúc…


Sau khi theo cách đó để lần lượt nắm từng công dân vào đôi bàn tay cực mạnh của mình và nhào nặn nó tùy thích, kẻ cầm quyền tối cao giang rộng đôi cánh tay ra toàn bộ xã hội. Nó bao trùm bề mặt xã hội bằng một hệ thống những quy tắc nhỏ nhặt rắc rối, tỉ mỉ chi tiết và đồng loạt, qua đó ngay cả những đầu óc độc đáo nhất và những tâm hồn mạnh mẽ nhất cũng chẳng thể nào ngoi lên nổi để có thể đi xa hơn toàn bộ đám đông. Nó không bóp nát mọi ý chí con người, nhưng nó làm cho ý chí con người mềm nhũn đi, bắt mọi ý chí phải cúi đầu và điều khiển chúng. Hiếm khi nó bắt buộc con người phải hành động, nhưng nó luôn luôn chống lại khi con người hành động. Nó không thủ tiêu cái gì cả, nó chỉ ngăn chặn sinh sôi. Nó không dùng lối bạo hành với ai hết, nó chỉ gây phiền hà, nó đè nén, nó chọc tức, nó làm tắt ngấm, nó khiến cho con người chỉ còn biết há hốc mồm kinh ngạc…


Các quốc gia dân chủ đã du nhập Tự do vào phạm vi chính trị, đồng thời với việc họ làm gia tăng tính chuyên chế trong phạm vi hành chính, tất cả đều dẫn tới những điểm lạ kỳ. Khi phải tiến hành làm những công việc nhỏ mà chỉ cần thiên lương là đủ, thì họ nghĩ rằng các công dân không đủ sức làm điều đó. Khi sang chuyện cai quản cả một Nhà nước, thì họ lại trao cho cũng các công dân ấy những đặc quyền vô cùng lớn. Lần lượt, họ biến các công dân lúc thì thành những đồ chơi trong tay kẻ cầm quyền tối cao và lúc lại thành các ông chủ của kẻ cầm quyền đó, khi thì to hơn cả các ông vua và khi thì ít hẳn phẩm chất người. Sau khi đã sử dụng cạn kiệt mọi hệ thống bầu cử khác nhau mà vẫn chẳng tìm ra một hệ thống nào thích hợp nhất, họ tỏ ra ngạc nhiên và lại tiếp tục kiếm tìm…


Tật xấu của những kẻ cầm quyền và sự ngu xuẩn của những kẻ bị cai trị sớm muộn sẽ dẫn tai họa tới. Và nhân dân, khi đã mệt mỏi vì những kẻ đại diện mình và vì cả bản thân mình, sẽ tạo ra những thiết chế tự do hơn nữa, hoặc là sẽ sớm quay lại nằm dài dưới chân của một ông chủ duy nhất.


Cảnh báo những nguy cơ của nền dân chủ lấy số đông thống trị số ít, nhưng Tocqueville không hề có ý định khước từ dân chủ để trở lại chế độ “quý tộc trị”, nơi mà “sự thịnh vượng của đại đa số con người bị hy sinh cho sự vĩ đại của vài ba cá nhân”. Vấn đề, theo ông là “làm cho Tự do thoát thân ra từ trong lòng xã hội dân chủ.”.


Tocqueville không “thầm kêu rên cho số phận đồng loại”, ông tin vào Tự do và đưa ra một loạt các giải pháp khắc phục những nguy cơ của nền dân chủ bằng việc phân quyền và giới hạn quyền lực của nhà nước, bằng những bảo đảm tự do cá nhân trong Hiến pháp, bằng sự độc lập của tòa án, bằng các thiết chế tự nguyện của "xã hội dân sự" (sociétés civiles), bằng bằng báo chí tự do, bằng việc phổ cập các giá trị tự do truyền thống…


Đối với báo chí tự do, Tocqueville tự nhận rằng ông “không có được cái tình yêu trọn vẹn” đối với nó, rằng ông yêu báo chí vì “tôn trọng việc nó ngăn chặn được những cái xấu hơn là vì những cái tốt đẹp nó tạo ra”, nhưng từ 170 năm trước ông đã nhìn thấy rõ tầm quan trọng của báo chí trong một xã hội dân chủ. Ông viết :


Cá nhân vào thời dân chủ dễ dàng bị tống ra khỏi bầy đoàn, và anh ta dễ dàng bị xéo dưới chân. Ngày nay, một công dân bị đè nén áp bức chỉ còn có một phương tiện tự vệ, đó là gửi lời kêu gọi tới toàn thể dân tộc; anh ta chỉ có một phương tiện thực thi điều đó, đó là báo chí… Sự bình đẳng làm cho con người xa cách nhau và làm cho con người yếu kém đi; nhưng báo chí đem đặt bên cạnh mỗi con người hèn yếu đó một vũ khí cực mạnh mà kẻ yếu nhất và kẻ bị xa lánh nhất cũng đều có thể đem sử dụng. Quyền bình đẳng tước đi mất của mỗi cá nhân khả năng hỗ trợ những kẻ có chung số phận; nhưng báo chí cho phép kêu gọi tất cả các công dân và đồng loại tới ứng cứu…


Để bảo đảm có độc lập cá nhân cho những con người sống ở các quốc gia dân chủ này, tôi chẳng tin cậy vào những cuộc đại hội nghị chính trị, cũng chẳng tin gì vào những quyền hành của nghị viện, và chẳng tin gì hết vào tuyên ngôn về chủ quyền tối thượng của nhân dân.


Tất cả những trò đó trong chừng mức nào đó đều có thể dung hợp được với sự nô lệ của cá nhân con người; nhưng có tự do báo chí thì cảnh nô lệ đó sẽ không diễn ra hoàn toàn được. Báo chí là công cụ dân chủ hàng đầu của Tự do.


Và như vậy là, cũng theo Tocqueville, cho dù có tự do báo chí thì nguy cơ của nền dân chủ số đông thống trị số ít, mà một trong những nguy cơ đó là cảnh nô lệ, cũng mới chỉ “không diễn ra hoàn toàn” mà thôi. Nhưng không có tự do báo chí thì dứt khoát không được.

____________

(Những đoạn trích của Tocqueville theo cuốn : Nền Dân trị Mỹ, bản dịch tiếng Việt của Phạm Toàn, NXB Tri Thức, Hà nội, 2008)

Thứ Năm, ngày 21 tháng 5 năm 2009

Người nổi tiếng và báo chí


Trong những ngày này báo chí Anh đang phanh phui tình trạng lạm dụng công quỹ trong Hạ viện (xin nói thêm, Hạ viện Anh là cơ quan có thực quyền cao nhất nước này). Những bê bối tiền nong to nhỏ từ đương kim Thủ tướng cho đến các dân biểu đều được tung hê lên mặt báo. Vụ này khiến Chủ tịch Hạ viện từ chức, một số chính khách khác cũng đã và sẽ từ giã chính trường. Dĩ nhiên, không có “cơ quan chức năng” nào của Anh quốc dám cản làn sóng báo chí. BBC, một hãng truyền thông “quốc doanh”, cũng cập nhật đầy đủ thông tin cho công chúng trong và ngoài nước biết (BBC tiếng Việt xem tại đây. Tài liệu đầy đủ về vụ bê bối bằng tiếng Anh có thể xem tại theyworkforyou.com - theo giới thiệu trên Blog của A Reader - A Traveller). “Người của công chúng” tất phải đương đầu với búa rìu dư luận, đó là tập tục bình thường ở các nước Âu-Mỹ.


Tôi không rõ luật pháp nước Anh “xử lý” như thế nào trong trường hợp báo chí đưa tin sai, chỉ biết Sở Cảnh sát London vừa tuyên bố không điều tra về việc ai đã tiết lộ tài liệu về chi tiêu của các dân biểu cho Daily Telegraph – nhật báo đầu tiên phanh phui vụ bê bối.


Ở nước Mỹ thời điểm hiện tại không có vụ bê bối lớn nào đáng nói, nhưng không phải vì vậy mà kém phần vui nhộn. Nhiều tờ báo liên tục chỉ trích các chính sách của đương kim tổng thống Obama, trong đó có “gói kích thích kinh tế” 787 tỷ USD, cái “gói” này thuộc hàng “chủ trương chính sách lớn” của Nhà nước. Báo chí nói gì mặc kệ, việc của Nhà nước Nhà nước cứ làm. Đó cũng là tập tục bình thường, không đáng bàn luận.


Nhưng báo chí mà phỉ báng cá nhân thì sẽ có luật "điều chỉnh". Luật pháp Mỹ đối với vấn đề này rất thú vị, nó “phân biệt đối xử” giữa cá nhân bình thường và cá nhân người nổi tiếng.


Nước Mỹ không có luật báo chí. Toàn bộ hoạt động báo chí ở Mỹ chỉ được “điều tchỉnh” bởi một điều khoản duy nhất, nói chính xác hơn là được “ghép” trong một điều khoản này, đó là Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp Mỹ (The first Amendment) : “Quốc hội sẽ không ban hành đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, hoặc hạn chế tự do ngôn luận hay báo chí hoặc quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình” (Congress shall make no law respecting an establishment of religion, or prohibiting the free exercise thereof; or abridging the freedom of speech, or of the press; or the right of the people peaceably to assemble, and to petition the Government for a redress of grievances). Như lời văn của nó chỉ rõ, The first Amendment chỉ "răn đe" chính quyền, không "răn đe" báo chí.


Nhưng Tu chính án thứ nhất chỉ là một khái niệm chung chung mơ hồ nếu các quan tòa không độc lập và không biết cách đưa nó vào cuộc sống. Và thực tế là từ khi có Tu chính án này cho đến năm 1964, tức là trong một thời gian rất lâu, Tối cao pháp viện Hoa Kỳ chưa bao giờ áp dụng nó để bảo vệ báo chí.


Quá trình đưa Tu chính án này vào cuộc sống có một lịch sử lâu dài. Thời thuộc địa (chưa có Hiến pháp Mỹ), việc phỉ báng quan chức dù nội dung đó có đúng hay không đều phạm tội. Vào năm 1734, khi Hoa Kỳ vẫn còn là thuộc địa của Anh, có một vụ án lịch sử, đó là vụ Zenger. John Peter Zenger, một chủ báo ở New York đã cho đăng bài trên tờ New York Weekly Journal của mình, công kích viên Thống đốc Hoàng gia Anh tại đây, cho ông này là bất tài và nhận hối lộ. Zenger đã phải vào tù vì tội phỉ báng. Nhưng người bào chữa cho Zenger, luật sư Andrew Hamilton, đã làm nên một chuyện mang tính lịch sử khi ông chứng minh những lời “phỉ báng” của Zenger là không sai và đã thuyết phục tòa án tuyên bố Zenger vô tội. Vụ Zenger đã tạo ra một tiền lệ về pháp lý quan trọng : Từ đây, trong những vụ kiện về tội phỉ báng (ngày nay đều là các vụ kiện dân sự), nguyên đơn chỉ có thể thắng kiện nếu chứng minh được lời phỉ báng đó là sai sự thật. Đó là bước tiến lớn về quyền tự do ngôn luận ngay giữa chế độ thuộc địa mà giá trị pháp lý của nó tồn tại đến ngày nay. Tuy nhiên, các vụ kiện cáo về lĩnh vực này vẫn được các tòa án xét xử theo luật của từng bang, không thống nhất trên toàn quốc.


Một bước ngoặt mang tính cách mạng về quyền tự do ngôn luận diễn ra vào năm 1964 khi Tối cao pháp viện thụ lý một vụ án lịch sử : Vụ New York Times kiện Sullivan. Vụ kiện xuất phát từ một trang quảng cáo đăng trên tờ New York Times của một số mục sư nhằm quyên tiền để bào chữa cho nhà hoạt động nhân quyền lừng danh nước Mỹ - mục sư Martin Luther King, sau khi ông bị bắt giam. L.B Sullivan, người phụ trách Sở cảnh sát thành phố Montgomery, bang Alabama, cho rằng nội dung quảng cáo đã nói không đúng về các hành vi của lực lượng cảnh sát và phỉ báng mình, nên đã kiện New York Times và các mục sư ra tòa án. Xét thấy nội dung quảng cáo có một số thông tin không đúng, tòa án đã quyết định cho Sullivan thắng kiện, buộc các bị đơn phải bồi thường cho ông này 500 ngàn USD. New York Times và các mục sư đã kháng cáo lên Tối cao pháp viện.


Tòa tối cao cho rằng không thể dùng các quy định điều chỉnh về tội phỉ báng để áp đặt hình phạt đối với việc phê phán hành vi ứng xử của các công chức, rằng dù nội dung phê phán có sai sót nhưng việc yêu cầu những người phê bình các quan chức phải bảo dảm độ chính xác trong phát biểu của họ là hành động “tự kiểm duyệt”. Tòa cũng cho rằng, những công chức Nhà nước muốn thắng kiện trong trường hợp này không chỉ phải chứng minh những nội dung được đăng tải là sai mà còn phải chứng minh những người đăng tải nội dung này là “có ác ý”, nhưng tòa nhận thấy rằng không có bằng chứng nào chứng tỏ tờ New York Times và các mục sư đã “có ác ý” khi đăng nội dung đó. Vì vậy, Tòa tối cao phán quyết New York Times và các mục sư thắng kiện.


Phán quyết của Tối cao pháp viện Hoa Kỳ trong vụ án lịch sử này có giá trị như một điều luật, và hơn thế nữa, nó có giá trị ngang với một điều khoản của Hiến pháp, để từ thời điểm này áp dụng cho tất cả các vụ kiện về tội phỉ báng : một nguyên đơn là quan chức Nhà nước muốn thắng kiện nhất thiết phải chứng minh rằng những lời phỉ báng của bị đơn là sai, đồng thời phải chứng minh được cái sai đó là “có ác ý”.


Ngoạn mục hơn, là “án lệ” của vụ New York Times kiện Sullivan không chỉ dành cho các quan chức nhà nước mà còn được Tối cao pháp viện mở rộng luôn cho những “nhân vật của công chúng”, bao gồm các ngôi sao giải trí, các nhà văn nổi tiếng, các vận động viên thể thao và những người “thường xuyên thu hút sự quan tâm của giới truyền thông”.


Như vậy là tại nước Mỹ, người bình thường kiện báo chí về tội bôi nhọ chỉ cần chứng minh việc bôi nhọ đó không đúng sự thật là thắng kiện, nhưng những người nổi tiếng thì khác. Người nổi tiếng muốn thắng kiện phải chứng minh 2 việc : thông tin sai và thông tin “có ác ý”. Phê phán những người nổi tiếng mà không đúng sự thật nhưng không “có ác ý” thì luật pháp nước Mỹ “chấp nhận được”.


Tất nhiên về mặt đạo lý thì không nên, nhưng những nhà lập quốc và các đại thẩm phán Hoa Kỳ đã tiên liệu những hạn chế có thể có về tự do ngôn luận, nên đã biết cách phòng ngừa. Bởi vậy mà phán quyết của Tối cao pháp viện trong vụ New York Times kiện Sullivan được coi là một phán quyết “mở rộng tự do ngôn luận”.


Làm một quan chức, làm một người nổi tiếng ở Mỹ quả là khó hơn làm một người bình thường, do vậy mới có "văn hóa từ chức", do vậy mới không khuyến khích thói háo danh.


Tham khảo :

+Website BBC.

+Hiến pháp Hoa Kỳ và các tài liệu liên quan về lịch sử tòa án và lịch sử báo chí Mỹ.

________

Bài liên quan :

*Tự do ngôn luận Mỹ từng góp phần ngăn chặn chiến tranh Việt Nam

*Sự kiện báo chí lớn nhất thế kỷ 20

Thứ Bảy, ngày 16 tháng 5 năm 2009

Xem "Như chưa hề có cuộc chia ly..."


"Như chưa hề có cuộc chia ly" là cầu nối đoàn tụ người thân quy mô lớn nhất hiện nay ở Việt Nam. Tính đến tối nay, chương trình đã tìm kiếm và kết nối được 105 cuộc đoàn tụ, truyền hình trực tiếp 18 lần trên VTV1 (phát đồng thời trên VTV4 và phát lại nhiều lần). Rất nhiều cuộc đoàn tụ sau 20, 30, thậm chí 50 năm bị thất lạc.


Ngày càng nhiều những yêu cầu tìm kiếm gửi về chương trình, tính đến nay đã có 2808 yêu cầu gửi qua website haylentieng.vn, 3644 yêu cầu gửi qua tổng đài (08)264 7777, 5036 yêu cầu gửi qua thư viết tay, 958 yêu cầu gửi qua email và 635 yêu cầu trực tiếp đến Văn phòng của chương trình. Những người làm chương trình đã lên hơn 2800 hồ sơ xác minh sơ bộ, trong đó có hơn 1000 hồ sơ đang được triển khai tìm kiếm.

Tối nay, 16-5, vào lúc 20 giờ, VTV1 và VTV4 sẽ truyền hình trực tiếp "Như chưa hề có cuộc chia ly" số 18. Chương trình sẽ nói về số phận của những đứa trẻ bị thất lạc trong cuộc tháo chạy hỗn loạn những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam tháng 4-1975. Lẽ ra theo thường lệ, chương trình được phát lúc 20 giờ ngày thứ bảy đầu tiên mỗi tháng, nhưng tháng này có một số chương trình đột xuất nên VTV điều chỉnh lùi lại.

Mời xem một số chương trình đã phát :

Đây là cuộc gặp gỡ đặc biệt giữa tướng không quân Hoa Kỳ và phi công Việt Nam từng đụng độ trên bầu trời Hà Nội (số 5)



Đây là những cuộc đoàn tụ trọn vẹn sau 30 năm mất tích (số 4)

Thứ Sáu, ngày 15 tháng 5 năm 2009

Chúa Sãi và laissez-faire

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (6)

(tiếp theo)


Từ đầu thế kỷ trước (1918), Sài Gòn đã được thế giới vinh danh là “Hòn Ngọc viễn đông”, mức độ giàu có thịnh vượng của nó vượt xa Hồng Kông. Hãy gác một bên các thể chế chính trị, sự thịnh vượng của Sài Gòn có thể nói thời nào cũng xuất phát từ một nguyên nhân căn bản : tự do thương mại. Tư tưởng tự do thương mại, từ đó dẫn đến sự thịnh vượng của Sài Gòn, khởi nguồn từ tầm vóc của một con người vĩ đại : Chúa Sãi.


Chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên – 1563-1635) để lại nhiều di sản đồ sộ cho dân tộc, trong đó có 3 di sản bất diệt mà hễ ai là người Việt Nam đều không được phép quên : Đem Sài Gòn và Nam bộ về cho Tổ Quốc một cách hòa bình, xác lập và thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa-Trường Sa (cùng các quần đảo khác trên biển Đông) và đặt nền móng đầu tiên cho một nền kinh tế thị trường.


Lâu rồi tôi có đọc ở đâu đó một câu chuyện thú vị về Đào Duy Từ. Xem lịch sử mọi người đều biết Đào Duy Từ xuất thân từ gia đình một “con hát” ở Đàng Ngoài. Do xã hội Đàng Ngoài của chúa Trịnh duy trì những giá trị Nho giáo bảo thủ, trong đó có quan niệm “xướng ca vô loài” nên với cái lý lịch thành phần “con hát”, họ Đào không được thi cử. Với tài năng và chí khí của mình, họ Đào không yên phận, ông đã “vượt biên” vào Nam theo chúa Nguyễn. Đào Duy Từ không chỉ học rộng hiểu nhiều mà còn có tài kinh bang tế thế. Chúa Sãi không những trọng dụng ông mà còn tôn ông làm quân sư, tức là làm thầy mình. Họ Đào đã có công rất lớn giúp chúa Nguyễn mở nước an dân, không có việc gì ông không giỏi. Nhưng có một điều ông không hiểu, không tán thành với Chúa Sãi mà vẫn canh cánh nhiều năm không tiện nói. Đó là việc Chúa Sãi cho tàu buôn nước ngoài tự do đi lại và tỏ ra vô cùng trọng thị các thương nhân (đến mức gả luôn con gái cho một nhà buôn Nhật Bản). Đến cuối đời, ông đã đem tâm sự đó nói ra. Chúa Sãi không trả lời ông mà đưa cho ông xem bảng cân đối ngân sách quốc gia. Nhìn thấy phần lớn ngân sách là từ các khoản thuế thu từ các tàu buôn đó, Đào Duy Từ ngửa mặt lên trời than : “Ta không bằng Chúa Sãi”.


Lê Quý Đôn, người ở “phía bên kia” (Đàng Ngoài), vẫn phải nhận xét : “Đoan quận công (Chúa Sãi) … chính sự khoan hòa, việc gì cũng thường làm ơn cho dân, phép tắc công bằng…; thuyền ngoại quốc đến buôn bán, việc giao dịch phân minh, ai cũng cố gắng, toàn cõi nhân dân an cư lạc nghiệp” (theo Phủ biên tạp lục). Nhân dân mến đức Nguyễn Phúc Nguyên nên gọi ông là Chúa Sãi hay Phật Chúa. Xét trên quan điểm ngày nay, “chính sự khoan hòa”, “phép tắc công bằng” không có gì khác hơn là việc để cho dân tự do làm ăn buôn bán, không lạm thu thuế má, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.


Thời Nguyễn Phúc Nguyên, Hội An đã biến thành thương cảng nổi tiếng thế giới. Trong cuốn sách "Xứ Đàng Trong năm 1621", Christoforo Borri, một giáo sĩ Dòng Tên người Ý đến sống ở nước ta vào thời đó đã nhận xét : “Chúa Đàng Trong không đóng cửa trước một quốc gia nào, ngài để cho tự do và mở cửa cho tất cả người ngoại quốc, người Hà Lan cũng tới như những người khác, cùng với tàu chở rất nhiều hàng hóa của họ” (lời của Borri và Lê Quý Đôn trích từ "Nguyễn Phúc Nguyên : vị chúa của những kỳ công mở cõi đầu thế kỷ 17" - tham luận của gs Nguyễn Quang Ngọc tại Hội thảo Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn, 10-2008). Chuyện lạ lùng, cũng là chuyện vô tiền khoáng hậu trong lịch sử, là Nguyễn Phúc Nguyên đã không áp đặt sự cai trị của mình, ông đã để Nhà nước của ông lùi xa ra để cho các khu phố được tự trị, để họ sống theo tập quán, luật lệ riêng.


Nói lan man chuyện Chúa Sãi để thấy rằng, Việt Nam đã từng thiết lập một xã hội tự do kinh tế từ rất sớm, đầu thế kỷ 17, mặc dù Nhà nước lúc đó không phải là Nhà nước dân chủ. Bởi vậy có thể nói nước ta cũng có truyền thống laissez-faire hàng trăm năm. Qua những cuộc bể dâu của lịch sử, truyền thống đó đã len lỏi, dịch chuyển, chòi đạp để tự bảo tồn và phát triển. “Hòn ngọc viễn đông” Sài Gòn là kết quả của sự phát triển đó.


Ngày xưa Hồng Kông, Singapore, Seoul, Bangkok… “không là gì” đối với Sài Gòn cả, nhưng nay thì Sài Gòn – TPHCM không còn là “Hòn ngọc viễn đông” nữa, nó đã thua xa những nơi đó, đến nỗi người ta tính với tốc độ như hiện nay thì phải mất hàng chục năm chúng ta mới đuổi kịp, thậm chí có người còn tính phải mất …197 năm nữa Việt Nam mới đuổi kịp Singapore (?!). Tôi không tán thành cách tính khập khiểng đó, dù dùng bất cứ tham số nào, cái khoảng cách này chỉ nói lên sự lạc hậu mà các đơn thuốc hiện tại không thể chữa nổi mà thôi.


Dĩ nhiên nếu so sánh nó với chính nó thì quy mô kinh tế của Sài Gòn-TPHCM lớn hơn nhiều lần so với khi nó là “Hòn ngọc viễn đông”. Nhưng sự phát triển đó không có ý nghĩa, vì quá chậm để cho những khu vực từng lạc hậu hơn vượt lên quá xa. Điều này ai cũng hiểu. Sự tụt hậu quá xa đó chỉ có thể nói là do thị trường tự do bị phế bỏ trong một thời gian dài.


Vấn đề là, so với tương quan trong nước, tức là trong cùng một mặt bằng kìm hãm của cơ chế kế hoạch tập trung quan liêu cũng như khi cơ chế này từ từ bị tháo bỏ trong Đổi Mới, Sài Gòn-TPHCM vẫn có sức chòi đạp để "xé rào" và đã bứt phá nhanh hơn, thịnh vượng nhanh hơn. Cái gì làm nên sự bứt phá đó ? Đó chính là truyền thống laissez-faire, truyền thống này đã thành tập quán, tồn tại âm ỉ, không bị thủ tiêu trong gọng kiềm kế hoạch hóa, như những hạt mầm ủ sẵn trong lòng đất, phát quang đến đâu sinh sôi đến đó.


Có thể khẳng định, mức độ thịnh vượng của Sài Gòn – TPHCM kể từ khi Đổi Mới đến nay là kết quả sự trỗi dậy của truyền thống tự do kinh doanh trừ đi phần tiêu hao do sự kìm hãm của quản lý Nhà nước mặc dù đã “đổi mới” song vẫn còn đầy những biện pháp phi thị trường.


Nói chuyện trong nước để trở lại chuyện của thế giới. Theo Alan Greenspan, trong hai thế kỷ qua mặc dù dân số trái đất tăng gấp 6 lần nhưng thu nhập bình quân đầu người vẫn tăng 10 lần, tuổi thọ con người tăng gấp đôi. Đó là kết quả của laissez-faire.


Nhưng cần phân biệt sự khác nhau giữa hai thế kỷ. Thế kỷ 19 gần như thông suốt với laissez-faire. Thế kỷ 20 ách tắc với chiến tranh, kế hoạch hóa và chủ nghĩa can thiệp, tóm lại là ách tắc với “big government” các loại. Nếu bộ máy Nhà nước không phình to ra “đè đầu cưỡi cổ” thị trường thì thế kỷ 20 đã thịnh vượng đến mức nào ? Không ai tính được, và nhân loại không có ý định tính, dĩ nhiên rồi, vì lịch sử không có chữ “nếu”…


(còn tiếp)

Thứ Ba, ngày 12 tháng 5 năm 2009

Ngày này, "năm xưa"...


Ngày này là ngày 12-5. "Năm xưa" là năm ngoái. Đó là ngày nhà báo Nguyễn Việt Chiến của Báo Thanh Niên và nhà báo Nguyễn Văn Hải của báo Tuổi Trẻ bị bắt. Một trường sóng gió đã diễn ra sau đó. 4 người bị thu thẻ. 2 Tổng Biên tập đã "ra đi"...

Chuyện đó (cũng như chuyện anh Hải và anh Chiến lần lượt được thả ra) mọi người đều biết cả rồi. Cái entry này chỉ đánh dấu lại cái ngày cho nhớ thôi chứ không có thông tin gì mới hết, hehe.


Chủ Nhật, ngày 10 tháng 5 năm 2009

Người Mỹ vẫn dị ứng với "Big Government"

Đó là kết quả thăm dò của Viện Gallup về ý kiến của người Mỹ liên quan đến "Big Government". Xem chi tiết tại đây :
Big Gov't. Still Viewed as Greater Threat Than Big Business

Thứ Sáu, ngày 08 tháng 5 năm 2009

110 năm ngày sinh Friedrich Hayek


Hôm nay đúng 110 năm ngày sinh của Friedrich August von Hayek (8.5.1899 - 23.3.1992), người mà Milton Friedman gọi là triết gia tự do vĩ đại nhất của thế kỷ 20.


Cách đây không lâu, Nhà xuất bản Tri Thức, Hà Nội đã ra mắt cuốn sách Đường về nô lệ (The road to serfdom), cuốn sách đầu tiên của Hayek dịch ra tiếng Việt được phát hành ở Việt Nam. Trước đó Nhà xuất bản này cũng đã cho ra mắt hai cuốn viết về ông : Friedrich Hayek : cuộc đời và sự nghiệp (2007); Chủ nghĩa tự do của Hayek (2008).


M. Friedman nói về The road to serfdom


Cuốn sách này đã trở thành tác phẩm kinh điển thực sự : đây là tác phẩm dành cho tất cả những ai quan tâm đến chính trị một cách rộng rãi nhất và ít thiên lệch nhất của từ này, thông điệp chính của nó sẽ sống mãi với thời gian và có thể áp dụng cho vô vàn hoàn cảnh cụ thể khác nhau. Hiện nay trong chừng mực nào đó nó còn liên quan đến Hoa Kỳ nhiều hơn cả khi được công bố lần đầu vào năm 1944 và đã gây chấn động dư luận vào lúc đó.


Gần một phần tư thế kỷ trước (năm 1971) tôi đã viết lời giới thiệu cho lần xuất bản cuốn Đường về nô lệ bằng tiếng Đức nhằm minh họa tính vĩnh cửu của thông điệp mà Hayek đã gửi tới cho chúng ta. Lời giới thiệu đó cũng có thể được áp dụng cho lần xuất bản kỷ niệm năm mươi năm ra đời của tác phẩm kinh điển này của Hayek. Để khỏi phải đạo văn của chính mình, tôi xin trích dẫn toàn bộ bài viết trước khi đưa thêm vào một vài lời bình luận :

....

“Người ta thích tin rằng các tệ nạn xã hội là do những người xấu gây ra còn nếu những người tốt (giống như chúng ta, dĩ nhiên rồi) nắm được quyền lực thì mọi việc sẽ tốt. Quan điểm này chỉ đòi hỏi cảm tính và thói tự mãn, những thứ vừa dễ kiếm vừa dễ thỏa mãn. Để hiểu tại sao những người “tốt” khi có quyền lực lại làm những điều ác trong khi những người bình thường, không có quyền lực, nhưng có khả năng hợp tác một cách tự nguyện với những người xung quanh lại làm được nhiều việc thiện, đòi hỏi phải phân tích và tự duy, đặt cảm tính xuống dưới lý trí...


“Trong thế giới thực tiễn, năm 1945 những ai trong chúng ta từng bị phân tích của Hayek thuyết phục đều chẳng nhìn thấy gì khác hơn là sự phát triển một cách đều đặn vai trò của nhà nước lấn át vai trò của cá nhân, là việc thay thế dần sáng kiến và kế hoạch cá nhân bằng sáng kiến và kế hoạch của nhà nước. Nhưng trên thực tế phong trào này đã chẳng tiến được mấy, cả ở Anh, ở Pháp cũng như ở Mỹ. Còn ở Đức đã diễn ra những phản ứng quyết liệt nhằm thoát khỏi việc kiểm soát thời quốc xã và một bước tiến vượt bậc về phía chính sách tự do trong lĩnh vực kinh tế...”


Trong khi người ta nói về thị trường tự do và quyền tư hữu – hiện nay chuyện này được tôn trọng hơn là việc bảo vệ nền kinh tế ở gần mức laissez-faire cách đây vài thập niên – phần lớn giới trí thức vẫn gần như tự động ủng hộ sự mở rộng quyền lực của chính phủ nếu nó được quảng bá như là biện pháp bảo vệ các cá nhân khỏi bị ảnh hưởng của các công ty lớn xấu xa, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường hay thúc đẩy “bình đẳng”. Cuộc thảo luận về chương trình chăm sóc sức khỏe quốc dân là một thí dụ điển hình. Các nhà trí thức có thể học thuộc lời nhưng không biết hát.


Ngay từ đầu tôi đã nói rằng hiện nay “trong chừng mực nào đó" thông điệp của cuốn sách “còn liên quan đến Hoa Kỳ nhiều hơn cả khi đã gây chấn động dư luận… hơn nửa thế kỷ trước". Giới trí thức lúc đó có thái độ thù địch với chủ đề của cuốn sách hơn là hiện nay, nhưng thực tiễn lúc đó là phù hợp với nó hơn là hiện nay. Chính phủ sau Chiến tranh thế giới II nhỏ hơn và ít chỉ đạo hơn hiện nay. Chương trình Xã hội mở rộng của chính quyền Tổng thống Johnson, bao gồm Chăm sóc y tế và Hỗ trợ y tế, có các đạo luật Không khí trong lành và chương trình Người Mỹ tàn tật của chính quyền Tổng thống Bush vẫn còn ở phía trước, chưa nói đến biết bao vụ bành trướng khác của chính phủ mà Reagan, trong tám năm cầm quyền, chỉ có thể làm chậm lại chứ không thể dảo ngược được. Chi tiêu của chính phủ Mỹ, cả trung ương lẫn địa phương, đã tăng từ 25% tổng sản phẩm quốc dân năm 1950 lên thành 45% vào năm 1993.


Ở Anh tình hình cũng gần như vậy, theo một nghĩa nào đó thì còn kịch tính hơn... Dưới thời Margaret Thacher, đã thành công trong việc giảm thiểu quy mô sở hữu và điều hành chính phủ. Nhưng Thatcher đã không thể kêu gọi sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng cho các giá trị tự do...Và trong khi diễn ra quá trình “tư nhân hóa” nhiều doanh nghiệp nhà nước thì phần thu nhập quốc dân bị chính phủ sử dụng đã tăng lên và chính phủ cũng đưa ra nhiều chỉ thị hơn so với hồi nưm 1950...


MILTON FRIEDMAN

(Nhà kinh tế đoạt giải Nobel 1976. Trích lời giới thiệu cho nhân dịp 50 năm xuất bản The Road to Serfdom)


Hayek nói :


Thế hệ chúng ta có nguy cơ quên rằng các tiêu chuẩn đạo đức nhất định phải gắn bó mật thiết với các hành vi mang tính cá nhân cũng như chúng chỉ có hiệu lực khi cá nhân được tự do quyết định và tự nguyện hy sinh các quyền lợi cá nhân nhằm thực thi các quy tắc đạo đức. Bên ngoài lĩnh vực trách nhiệm cá nhân thì không còn khái niệm tốt xấu nữa, không còn cơ hội thể hiện các giá trị đạo đức cũng chẳng thể chứng minh được niềm tin của mình bằng cách hy sinh ham muốn cá nhân cho những điều mà mình cho là đúng nữa. Chỉ khi chúng ta hoàn toàn chịu trách nhiệm về quyền lợi của mình và được tự do khi hy sinh các quyền lợi đó thì quyết định của chúng ta mới có giá trị đạo đức. Chúng ta sẽ chẳng thể được coi là vị tha khi hy sinh quyền lợi của người khác hoặc chẳng được vinh danh khi trở nên vị tha nếu như ta không có quyền lựa chọn. Những thành viên của một xã hội mà trong bất cứ lĩnh vực nào cũng buộc phải làm điều tốt thì cũng chẳng có gì phải ca ngợi...


Tự do hành động ngay trong lĩnh vực mà hoàn cảnh vật chất buộc chúng ta phải lựa chọn và chịu trách nhiệm khi tổ chức cuộc sống phù hợp với lương tâm của mình chính là những điều kiện cần thiết để ý thức về đạo đức có thể phát triển và những giá trị đạo đức được tái tạo hàng ngày thông qua những quyết định tự do của từng cá nhân. Trách nhiệm không phải trước cấp trên mà trước lương tâm của mình, ý thức về trách nhiệm không phải do cưỡng bức mà có, cốt lõi của việc coi cái gì đó có giá trị là phải dám hy sinh những cái khác, và sẵn sàng chấp nhận hậu quả của những quyết định do mình đưa ra, tất cả những điều đó chính là bản chất của đức hạnh, theo nghĩa đúng nhất của từ này.


Những đức tính tốt như là tự lập, tực lực cánh sinh, sẵn sàng mạo hiểm, sẵn sàng bảo vệ ý kiến của mình dù trái ngược với đa số và tinh thần sẵn sàng hợp tác với tha nhân là những đức tính tối quan trọng của xã hội cá nhân chủ nghĩa thì nay không còn được đánh giá cao và ít được thực hành hơn trước. Chủ nghĩa tập thể không thể thay thế được những đức tính đó và trong khi phá hủy chúng, chủ nghĩa tập thể đã để lại một chân không đạo được được lấp đầy bằng yêu cầu duy nhất là phục tùng và sự cưỡng bức cá nhân phải làm điều mà tập thể quyết định là tốt...


Vì các quy tắc hành xử của cá nhân chính là cội nguồn đức hạnh của các hành động chính trị tập thể, cho nên quả là chuyện lạ nếu tiêu chuẩn đạo đức cá nhân giảm lại đi kèm với sự gia tăng các tiêu chuẩn của hành động xã hội. Những thay đổi to lớn trong lĩnh vực này là rất rõ ràng. Dĩ nhiên các thế hệ sau sẽ coi một số giá trị là cao hơn, một số thấp hơn so với các thế hệ đi trước. Nhưng xin hãy tự hỏi : những mục tiêu nào đang bị coi là thấp và giá trị nào có thể phải hy sinh nếu chúng xung đột với các giá trị khác ? Trong các họa phẩm vẽ về tương lai mà các văn sĩ và diễn giả đưa ra cho chúng ta thì những giá trị nào có vị trí mờ nhạt hơn so với những bức tranh từng hiện diện trong những giấc mơ và niềm hy vọng của cha ông chúng ta ?


Chắc chắn là tiện nghi vật chất, nâng cao mức sống và bảo đảm một vị trí xã hội nhất định không thể chiếm các vị trí thấp trên thang giá trị của chúng ta. Liệu có văn sĩ hay diễn giả nào dám đề nghị quần chúng nhân danh những lý tưởng cao cả mà chấp nhận hy sinh các triển vọng vật chất của họ hay không ? Có phải trên thực tế mọi việc đang diễn ra hoàn toàn ngược lại hay không ? Chẳng phải là càng ngày chúng ta càng được dạy rằng tất cả các giá trị đạo đức như tự do và độc lập, sự thật và tính trung thực tri thức, hòa bình và dân chủ và sự tôn trọng cá nhân như là một con người chứ không phải là thành viên của một tổ chức, đều là “những ngộ nhận của thế kỷ IX” hay sao ?


Những giá trị nào được coi là trụ cột không thể xâm phạm, không một nhà cải cách nào dám động vào vì chúng được coi là những giá trị thiêng liêng trong bất cứ kế hoạch nào cho tương lai ? Đấy không còn là quyền tự do cá nhân, không phải là quyền tự do đi lại và cũng không phải là quyền tự do ngôn luận nữa. Đấy là đặc quyền đặc lợi của nhóm người này hay nhóm người kia, đấy là “quyền” không cung cấp cho những đồng bào của họ những thứ mà những người kia cần. Việc phân biệt đối xử với những thành viên và không phải thành viên của các nhóm khép kín, đấy là chưa nói tới những kiều dân thuộc các quốc gia khác, càng ngày càng được coi là vấn đề đương nhiên. Những bất công do chính phủ gây ra cho các cá nhân khi nó hành động nhằm bảo vệ quyền lợi của một nhóm nào đó bị người ta lờ đi với thái độ bàng quang có thể sánh ngang với sự tàn nhẫn. Những vụ vi phạm trắng trợn quyền cơ bản của con người, thí dụ như ép buộc di dân hàng loạt được ngay cả những người tự nhận là theo trường phái tự do ủng hộ.


Tất cả những điều này chứng tỏ rằng ý thức đạo đức của chúng ta đã cùn mòn đi chứ không phải là sắc bén thêm. Khi chúng ta được nhắc nhở một cách thường xuyên rằng muốn có món trứng rán thì phải đập trứng, nhưng trứng ở đây lại thường là những giá trị mà mới cách đây một hai thế hệ vẫn được coi là cơ sở thiết yếu của đời sống văn minh. Có tội ác nào của chính quyền mà những người gọi là “tự do” của chúng ta khi đã tỏ ra cảm tình với nguyên lý của nó, không sẵn sàng tha thứ ?

...

Có một khía cạnh trong sự biến dịch các giá trị đạo đức, mà sự lấn tới của chủ nghĩa tập thể đã gây ra, rất đáng được suy ngẫm vào lúc này. Đấy là những đức tính càng ngày càng ít được coi trọng và vì vậy càng ngày càng trở thành hiếm hoi hơn, nhưng trước đây các đức tính này từng là niềm tự hào của người Anglo-Saxon và họ cũng được mọi người thừa nhận là xuất sắc về mặt đó. Những đức tính mà các dân tộc này sở hữu là tính độc lập và tự lực cánh sinh, sáng kiến cá nhân và trách nhiệm khu vực, biết dựa vào các hoạt động tình nguyện, không can thiệp vào công việc của tha nhân và khoan dung với những người khác mình cũng như những người kỳ quặc, tôn trọng tập quán và truyền thống, có thái độ nghi ngờ lành mạnh đối với chính quyền và nhà chức trách. Gần như tất cả các truyền thống và thiết chế, trong đó tinh thần đạo đức dân chủ được thể hiện một cách đặc trưng nhất và đến lượt nó, lại hun đúc nên tinh thần dân tộc và toàn bộ bầu không khí đạo đức của nước Anh và nước Mỹ lại đang bị chủ nghĩa tập thể và các xu hướng tập quyền gắn liền với nó phá hủy...


HAYEK (trích chương XIV Đường về nô lệ)


Bài liên quan :

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (1)

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (2)

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (3)

Nhà nước vú em

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (4)

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (5)

Thứ Bảy, ngày 02 tháng 5 năm 2009

Tagore nói :


"You are the big drop of dew under the lotus leaf,
I am the smaller one on its upper side",
said the dewdrop to the lake.

Tagore lại nói :

The stars are not afraid to appear like fireflies.

(Trích từ Stray Birds, Rabindranath Tagore)