Thứ Hai, ngày 29 tháng 6 năm 2009

Một ngày trọng đại


Hôm nay là ngày trọng đại : Chị bán thuôc lá trước cổng báo Thanh Niên cảm động với tấm lòng của con Háu với cún con mấy tháng nay, đã đồng ý để cún con về ở luôn với nhà Háu. Tên của nó là Tuti.

Chuẩn bị cho cuộc đón rước long trọng này, hôm qua, "Người nuôi chó số 1 Sài Gòn" Nguyễn Văn Lãng đã đến coi mắt con Tuti, ông nói : "Nó dòng Doberman". Trời ơi, Doberman danh tiếng lắm, một trong những con Doberman đầu tiên ở Việt Nam hồi xưa là con Doberman của ông Lãng. Nhưng Háu ta thì chỉ cần cái con Tuti này thôi, bất cần biết nó là giống chó gì. Ông Lãng cũng nghĩ vậy, tui cũng nghĩ vậy, chị thuốc lá cũng nghĩ vậy.

Hôm nay ông Lãng hướng dẫn cả nhà đi mua sắm những thứ cần thiết cho Tuti. 5 giờ chiều nó lên xe về nhà.

Trước khi nó lên xe, chị thuốc lá phải vào phía trong cổng báo Thanh Niên tránh mặt. Đôi mắt chị ngấn lệ. Nếu chứng kiến cảnh con chó bước lê xe chắc chị sẽ òa khóc giữa đường. Anh chồng chị giúp đưa Tuti lên xe, đôi mắt cũng đỏ hoe.

Trên đường đi, Tuti nhớ chị thuốc lá, cứ kêu ấm ức. Con Háu dỗ dành suốt trên đường. Về đến nhà, nó bắt đầu chơi thân với chị, chị dắt đi chơi 1 tiếng đồng hồ. Chị bảo tối nay nó sẽ ở trong phòng với chị.

Viết những dòng này, nhớ đến cảnh chị thuốc lá chia tay với Tuti, hai mắt thấy cay xè.

Hôm nay, bắt đầu có một người bạn tin cậy, nghĩ đến Tuti tuyệt đối thấy yên lòng. Dù mình có trở thành đứa khố rách áo ôm thì con chó cũng không bao giờ rời bỏ. Đó là điều chắc chắn, là điều tự nhiên miễn bàn cãi.

Bài liên quan :

Con Háu bỗng dưng thắc mắc
Tôn vinh loài chó

Hai đoạn phim Doberman "giữ em" lấy trên YouTube :





Và đây là những người bạn trung thành của các em nhỏ, cũng lấy trên YouTube :











Thứ Sáu, ngày 26 tháng 6 năm 2009

150 năm không lạm phát

Tiếp theo các phần trước :
"Quỳ hoa bảo điển"
Hòa bình và khoan dung
Chiến sĩ bảo vệ tự do

Như đã đề cập, John Locke (1632-1704), nhà triết học Khai sáng vĩ đại, người “phát kiến” các quyền tự nhiên của con người, người ảnh hưởng sâu đậm nhất đến các nhà lập quốc Hoa Kỳ và bản Hiến pháp Mỹ, đồng thời cũng ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng của bản Hiến pháp lập quốc của Việt Nam năm 1946, đã luận giải thấu đáo về quyền sở hữu trong cuốn sách nổi tiếng “Two Treatises of Government”.

Theo Locke, Thượng đế đã giao trái đất cho Adam, cho Noah và con cháu ông, nghĩa là trao nó cho loài người. Do đó trái đất là sở hữu chung của loài người. Thọat kỳ thủy mọi người được quyền sở hữu tự nhiên đối với tất cả những gì có trên trái đất. Nhưng Thượng để không mang các sản vật trên trái đất đến tận từng căn lều phân phối cho mỗi người. Muốn hưởng thụ thì mỗi người phải biết cách tự lấy nó, bằng bàn tay và trí óc của mình, đó là lao động. Mỗi một thứ tồn tại trong tự nhiên khi được tác động bởi lao động của một người sẽ biến thành của cải của chính người đó, của cải này chỉ là của anh ta thôi, không một ai khác có quyền chiếm dụng. Chính lao động đã tách của cải chung trong tự nhiên ra thành của riêng từng người. Cái này gọi là quyền tư hữu.

Locke nói đây là “quyền tự nhiên” của mỗi người. Giả sử có ai đó bảo quả táo hay con thú anh ta hái hay bắt được (tức là anh ta đem nó về bằng lao động của mình) là của chung, rằng anh ta không có quyền chiếm giữ, muốn chiếm giữ nó anh ta phải được sự đồng ý của toàn thể loài người, thì tình hình sẽ như thế nào ? Locke bảo nếu phải làm như vậy thì loài người đã chết hết từ lâu rồi.

“Quyền tự nhiên” (bao gồm quyền sống, quyền tự do và quyền tư hữu) là thứ mặc định của trời đất, không do người khác ban cho. Đó là “luật tự nhiên”, miễn bàn cãi. Nhà nước, với tư cách là thiết chế do các công dân tự do lập ra, có trách nhiệm bảo vệ các quyền tự nhiên của công dân, không để người này xâm phạm quyền tự nhiên của người kia và đương nhiên bản thân Nhà nước cũng không được phép xâm phạm quyền tự nhiên của mỗi công dân.

Bởi vậy mà Hiến pháp nước Mỹ, vốn thấm nhuần tư tưởng của Locke, không hề có quy định về những “quyền tự nhiên” đó. Đã là “quyền tự nhiên” thì không cần ai ban phát. Hiến pháp Mỹ chỉ quy định những giới hạn của chính quyền nhằm ngăn cấm chính quyền xâm phạm đến những “quyền tự nhiên” đó của người dân.

Điều đáng chú ý là khi đưa ra các quy định cấm chính quyền xâm phạm đến quyền này quyền khác của người dân, Hiến pháp Mỹ liệt kê ra một số quyền liên quan đến những quy định này, nhưng các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã thận trọng ban hành liền theo đó một Tu chính án - Tu chính án thứ 9, nói rõ : “The enumeration in the Constitution, of certain rights, shall not be construed to deny or disparage others retained by the people” (Việc liệt kê một số quyền trong Hiến pháp không có nghĩa là phủ nhận hay hạ thấp những quyền khác của người dân). Đây là một trong 10 Tu chính án thuộc Tuyên ngôn nhân quyền của Hiến pháp Mỹ.

Nói dài dòng nguyên lý trên để trở lại chuyện tiền bạc. Tiền bạc là thứ tài sản thuộc hàng quan trọng nhất của con người. Theo lập luận trên đây thì sở hữu tiền bạc mặc nhiên là “quyền tự nhiên” của người dân, quyền đó không ai được phép xâm phạm.

Và như đã nói ở phần trước, để bảo vệ hữu hiệu quyền sở hữu tiền bạc của người dân, các nhà nước phương tây thế kỷ 19 đã đồng loạt áp dụng một phương thức tối ưu là dùng đồng tiền vàng (bạc) hoặc áp dụng bản vị vàng khi phát hành tiền giấy. Tất nhiên nhà nước còn phải bảo vệ tiền bạc cho người dân bằng việc ngăn chặn, trừng phạt bọn trộm cướp, bọn lừa đảo và quan tham. Nhưng biện pháp làm cho đồng tiền không mất giá trị là quan trọng nhất. Đó là một trong những biện pháp tối quan trọng mà Nhà nước phải làm để bảo vệ tự do cho công dân. Đạo lý căn bản đó đã bị các “bảo điển” của các học thuyết kinh tế chính thống của thế kỷ 20 dìm trong quên lãng.

Trở lại giai đoạn lịch sử liên quan của nước Mỹ. Tổng thống Mỹ Thomas Jefferson coi Ngân hàng trung ương nguy hiểm hơn kẻ thù. Còn Tổng thống Mỹ Andrew Jackson thì thề quyết tử với Ngân hàng trung ương, ông căm thù nó đến mức trước khi chết còn đề nghị ghi trên mộ ông một dòng chữ “I killed the Bank” (Tôi đã giết chết ngân hàng). Đừng vội quy kết hai vị tiền bối này là bảo thủ, hai vị căm thù ngân hàng trung ương là căm thù “chức năng” tạo ra tiền từ không khí và tước đoạt tài sản của người dân bằng việc tạo ra lạm phát.

Như đã nói ở phần trước, Tổng thống Andrew Jackson sau khi phủ quyết đạo luật gia hạn thời gian hoạt động của Ngân hàng Hoa Kỳ, rồi ra lệnh rút toàn bộ tiền gửi của chính phủ liên bang ra khỏi ngân hàng này, ông đã phải trả giá một lần nữa. Để trả thù hành động của tổng thống, các thế lực tài phiệt quốc tế trong Ngân hàng Hoa kỳ đã đột ngột thu hồi các khoản cho vay và thu hẹp tín dụng, rút tiền kim loại ra khỏi nước Mỹ, châm ngòi cho cuộc suy thoái kinh tế trên toàn quốc từ năm 1837.

Quốc hội và dân chúng coi Jackson là thủ phạm gây ra nỗi thống khổ của người dân. Một Nghị quyết của Thượng viện khiển trách tổng thống được thông qua và Andrew Jackson là tổng thống Mỹ đầu tiên bị Quốc hội khiển trách. Nhưng cuối cùng lẽ phải đã chiến thắng khi những người trong cuộc đã lên tiếng trước công chúng về âm mưu của Ngân hàng, khiến Thượng viện phải ra Nghị quyết rút lại việc khiển trách tổng thống. Ngân hàng Hoa Kỳ chấm dứt hoạt động đúng thời hạn vào năm 1836. Nhiều mưu toan tái lập sau đó đã bị thất bại. Các tổng thống Martin Van Buren, Willam Henry Harrison, John Tyler đều từ chối việc tái lập Ngân hàng trung ương; riêng John Tyler vì phủ quyết việc tái lập ngân hàng này mà bị Đảng Whig của ông khai trừ ra khỏi Đảng khi ông đang làm tổng thống.

May mắn là vào năm 1848, việc phát hiện một số mỏ vàng lớn đã giúp nước Mỹ thoát khỏi sự khống chế của các thế lực tài phiệt và thoát khỏi khủng hoảng. Kinh tế Mỹ bước vào một thời kỳ hoàng kim, đủ sức mạnh để vượt qua một cách dễ dàng một cuộc suy thoái nữa- cuộc suy thoái năm 1857.

Cho đến cuộc nội chiến 1861-1865, một cuộc chiến tranh tàn khốc nhất trong lịch sử nước Mỹ. Muốn tiến hành chiến tranh thì phải có tiền, muốn có tiền thì hoặc là tăng thuế, hoặc phải vay tiền. Tăng thuế thì vi phạm Hiến pháp. Còn vay tiền thì lúc này Ngân hàng trung ương đã cáo chung, các ngân hàng “địa phương” thì không có khả năng đáp ứng, muốn vay thì phải vay ngân hàng nước ngoài với lãi suất cắt cổ. Tổng thống Lincoln đã chọn con đường khác : ra một Pháp lệnh (do Quốc Hội ban hành năm 1862) giao cho Bộ Tài chính tự phát hành tiền để khỏi phụ thuộc vào vay mượn hay thuế khóa. Đó là đồng “tiền xanh” (greenback). Tuy nhiên, việc phát hành tiền pháp định greenback vẫn không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của chiến tranh, nên Lincoln buộc phải nhường bước các nhà tài phiệt, tái lập ngân hàng trung ương, dưới cái tên mới “National Bank”, với bản Hiến chương có nhiều sửa đổi. Ngân hàng này đảm nhiệm việc phát hành tiền tệ được giới hạn bằng các trái phiếu của Chính phủ, tức là biến nợ Chính phủ thành tiền. Song, do nguồn vàng dự trữ lớn, suốt 4 năm chiến tranh lạm phát ở miền Bắc chỉ ở mức gấp đôi, trong khi ở miền Nam các máy in tiền “chạy hết công suất” và có rất ít vàng nên lạm phát lên đến … 9100%.

Nhưng sau chiến tranh, Quốc hội đã thu hồi tiền pháp định, khôi phục lại chế độ bản vị vàng. Từ đó cho đến trước chiến tranh thế giới thứ nhất, tuy các thế lực tài phiệt thông qua National Bank tiếp tục dùng trò phù thủy tiền tệ gây ra một số cuộc suy thoái kinh tế vào các năm 1873, 1893 và 1907, song những cuộc suy thoái đó không cản được con đường thịnh vượng của nước Mỹ.

Nói chung, nợ nần và lạm phát của nước Mỹ suốt thế kỷ 19 đến trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất là không đáng kể. Những nỗ lực phi thường của các vị tiền bối trong việc bảo vệ tự do cho người dân đã kéo theo một thành quả 150 năm không lạm phát.

Nhìn biểu đồ biến động giá tiêu dùng của nước Mỹ ở đầu bài có thể thấy : từ năm 1800, tuy lạm phát có gia tăng vào thời gian chiến tranh 1812 và nội chiến 1861-1865, nhưng mức giá vào năm 1913 vẫn thấp hơn mức giá của 1800. Một thời gian sau khi xóa bỏ bản vị vàng vào năm 1933, do hậu quả của nó, giá cả bắt đầu tthăng thiên từ năm 1971 khi đồng đô la hoàn toàn thoát khỏi vàng cùng với sự cáo chung của hệ thống Bretton Woods. Đó là sự thật lịch sử.

(lúc nào rảnh viết tiếp)

Những bài liên quan :
Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu


Chủ Nhật, ngày 21 tháng 6 năm 2009

Những "nỗ lực" làm nhỏ đất nước


Ngày này năm ngoái, sau khi bị cách chức Tổng thư ký tòa soạn báo Thanh Niên, tôi "bất ngờ" được tặng Giải báo chí quốc gia (giải B) cho loạt bài EURO 2 VÀ CHẤT LƯỢNG XĂNG DẦU : NHỮNG "NỖ LỰC" LÀM NHỎ ĐẤT NƯỚC. Sau khi được giải thưởng này mới bị thu thẻ nhà báo.

Nay đọc lại loạt bài vẫn thấy còn tính thời sự.

Kỳ 1 : Xăng dầu bẩn vẫn tràn ngập bất chấp quyết định của Thủ tướng
Kỳ 2 : Bộ Thương mại ráo riết bảo vệ lợi ích cho ai ?
Kỳ 3 : Chẳng lẽ Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng lọc được dầu ?
Kỳ 4 : Những tác hại và rắc rối nghiêm trọng

Ý kiến và phản hồi :

Không được đem xăng dầu bẩn về đầu độc bầu không khí nước nhà
Bộ trưởng Thương mại nói gì về chất lượng xăng dầu ?

Viết tiếp sau khi có phản hồi của Bộ Thương mại :

Gửi Bộ trưởng Trương Đình Tuyển
Bộ Thương mại làm sao che giấu được sự thật ?

New York Times có đề cập đến lọat bài này (xem tại đây)

Cuối cùng, Bộ Công thương đã phải ... (xem tại đây)

Sau đó, các cửa hàng xăng dầu đã ghi hàm lượng lưu huỳnh riêng biệt cho từng loại theo đúng tiêu chuẩn mới. Tuy nhiên, chất lượng thực sự của xăng dầu nhập khẩu được bày bán có đúng với tiêu chuẩn ghi trên bảng hay không thì chỉ có Tổng Công ty Xăng dầu, Bộ Công thương và Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng biết, vì không có bất cứ cuộc kiểm tra nào được tiến hành, ít nhất là không có bất cứ thông tin nào cho thấy đã có một cuộc kiểm tra như vậy.

Thứ Bảy, ngày 20 tháng 6 năm 2009

"Như chưa hề có cuộc chia ly" số 19

Update : Xem chương trình tại đây


Tính đến nay, "Như chưa hề có cuộc chia ly" đã tìm kiếm được 113 trường hợp, tăng thêm 7 trường hợp so với lần phát sóng trước. 113 cuộc đoàn tụ, đó là niềm hạnh phúc tột đỉnh của hàng ngàn người là cha mẹ, con cái, anh em, bè bạn của những người thất lạc. Và hàng triệu người xem truyền hình đã rơi nước mắt, không phải là những giọt nước mắt bi thương mà là những giọt nước mắt trong trẻo, những giọt nước mắt khiến cho con người gần gũi nhau hơn. Tôi chắc rằng những giọt nước mắt này sẽ xóa bớt đi những lý do chia cắt.


Tất cả những ai khóc được trước nỗi đau và hạnh phúc của người khác đều là những người đáng tin cậy. Như vậy là những người đáng tin cậy trên đời này nhiều lắm. Và tôi khuyên bạn điều này : Nếu như bạn không may gặp 100 người mà cả 100 người đều là người xấu, thì bạn hãy tin rằng người 101 mà bạn gặp sẽ là một người tốt.


Lúc 20 giờ tối nay, “Như chưa hề có cuộc chia ly” lần thứ 19 sẽ truyền hình trực tiếp trên VTV1, VTV4 và VTV9. Những ai theo dõi câu chuyện về “Hồ sơ đường 7” sẽ chứng kiến nhiều điều bất ngờ. “Hồ sơ đường 7” là hồ sơ về những đứa trẻ bị thất lạc trong cuộc tháo chạy hỗn loạn vào những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam trên đường 7 (nối từ Azunpa của Gia Lai đến Tuy Hòa, nay là đường 25) 34 năm trước. Không thể biết có bao nhiêu đứa trẻ đã thất lạc tại nơi này trong những ngày đó, chỉ biết rằng đến hôm nay đây là tập hồ sơ dày nhất mà “Như chưa hề có cuộc chia ly” tập hợp được, với hơn 111 hồ sơ đăng ký, trong đó có những người cha người mẹ tìm con và những người con tìm cha mẹ trong suốt 34 năm vô vọng.


Trong chương trình trước, đã có 1 trường hợp của “Hồ sơ đường 7” được đoàn tụ. Vừa rồi con Háu cùng với đội tìm kiếm đã trở lại đường 7 và đã tìm thêm được 3 trường hợp nữa. Tối nay trên truyền hình, khán giả sẽ chứng kiến cảnh họ gặp nhau.


Xem tất cả các chương trình đã phát sóng

Chủ Nhật, ngày 14 tháng 6 năm 2009

"Quỳ hoa bảo điển"

Tiếp theo 2 phần trước :  
Hòa bình và khoan dung
Chiến sĩ bảo vệ tự do

I believe that banking instutions are more dangerous to our liberties than standing armies
THOMAS JEFFERSON,tác giả bản Tuyên ngôn Độc lập,thổng thống thứ 3 của Hoa Kỳ

Ai đọc Tiếu ngạo giang hồ của Kim Dung đều biết “Quỳ hoa bảo điển” (và biến thái của nó là “Tịch tà kiếm phổ”) là một bí kíp võ công siêu phàm kỳ dị, nếu luyện được có thể làm những chuyện kinh thiên động địa, trở thành thiên hạ vô địch. Nhưng muốn luyện được nó, phải trả một cái giá ngặt nghèo : tự cung (tự thiến mình). Nó là sản phẩm của các kỳ nhân say mê võ học, những người này biết nó sẽ đem đại họa cho giang hồ nên cẩn thận giấu kín không cho ai biết. Nhưng mọi chuyện trên đời hễ cái gì quý hiếm thì dù giấu kín đến đâu, chỉ cần có tin tức mong manh, thiên hạ sẽ biết cách tìm ra.Cuối cùng trên giang hồ cũng có 3 người luyện được. Đó là Đông Phương Bất Bại, Nhạc Bất Quần và Lâm Bình Chi. Nhạc Bất Quần tham vọng quyền lực vô biên che giấu dưới cái vỏ quân tử, là kẻ nguy hiểm nhất. Đông Phương Bất Bại cũng tham vọng quyền lực nhưng không ngụy quân tử, nên ít nguy hiểm hơn. Còn Lâm Bình Chi, vì trả thù cho cha mẹ, nên tuy “bảo điển” biến anh ta thành người xấu nhưng là kẻ đáng thương.Đem câu chuyện này liên hệ với những vấn đề về lịch sử và kinh tế quả là khiên cưỡng. Nhưng xin các bạn học rộng tài cao thứ lỗi, tôi chỉ mượn cái tứ của nó để dẫn chuyện thôi. Quỳ hoa bảo điển, cũng như công nghệ hạch tâm, vốn là sản phẩm của tri thức. Nó không chính không tà. Tà hay chính là do người sử dụng.

Trở lại câu chuyện vàng. Hiến pháp Hoa Kỳ tuy có 2 khoản thể hiện việc cấm nhà cầm quyền in tiền giấy, nhưng điều 1, mục 8, khoản 1 lại giao quyền cho Quốc hội : “Vay tiền tín dụng cho Hoa Kỳ” (to borrow money on the credit of the United State). Điều khoản này chính là “gót chân Achilles” trong Hiến pháp Mỹ. Như đã nói, Hiến pháp không cho phép Quốc hội in và phát hành tiền giấy, nhưng Hiến pháp lại không có điều khoản nào cấm ngân hàng làm chuyện này. Đó là chỗ sơ hở để nhà cầm quyền có thể lợi dụng phát hành tiền giấy thông qua ngân hàng, dưới hình thức hợp hiến là vay tiền.
Hiến pháp cũng không đề cập đến việc có cho phép lập Ngân hàng trung ương hay không, nên mới có cuộc đấu tranh gay gắt diễn ra giữa các chính trị gia về vấn đề này. Kết quả cuối cùng là một quyết định thỏa hiệp, theo đó Ngân hàng trung ương với tên gọi là Ngân hàng Hoa Kỳ (the Bank of the United State) được thành lập vào năm 1791, giới hạn thời gian hoạt động là 22 năm, mặc dù tác giả bản Tuyên ngôn độc lập – Thomas Jefferson là một trong những người phản đối quyết liệt.Với những gì đã diễn ra trong lịch sử, có thể nói sự thỏa hiệp này là mầm mống của “bom tấn” trong thế kỷ 19 và biến thành “bom hạt nhân” dội vào thế kỷ 20.Ngân hàng Hoa Kỳ thực chất là một “công ty cổ phần”, vốn Chính phủ chỉ có một phần nhỏ, phần lớn là của các nhà đầu tư do các thế lực tài phiệt khống chế. Mặc dù Quốc hội yêu cầu Ngân hàng Hoa Kỳ phải có vàng và bạc để bảo đảm các khoản tiền gửi, nhưng do sự lắt léo trong bản Hiến chương nên yêu cầu này không khả thi và thực tế không được tuân thủ. Từ đây, nhiệm vụ thực chất chủ yếu của Ngân hàng Hoa Kỳ là phát hành tiền cho Chính phủ, nó nhận các phiếu nợ (của Chính phủ) rồi tung tiền ra cho Chính phủ tiêu xài, một công việc gần giống như FED ngày nay, tuy còn sơ khai. Cũng từ đây, Chính phủ Mỹ bắt đầu lâm vào cảnh nợ nần. Lạm phát chấm dứt từ khi có Hiến pháp, lúc này do lượng tiền bơm vào lưu thông quá nhiều so với mức bảo đảm bằng vàng, mà bảo đảm từ những phiếu nợ của Chính phủ, nên lạm phát chóng mặt.

Thomas Jeferrson là người kiên quyết không chịu sống chung với nợ. Là một vĩ nhân của nước Mỹ và là người theo chủ nghĩa tự do lớn nhất của thế kỷ 19, ông là một trong số hiếm hoi các nhà chính trị không “tư duy theo nhiệm kỳ”, ông rất sòng phẳng với tương lai. Ông cho rằng mỗi một thế hệ là một dân tộc riêng biệt, thế hệ này không được quyền để thế hệ sau kế thừa di sản nợ nần (xem các trích dẫn lời Thomas Jefferson ở cuối bài).
Cần biết, chủ nghĩa tự do - liberalism thế kỷ 19 hoàn toàn khác với liberalism nghĩa Mỹ bây giờ, từ liberalism đã bị F.D. Roosevelt cưỡng đọat và ngày nay người Mỹ dùng nó để gọi chủ nghĩa can thiệp.

Năm 1801, Jefferson trúng cử Tổng thống. Một trong những quyết tâm của ông là phế bỏ Ngân hàng Hoa Kỳ, nhưng điều đó không dễ và trong suốt hai nhiệm kỳ làm tổng thống (1801 – 1809), con người vĩ đại này vẫn không làm được. Mãi đến khi Ngân hàng Hoa Kỳ hết thời hạn hoạt động (1811), lại diễn ra một cuộc chiến cam go. Hạ viện và Thượng viện đều chia thành hai phe nghiêng ngửa, một bên muốn gia hạn hoạt động cho ngân hàng này, một bên muốn loại bỏ nó. Sau những tranh cãi nảy lửa, các chính trị gia ủng hộ quan điểm của Jefferson thắng sát nút 1 phiếu trong Hạ viện và nhờ lá phiếu phủ quyết của Phó Tổng thống trong Thượng viện, Quốc Hội thông qua quyết định đóng cửa Ngân hàng Hoa Kỳ, bất chấp những lời đe dọa của các thế lực tài phiệt đang khống chế nền tài chính Mỹ và thế giới.


Và nước Mỹ đã phải trả giá, trả giá bằng máu hẳn hoi. Không phải ngẫu nhiên mà chỉ mấy tháng sau khi giải tán Ngân hàng Hoa Kỳ, một cuộc chiến tranh đã nổ ra : chiến tranh Anh – Mỹ năm 1812. Các sử gia cho rằng đây là cuộc chiến tranh lạ lùng và vô nghĩa nhất trong lịch sử thế giới. Nguyên nhân chính được biết đến là việc nước Anh đặt ra luật lệ ngăn cản Hoa Kỳ quan hệ buôn bán với Pháp trong khi Anh và Pháp đánh nhau, kế đó Anh bắt giữ các tàu Mỹ trên đường đến Pháp và buộc các thủy thủ của các tàu này phục vụ cho Hải quân Anh đánh với Napoleon. Nhưng sự thật là trước khi xảy ra cuộc chiến, nước Anh đã bãi bỏ luật lệ ngăn cản buôn bán và bỏ việc bắt các thủy thủ Mỹ tham gia Hải quân Anh, có nghĩa là nguyên nhân của chiến tranh đã bị loại. Thế nhưng chiến tranh vẫn cứ nổ ra. Có người bảo vì lúc đó chưa có điện tín nên quyết định của Anh đã không thông báo kịp cho Mỹ, nhưng lập luận này không có sức thuyết phục. Điều lạ lùng nữa là, khi kết thúc cuộc chiến (sau gần 3 năm) hai bên đều tuyên bố chiến thắng và Hiệp ước hòa bình cũng không đả động gì đến nguyên nhân chiến tranh. Nhiều nghiên cứu sau này chỉ ra rằng cuộc chiến có nguyên nhân sâu xa từ việc giải thể Ngân hàng Hoa Kỳ, là mưu đồ thâm độc của các nhà tài phiệt nhằm cảnh cáo nước Mỹ.


Cần biết nước Mỹ được xây dựng trên nền tảng tự do, trung lập và hòa bình. Những tư tưởng này không chỉ thể hiện ở những tuyên bố mà nằm ngay trong Hiến pháp và các định chế quốc gia. Ngay cả việc trả nợ, Hiến pháp cũng ghi một cách tử tế là phải trả bằng đồng tiền vàng và bạc, tức là không chỉ không cho phép xù nợ mà còn không cho phép dùng ma thuật bớt xén. Những giá trị nói trên về căn bản được duy trì suốt thế kỷ 19, chiến tranh 1812 là một ngoại lệ.


Chiến tranh đã khiến cho nợ nần của nước Mỹ chất cao như núi, đó là mục đích của các nhà tài phiệt. Dưới bản vị vàng, muốn tiến hành chiến tranh phải tăng mạnh thuế má. Nhưng cuộc chiến này không được người dân ủng hộ, việc tăng thuế là không thể. Lúc này Ngân hàng Hoa Kỳ đã giải thể. Chính phủ buộc phải phát hành trái phiếu chiến tranh thông qua các ngân hàng “địa phương”. Trong gần 3 năm chiến tranh, nợ quốc gia tăng gần 3 lần, lạm phát cũng lên tương ứng. Hậu quả là nước Mỹ phải đầu hàng các nhà tài phiệt bằng việc tái lập Ngân hàng Hoa Kỳ vào năm 1816 với thời hạn hoạt động 20 năm. Từ đây, Ngân hàng trung ương bắt đầu dùng trò phù thủy khi thì nới lỏng khi thì thắt chặt việc bơm tiền để tạo ra các chu kỳ kinh tế theo ý muốn của các thế lực tài phiệt. Sự can thiệp của Chính phủ và sự lũng đoạn của các thế lực tài phiệt dẫn đến chu kỳ bùng nổ - phá sản đầu tiên được biết đến ở nước Mỹ.


Tuy nhiên, lực lượng ủng hộ Jefferson còn khá mạnh trong chính giới Hoa Kỳ, người kiên định nhất là Andrew Jackson, trúng cử tổng thống vào năm 1828. (Xin mở ngoặc nói thêm một chút về nhân vật này. Jackson là tổng thống Mỹ đầu tiên đặt vấn đề quan hệ với Việt Nam bằng việc gửi một bức thư cho vua Minh Mạng năm 1832 với lời lẽ chân thành hòa hiếu, năm 1836 ông lại gửi một phái đoàn sang Việt Nam với mong muốn ký một hiệp ước thương mại. Tiếc rằng mong muốn đó đã không thành, không phải do vua Minh Mạng, mà do đám quần thần quan liêu ngăn cản). Sauk hi trúng cử tổng thống, Jackson lao vào cuộc chiến đấu cam go. Ông chưa thể giải tán Ngân hàng Hoa Kỳ do thời gian họat động theo luật định của nó chưa hết, nhưng ông bắt đầu “sát thương” nó bằng cách sa thải 2000 “cán bộ công nhân viên” làm việc cho Chính phủ liên bang có liên quan đến Ngân hàng này (cần biết bộ máy Chính phủ liên bang hồi đó rất bé, chỉ khoảng 11 ngàn nhân viên).


Các nhà tài phiệt biết rõ mục đích của Jackson, nên họ tấn công trước. Theo luật, thời hạn hoạt động 20 năm của Ngân hàng Hoa Kỳ sẽ chấm dứt vào năm 1836, tức là chấm dứt trong nhiệm kỳ thứ 2 của Jackson nếu ông tái cử tổng thống, thời điểm đó không hy vọng được Jackson đồng ý gia hạn. Bởi vậy họ rat ay trước, phải tìm cách thông qua một đạo luật kéo dài thời gian họat động của Ngân hàng trước khị Jackson bước vào nhiệm kỳ 2. Thời điểm lý tưởng là năm 1832, lúc Jackson sắp hết nhiệm kỳ thứ nhất, bước vào tranh cử nhiệm kỳ 2. Đây là thời điểm nếu được Quốc Hội thông qua thì Jackson rất khó phủ quyết, vì nếu phủ quyết thì coi như ông chống lại Quốc Hội và gián tiếp chống lại cử tri, do đó rất khó mà tái cử. Đúng như kịch bản, Quốc Hội đã thông qua dự
luật. Nhưng Jackson là người đầy bản lĩnh, ông đã phủ quyết đạo luật, bất chấp tất cả. Tất nhiên phủ quyết dự luật này chưa thể cáo chung được Ngân hàng Hoa Kỳ. Và ngoài dự tính của các nhà tài phiệt, Jackson đã tái cử. Ông thề : “Còn Ngân hàng thì không có Jackson, có Jackson thì không có Ngân hàng”.Ngay sau khi tái cử Tổng thống, Jackson không đợi đến thời hạn chấm dứt hoạt động của Ngân hàng, ông tiếp tục tấn công nó bằng đòn chí mạng qua một quyết định vô tiền khoáng hậu : Ra lệnh cho Bộ trưởng Tài chính rút toàn bộ tiền gửi của Chính phủ liên bang ra khỏi Ngân hàng Hoa Kỳ, mang tiền đó đem gửi ở các ngân hàng địa phương (các bang). Bộ trưởng tài chính khi ấy không tán thành quan điểm của Jackson, ông ta kháng lệnh nhưng không từ chức. Jackson không hề do dự và không cần thông qua các thủ tục của Hiến pháp, “đình chỉ công tác” Bộ trưởng Tài chính và chuyển toàn bộ tiền gửi ra khỏi Ngân hàng Hoa Kỳ.

Kết quả là đến đầu năm 1835, nước Mỹ đã trả xong tất cả các món nợ quốc gia, hơn nữa ngân sách liên bang còn thặng dư mà không cần vay mượn. Đây là lần duy nhất nước Mỹ không chung sống với nợ nần.
Vì bảo vệ nền tự do cho nước Mỹ, Jackson đã phải trả giá. Cũng trong năm 1835, khi đến dự đám tang một nghị sĩ, ông bị ám sát. Andrew Jackson là tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên bị ám sát, nhưng ông đã may mắn thoát chết trong đường tơ kẻ tóc nhờ ngẫu nhiên những viên đạn bắn ông bị lép. Nguyên nhân và kẻ chủ mưu thực sự của tất các các vụ ám sát tổng thống Mỹ trong lịch sử đều được thông tin một cách mù mờ, chưa có trường hợp nào được xác định rõ đến nơi đến chốn. Trong trường hợp của Jackson, có 3 “đường link” : ông thề quyết tử với các thế lực tài phiệt lũng đoạn nước Mỹ; việc rút toàn bộ tiền gửi liêng bang ra khỏi Ngân hàng Hoa Kỳ; và năm 1836 (tức 1 năm sau vụ ám sát) Ngân hàng Hoa Kỳ phải chấm dứt hoạt động. Nhưng cái giá mà Jackson phải trả chưa dừng lại ở đó.
Món “Quỳ hoa bảo điển” đến lúc này mới đang manh nha chưa ghi thành bí kíp.


(lúc nào rảnh viết tiếp)

______________________

Tham khảo :

THOMAS JEFFERSON NÓI VỀ NỢ NẦN VÀ TIỀN BẠC


"I sincerely believe... that the principle of spending money to be paid by posterity under the name of funding is but swindling futurity on a large scale." --Thomas Jefferson to John Taylor, 1816. ME 15:23
"[With the decline of society] begins, indeed, the bellum omnium in omnia [war of all against all], which some philosophers observing to be so general in this world, have mistaken it for the natural, instead of the abusive state of man. And the fore horse of this frightful team is public debt. Taxation follows that, and in its train wretchedness and oppression." --Thomas Jefferson to Samuel Kercheval, 1816. ME 15:40
The Nation's Credit

"Though much an enemy to the system of borrowing, yet I feel strongly the necessity of preserving the power to borrow. Without this, we might be overwhelmed by another nation, merely by the force of its credit." --Thomas Jefferson to the Commissioners of the Treasury, 1788. ME 6:423"I am anxious about everything which may affect our credit. My wish would be, to possess it in the highest degree, but to use it little. Were we without credit, we might be crushed by a nation of much inferior resources, but possessing higher credit." --Thomas Jefferson to George Washington, 1788. ME 6:453"Though I am an enemy to the using our credit but under absolute necessity, yet the possessing a good credit I consider as indispensable in the present system of carrying on war. The existence of a nation having no credit is always precarious." --Thomas Jefferson to James Madison, 1788. ME 6:455"I wish it were possible to obtain a single amendment to our Constitution. I would be willing to depend on that alone for the reduction of the administration of our government; I mean an additional article taking from the Federal Government the power of borrowing. I now deny their power of making paper money or anything else a legal tender. I know that to pay all proper expenses within the year would, in case of war, be hard on us. But not so hard as ten wars instead of one. For wars could be reduced in that proportion; besides that the State governments would be free to lend their credit in borrowing quotas." --Thomas Jefferson to John Taylor, 1798. ME 10:64

The Limits on Contracting Debt

"The term of redemption must be moderate, and at any rate within the limits of [the government's] rightful powers. But what limits, it will be asked, does this prescribe to their powers? What is to hinder them from creating a perpetual debt? The laws of nature, I answer. The earth belongs to the living, not to the dead. The will and the power of man expire with his life, by nature's law." --Thomas Jefferson to John Wayles Eppes, 1813. ME 13:169
"We acknowledge that our children are born free; that that freedom is the gift of nature, and not of him who begot them; that though under our care during infancy, and therefore of necessity under a duly tempered authority, that care is confided to us to be exercised for the preservation and good of the child only; and his labors during youth are given as a retribution for the charges of infancy. As he was never the property of his father, so when adult he is sui juris, entitled himself to the use of his own limbs and the fruits of his own exertions: so far we are advanced, without mind enough, it seems, to take the whole step." --Thomas Jefferson to John Wayles Eppes, 1813. ME 13:357"Then I say, the earth belongs to each of these generations during its course, fully and in its own right. The second generation receives it clear of the debts and incumbrances of the first, the third of the second, and so on. For if the first could charge it with a debt, then the earth would belong to the dead and not to the living generation. Then, no generation can contract debts greater than may be paid during the course of its own existence." --Thomas Jefferson to James Madison, 1789. ME 7:455, Papers 15:393"[Using], for instance, the table of M. de Buffon, [it can be determined that] the half of those of 21 years and upwards living at any one instant of time will be dead in 18 years, 8 months, or say 19 years as the nearest integral number. Then 19 years is the term beyond which neither the representatives of a nation nor even the whole nation itself assembled can validly extend a debt... With respect to future debts, would it not be wise and just for [a] nation to declare in [its] constitution that neither the legislature nor the nation itself can validly contract more debt than they may pay within their own age, or within the term of 19 years? And that all future contracts shall be deemed void as to what shall remain unpaid at the end of 19 years from their date?" --Thomas Jefferson to James Madison, 1789. Papers 15:394

"The conclusion then, is, that neither the representatives of a nation, nor the whole nation itself assembled, can validly engage debts beyond what they may pay in their own time." --Thomas Jefferson to James Madison, 1789. ME 7:457, Papers 15:398n
"I suppose that the received opinion, that the public debts of one generation devolve on the next, has been suggested by our seeing, habitually, in private life, that he who succeeds to lands is required to pay the debts of his predecessor; without considering that this requisition is municipal only, not moral, flowing from the will of the society, which has found it convenient to appropriate the lands of a decedent on the condition of a payment of his debts; but that between society and society, or generation and generation, there is no municipal obligation, no umpire but the law of nature." --Thomas Jefferson to James Madison, 1789. ME 7:458, Papers 15:395"Funding I consider as limited, rightfully, to a redemption of the debt within the lives of a majority of the generation contracting it; every generation coming equally, by the laws of the Creator of the world, to the free possession of the earth He made for their subsistence, unincumbered by their predecessors, who, like them, were but tenants for life." --Thomas Jefferson to John Taylor, 1816. ME 15:18"[The natural right to be free of the debts of a previous generation is] a salutary curb on the spirit of war and indebtment, which, since the modern theory of the perpetuation of debt, has drenched the earth with blood, and crushed its inhabitants under burdens ever accumulating." --Thomas Jefferson to John Wayles Eppes, 1813. ME 13:272
Saddling Posterity with Debt

"We believe--or we act as if we believed--that although an individual father cannot alienate the labor of his son, the aggregate body of fathers may alienate the labor of all their sons, of their posterity, in the aggregate, and oblige them to pay for all the enterprises, just or unjust, profitable or ruinous, into which our vices, our passions or our personal interests may lead us. But I trust that this proposition needs only to be looked at by an American to be seen in its true point of view, and that we shall all consider ourselves unauthorized to saddle posterity with our debts, and morally bound to pay them ourselves; and consequently within what may be deemed the period of a generation, or the life of the majority." --Thomas Jefferson to John Wayles Eppes, 1813. ME 13:357"It is incumbent on every generation to pay its own debts as it goes. A principle which if acted on would save one-half the wars of the world." --Thomas Jefferson to A. L. C. Destutt de Tracy, 1820. FE 10:175

"Ought not then the right of each successive generation to be guaranteed against the dissipations and corruptions of those preceding, by a fundamental provision in our Constitution? And if that has not been made, does it exist the less, there being between generation and generation as between nation and nation no other law than that of nature? And is it the less dishonest to do what is wrong because not expressly prohibited by written law? Let us hope our moral principles are not yet in that stage of degeneracy, and that in instituting the system of finance to be hereafter pursued we shall adopt the only safe, the only lawful and honest one, of borrowing on such short terms of reimbursement of interest and principal as will fall within the accomplishment of our own lives." --Thomas Jefferson to John Wayles Eppes, 1813. ME 13:360

A Tax for Every Debt

"It is a wise rule and should be fundamental in a government disposed to cherish its credit and at the same time to restrain the use of it within the limits of its faculties, "never to borrow a dollar without laying a tax in the same instant for paying the interest annually and the principal within a given term; and to consider that tax as pledged to the creditors on the public faith." On such a pledge as this, sacredly observed, a government may always command, on a reasonable interest, all the lendable money of their citizens, while the necessity of an equivalent tax is a salutary warning to them and their constituents against oppressions, bankruptcy, and its inevitable consequence, revolution." --Thomas Jefferson to John Wayles Eppes, 1813. ME 13:269 "Our government has not as yet begun to act on the rule of loans and taxation going hand in hand. Had any loan taken place in my time, I should have strongly urged a redeeming tax." --Thomas Jefferson to John Wayles Eppes, 1813. ME 13:273"Of the modes which are within the limits of right, that of raising within the year its whole expenses by taxation, might be beyond the abilities of our citizens to bear. It is, moreover, generally desirable that the public contributions should be as uniform as practicable from year to year, that our habits of industry and of expense may become adapted to them; and that they may be duly digested and incorporated with our annual economy." --Thomas Jefferson to John Wayles Eppes, 1813. ME 13:359"We should now set the example of appropriating some particular tax [for loans made] sufficient to pay the interest annually and the principal within a fixed term, less than nineteen years." --Thomas Jefferson to John Wayles Eppes, 1813. ME 13:273 "Interest, simple or compound, is a compensation for the use of money." --Thomas Jefferson to John Nelson, 1818. ME 18:300

Maintaining Good Credit

"I told... President [Washington] all that was ever necessary to establish our credit was an efficient government and an honest one, declaring it would sacredly pay our debts, laying taxes for this purpose and applying them to it." --Thomas Jefferson: The Anas, 1792. ME 1:319


"The English credit is the first, because they never open a loan without laying and appropriating taxes for the payment of the interest, and there has never been an instance of their failing one day in that payment." --Thomas Jefferson to George Washington, 1788. ME 6:452
"Equal provision for the interest, adding to it a certain prospect for the principal, will give us a preference to all nations, the English not excepted." --Thomas Jefferson to James Madison, 1788. ME 6:456"I deem [this one of] the essential principles of our government and consequently [one] which ought to shape its administration:... The honest payment of our debts and sacred preservation of the public faith. " --Thomas Jefferson: 1st Inaugural, 1801. ME 3:322 "There can never be a fear but that the paper which represents the public debt will be ever sacredly good. The public faith is bound for this, and no change of system will ever be permitted to touch this; but no other paper stands on ground equally sure." --Thomas Jefferson to William Short, 1792. ME 8:317"It is not our desire to pay off... bills [of exchange in paper money] according to the present depreciation, but according to their actual value in hard money at the time they were drawn, with interest. The State having received value, so far as it is just it should be substantially paid. All beyond this would be plunder, made by some person or other." --Thomas Jefferson to the Virginia Delegates in Congress, 1781. ME 4:390, Papers 5:152

"I once thought that in the event of a war we should be obliged to suspend paying the interest of the public debt. But a dozen years more of experience and observation on our people and government have satisfied me it will never be done. The sense of the necessity of public credit is so universal and so deeply rooted that no other necessity will prevail against it." --Thomas Jefferson to William Short, 1814. ME 14:217


Freeing the Nation from Debt

"I consider the fortunes of our republic as depending in an eminent degree on the extinguishment of the public debt before we engage in any war; because that done, we shall have revenue enough to improve our country in peace and defend it in war without recurring either to new taxes or loans. But if the debt should once more be swelled to a formidable size, its entire discharge will be despaired of, and we shall be committed to the English career of debt, corruption and rottenness, closing with revolution. The discharge of public debt, therefore, is vital to the destinies of our government." --Thomas Jefferson to Albert Gallatin, 1809. FE 9:264
"There [is a measure] which if not taken we are undone...[It is] to cease borrowing money and to pay off the national debt. If this cannot be done without dismissing the army and putting the ships out of commission, haul them up high and dry and reduce the army to the lowest point at which it was ever established. There does not exist an engine so corruptive of the government and so demoralizing of the nation as a public debt. It will bring on us more ruin at home than all the enemies from abroad against whom this army and navy are to protect us." --Thomas Jefferson to Nathaniel Macon, 1821. (*) FE 10:193"To preserve [the] independence [of the people,] we must not let our rulers load us with perpetual debt. We must make our election between economy and liberty, or profusion and servitude. If we run into such debts as that we must be taxed in our meat and in our drink, in our necessaries and our comforts, in our labors and our amusements, for our callings and our creeds, as the people of England are, our people, like them, must come to labor sixteen hours in the twenty-four, give the earnings of fifteen of these to the government for their debts and daily expenses, and the sixteenth being insufficient to afford us bread, we must live, as they now do, on oatmeal and potatoes, have no time to think, no means of calling the mismanagers to account, but be glad to obtain subsistence by hiring ourselves to rivet their chains on the necks of our fellow-sufferers." --Thomas Jefferson to Samuel Kercheval, 1816. ME 15:39

"No earthly consideration could induce my consent to contract such a debt as England has by her wars for commerce, to reduce our citizens by taxes to such wretchedness, as that laboring sixteen of the twenty-four hours, they are still unable to afford themselves bread, or barely to earn as much oatmeal or potatoes as will keep soul and body together. And all this to feed the avidity of a few millionary merchants and to keep up one thousand ships of war for the protection of their commercial speculations." --Thomas Jefferson to William H. Crawford, 1816. ME 15:29
"Our distance from the wars of Europe, and our disposition to take no part in them, will, we hope, enable us to keep clear of the debts which they occasion to other powers." --Thomas Jefferson to C. W. F. Dumas, 1790. ME 8:47
(Nguồn : http://etext.virginia.edu/jefferson/quotations/jeff1340.htm)

___________
Những bài liên quan :
Nhà nước mạnh, Nhà nươc yếu

Chủ Nhật, ngày 07 tháng 6 năm 2009

Hòa bình và khoan dung

-->
Tư tưởng tự do của các triết gia Khai sáng đã trở thành thiết chế xã hội của phương Tây, được hàm chứa trong Hiến pháp nhiều nước, nổi bật nhất là Hiến pháp Hoa Kỳ. “Quyền tự nhiên của con người là quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu” là phát kiến vĩ đại của John Locke, được các nhà lập quốc Hoa Kỳ long trọng đưa vào bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ (với sự mở rộng khái niệm quyền tư hữu thành quyền “mưu cầu hạnh phúc”, được hiểu là bao hàm quyền tư hữu) và đặt thành nền tảng trong Hiến pháp. Tư tưởng vĩ đại đó được cụ Hồ tiếp thu, đưa vào Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam, và tiếp đó, Hiến pháp Việt Nam năm 1946 do cụ Hồ chủ trì soạn thảo lại dành hẳn Điều 12 để ghi : “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”. Để cho những “quyền tự nhiên” đó được thực thi, các nhà lập quốc Hoa Kỳ còn lấy vàng ra bảo đảm, theo đúng nghĩa đen của từ này mà tôi sẽ nói kỹ ở đoạn dưới.

Người bình thường nào cũng biết vàng là thứ kim loại qúy hiếm, tiện ích và đáng tin như thế nào trong thanh toán và cất giữ. Sau hàng ngàn năm làm ăn và suy tưởng, thế giới văn minh đã chọn vàng làm bản vị tiền tệ và áp dụng đồng loạt vào thế kỷ 19.

Ở phương Tây, thế kỷ 19 là thế kỷ thịnh vượng, tự do và hòa bình (tuy vẫn có một số cuộc chiến tranh nhỏ và dĩ nhiên do sự thịnh vượng của phương Tây nên đây cũng là thời kỳ phần lớn các nước trên hành tinh trở thành thuộc địa của nó).

Tiền là tài sản quan trọng nhất của đông đảo người dân, vì vậy tiền của dân cũng phải được bảo đảm, càng phải được bảo đảm. Một trong những bảo đảm quan trọng của tự do là tài sản của cá nhân không bị cướp bóc, không bị tước đoạt.

Giặc đến đốt nhà cướp của, lục lâm thảo khấu chặn đường cướp tiền, kẻ trộm trèo tường mở tủ lấy tiền, cường hào ác bá bức hiếp lấy tiền, kẻ xấu lừa đảo lấy tiền… là những sự cướp bóc tước đoạt dễ thấy. Đối với giặc thì có thể trả thù, đối với kẻ xấu có thể kiện cáo, đối với tham quan ô lại thì có thể đấu tranh (dù cầm chắc phần thua, nhưng cũng có giải pháp), đối với lục lâm trộm cướp thì có thể né tránh. Nhưng trên đời còn có sự cướp bóc tước đoạt khác, kinh khủng hơn, dã man hơn, nhưng tinh vi “mắt thường” không nhìn thấy. Đó là lạm phát.

Dưới chế độ bản vị vàng không những không có lạm phát mà cuộc sống của người dân cũng không phụ thuộc vào chính phủ. Khi không tin vào chính phủ, người dân mang tiền ra đổi thành vàng đem cất giữ, khi nào tin thì mang vàng ra đổi lại thành tiền. Bản vị vàng làm yên dân.

Bản vị vàng còn khiến cho những người cầm quyền trở nên khoan dung, vì không thể in tiền để mở rộng quyền lực. Khi Nhà nước không phải là "bầu vú" để có thể khai thác thì việc "làm quan" sẽ là một nghề bình thường như những nghề khác, các quan chức không thể cậy thế cậy quyền để ức hiếp dân lành và nhất là khó mà tham nhũng.

Bản vị vàng cũng duy trì được hòa bình thế giới, do không thể tùy tiện in tiền để tiến hành chiến tranh nên giữa các nước ít gây gổ với nhau hơn.Người ta bảo Đại chiến I ít khủng khiếp hơn Đại chiến II vì trong Đại chiến I vẫn còn nhiều nước tham chiến chưa thoát hẳn bản vị vàng, còn Đại chiến II không còn bản vị vàng nên có thể chi tiền vô biên. Nếu có bản vị vàng thì chưa chắc chiến tranh Việt Nam đã diễn ra, những bất ổn trên thế giới cũng khó có điều kiện dẫn đến xung đột. Hơn nữa, với bản vị vàng, quan hệ kinh tế giữa các nước là quan hệ giữa các cá nhân hoặc doanh nghiệp, dựa trên sự cạnh tranh bình đẳng, các nhà nước sẽ không có điều kiện dựa vào sức mạnh kinh tế của quốc gia này áp chế quốc gia khác.

Trở lại chuyện của nước Mỹ. Tuy không nói rõ việc áp dụng bản vị vàng, nhưng Hiến pháp Hoa Kỳ quy định rõ quyền hạn của Quốc Hội trong phát hành tiền nong như sau (Điều 1, Mục 8, khoản 5) : “To coin Money, regulate the Value thereof, and of foreign Coin, and fix the Standard of Weights and Measures” (Đúc tiền, điều chỉnh giá trị của nó và tiền nước ngoài, xác định tiêu chuẩn cân đo”. Điều lạ lùng là tại website của Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội, cụm từ “To coin Money” được dịch là “Đúc và in tiền”. Tùy tiện thêm chữ “in tiền” vào đây không đơn giản là việc them chữ, mà làm cho người đọc hiểu sai về bản chất một vấn đề cực kỳ quan trọng trong Hiến pháp và lịch sử nước Mỹ.

Tại Điều 1, Mục 9, khoản 1, Hiến pháp Hoa Kỳ cấm các bang “…coin Money; emit Bills of Credit; make anything but gold and silver Coin a Tender in Payment of Debts…” (đúc tiền, phát hành giấy bạc hoặc dùng bất cứ thứ gì ngoài đồng tiền vàng và bạc để thanh toán các khoản nợ”). Đoạn này cũng được website Đại sứ quán Hoa Kỳ cho người ta hiểu lệch đi bằng cách dịch là “… hoàn toàn không được dùng các đồng tiền vàng và bạc để thanh toán các khoản nợ…).

Những quy định về tiền bạc ghi trong Hiến pháp như vậy là rõ ràng không thể nhầm lẫn được. “Đúc tiền”, chỉ có thể đúc bằng vàng hoặc bằng bạc. Chỉ quy định “đúc tiền” chứ không quy định “in tiền”, không phải nước Mỹ chưa biết đến tiền giấy pháp định, mà nước Mỹ đã có kinh nghiệm xương máu đối với loại tiền này.

Trước khi bản Hiến pháp ra đời (có hiệu lực vào năm 1788), nước Mỹ thời thuộc địa đã từng sử dụng tiền giấy pháp định trong cuộc chiến tranh với Pháp và chiến tranh cách mạng, hậu quả là siêu lạm phát hủy diệt nền kinh tế. Tổng thống Thomas Jefferson có lẽ là người đầu tiên nói trắng ra rằng lạm phát chính là “khoản thuế thực” đánh vào người dân.

Lịch sử cho thấy những nhà lập quốc – những người ký tên trong bản Hiến pháp Hoa Kỳ đã kịch liệt phản đối việc cho phép in tiền pháp định, khi vấn đề này được đưa ra trong bản thảo đầu tiên của Hiến pháp. G. Washington thẳng thừng từ chối nó, James Madison coi nó là “trò gian manh và hành động bất lương”, còn John Langdon thì bảo ông sẵn sang từ chối liên bang hơn là cho phép in tiền pháp định. Vì vậy, với hai nội dung nói trên, bản Hiến pháp Hoa Kỳ đã chỉ rõ : Quyền in tiền không được trao cho liên bang và quyền này bị cấm đối với các bang. Hơn 200 năm qua, những điều khoản này không hề bị sửa đổi, nó vẫn còn giá trị cho đến ngày hôm nay.

Cần biết vào năm 1785, Hoa Kỳ đã sử dụng đồng tiền bạc của Tây Ban Nha làm tiền tệ chính thức. Sau khi Hiến pháp được thông qua, Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua đạo lụật đúc tiền (1792), quy định cụ thể hàm lượng vàng và bạc trong đồng đô la và định tỷ giá giữa tiền vàng và tiền bạc. Điều thú vị là sau khi quy định trọng lượng, độ thuần khiết và chuẩn mực của đồng tiền, việc đúc tiền sẽ được đấu thầu thực hiện. Từ đây cũng mở đường cho tư nhân đúc tiền. Tiền tư nhân đúc ra nếu bảo đảm trọng lượng và độ thuần khiết của vàng hoặc bạc, Nhà nước sẽ đóng dấu xác nhận và sau khi xác nhận, đồng tiền đó sẽ được lưu hành hợp pháp. Việc đúc tiền tự do này kéo dài mãi đến khi luật cấm vàng ra đời năm 1934 vào thời F.D. Roosevelt.

Việc lấy vàng và bạc làm tiền tệ lưu thông đã tạo sự ổn định và phát triển bền vững của nền kinh tế, tạo nền tảng cho sự thịnh vượng của Hoa Kỳ trong suốt thế kỷ 19. Nếu không có sự thịnh vượng bền vững của thế kỷ 19 thì không thể có nước Mỹ ngày nay. Tờ Pennsylvanta Gazette số ra ngày 16-12-1789 viết : “Kể từ khi Hiến pháp liên bang xóa bỏ tất cả mọi nguy hiểm của việc duy trì pháp lệnh tiền giấy, nền thương nghiệp của chúng ta đã tăng lên 50%”(*). Các nhà sử học cũng ghi nhận : “Những năm 1793-1808 là giai đoạn thịnh vượng vô song” (Douglas North), “(Đây là) một trong những giai đoạn vĩ đại nhất trong lịch sử Hoa Kỳ… Xuất khẩu của Hoa Kỳ tăng từ 19 triệu đô la năm 1791 lên 93 triệu đô la vào năm 1801”. Thời gian này thâm hụt tài chính liên bang đã giảm từ mức 28% năm 1792 xuống còn 21% năm 1795 và đến năm 1802 thì số ngân sách thặng dư lên đến mức tương đương với tổng chi ngân sách. (*).

Rất tiếc là điều khoản cực kỳ quan trọng, điều khoản bảo đảm bằng vàng cho tự do của Hiến pháp Hoa kỳ, đã bị vi phạm. Dưới áp lực của các nhà tài chính lũng đoạn, người ta đã huy động một đội ngũ hùng hậu những kinh tế gia, luật gia và phương tiện truyền thông áp đảo để cuối cùng đã đưa được con lạc đà chui qua lỗ kim sơ hở bé tí trong bản Hiến pháp. Kết quả là năm 1933, nước Mỹ xóa bỏ bản vị vàng, hệ quả là một lượng tài sản khổng lồ của công dân Mỹ bị tước đọat, và tiếp đó ra luật cấm toàn dân tàng trữ vàng (trừ đồ trang sức). Và sau khi đồng đô la thoát hẳn khỏi vàng vào năm 1971 cùng với sự cáo chung của hệ thống Bretton Woods, đến đầu năm 1975 lệnh cấm người dân sở hữu vàng mới được bãi bỏ ở nước Mỹ.

Tối cao pháp viện Hoa Kỳ vốn lẫy lừng trong bảo vệ Hiến pháp, nhưng có lẽ chưa bao giờ có đủ 5 đại thẩm phán dấn thân cho tự do...
(lúc nào rảnh viết tiếp).
________________
* Đoạn trích và số liệu lấy từ sách : The Creature from Jekyll Island (Bản dịch tiếng Việt : Những âm mưu từ đảo Jekyll, NXB Tổng hợp TPHCM 2009).
Những bài liên quan :

Thứ Tư, ngày 03 tháng 6 năm 2009

Điểm "không"


Đây là bài viết của con Háu, đăng trên mục "Thư 0 giờ "của một website mới toanh mang tên bee.net.vn. Xin được đăng lại trên Blog này.



Tôi thường hay mơ mộng về những điểm 0. “Bằng không”, “về không”, “thành không” lại là chuyện khác; còn bản thân chữ “không”, đối với tôi, là vô cùng kỳ vĩ.


Không kể tới con số 0 ra đời ở Ấn Độ, làm nên khoa học. Không kể tới “sắc không” làm nền tảng tư duy để sống qua một cuộc đời mà không tiếc nuối. Những cái “không” đó, tôi càng ngẫm mới càng thấy mê ly (mà biết, còn mê ly là chưa thấu đạt!). Có vài cái “không” mà tôi cảm thấy được, tuyệt đối.

Một lần trên mỏm núi ở Sierra Nevada, trước mặt là chốn người xe, thoắt quay lại – một khoảng không. Không thềm, không núi, không mây. Không gì hết. Dù có. Tôi suýt chết ngợp vì cái trống không đó trong một thoáng. Đó là một trong những khoảnh khắc làm tôi kinh sợ nhất đồng thời thăng hoa nhất. Chắc nó giống như là tự do.

Trong thời gian thì mỗi năm có phút Giao thừa đó, ai mà không cảm nhận được cái “không”? Một ngày, cũng có một điểm mà mọi thứ đều được cài đặt lại. Đó là lúc 0 giờ. 0 giờ là phút riêng tư nhất. Một mình với mình thôi. Dụng chiêu dụng võ ở đâu giờ này cũng thành vô chiêu. Tôi thường thích dùng lúc 0 giờ để đọc.


Tôi đọc “Thấy Phật” của ông Cao Huy Thuần. Trong đó ông có nói về cái thềm. Thềm là ranh giới, nhưng mà phải bước lên, chứ không phải là bước qua. Thềm nhà, thềm núi, rồi thềm năm mới. “Trước thềm năm mới, kính chào…”… - vẫn là cái cụ thể. Ông còn bàn đến cái thềm, mà từ đó, một đứa con trai trở thành đàn ông, một đứa con gái trở nên đàn bà trước Trời đất.


Trong những câu chuyện thần tiên hay nhất của nhân loại, có cô con gái không muốn hồi hộp chờ đợi lâu, mà cũng chẳng thích từ giã vội thế giới thơ ngây, bèn ngủ một giấc thật dài cho đến khi hoàng tử đẹp trai nhất đời từ xa đến, quỳ xuống kính cẩn nhẹ hôn một cái hôn phớt hào hoa trên trán. Năm nào kẻ viết bài này cũng thấy một hoàng tử đến hôn một cô gái như thế - nụ hôn ấm của nắng đầu xuân đánh thức hoa lá thiên nhiên ngủ suốt mùa đông" *. Mê ly quá! Cái khắc 0 đó lặp lại, và vẫn là duy nhất.


Xung quanh cái điểm 0 này, tôi thấy mở ra một vùng bao la, tha hồ mà tản mạn. Nhưng chị Bee lúc đặt bài này, bảo: 800 chữ! Anh Bee thì bảo, cứ viết như viết blog. Thế thì tôi nói ngay vào cái mà tôi đang đọc và thấy lý thú nhất đây: Cái thềm đạo đức của Thúy Kiều. Ôi! Xin phép tác giả cho tôi được trích thêm 1 đoạn nữa: “Ban đêm, nhảy rào vào đàn cho tình nhân nghe, nàng Thúy có thể làm cho chàng Kim nghĩ lầm rằng người đẹp đã bước qua không gian đạo đức để bước vào thế giới của Ái thần. Nàng đã xóa thềm, việc gì chàng không xóa?" *. Nhưng thềm của nàng cao tót vời, là do nàng tự đặt ra cho mình. Nàng cư xử với cuộc đời trong hệ quy chiếu đó.


Biết bao nhiêu là cái hiểu nhầm “vậy mà không phải vậy” đã xảy ra khi người với người va chạm với nhau trong những chuyển động bất tận. Những hệ quy chiếu với điểm 0 cách xa nhau không dễ tìm được tiếng nói chung, cũng chẳng dễ “bắt được sóng” của nhau. Thế là sinh ra cô độc, sinh ra huyênh hoang, sinh ra bầy đàn hay xuất chúng. Sinh ra sự trong sáng và sinh ra cả thô lậu… Chỉ là do tương quan giữa những điểm 0 ấy mà thôi. Trên đời, con người sinh ra vốn đã không bình đẳng về thể chất. Lại thêm cái khác này nữa trong tư chất, làm sao mà bình đẳng! (Nhưng đây cũng lại là 1 chuyện khác mất rồi).

Và tôi cũng cố noi theo thời thượng một chút. Giờ người ta đang đánh giá lại các hệ quy chiếu để đo nền kinh tế, sự phát triển của một quốc gia, mức độ hạnh phúc của con người. Những tham số cũ đã lạc hậu rồi. Vậy chia lớp người trong xã hội theo sở hữu (giai cấp), theo tri thức,… cũng không còn hiệu nghiệm nữa. Sao chưa ai chia lớp người ra theo cấp bậc điểm 0 của thềm đạo đức nhỉ?


0 giờ, là lúc điểm “không” vươn xa, đi tìm tri âm tri kỷ. Nên tôi quá thích thú với cái tên chuyên mục này: “Thư 0 giờ”. Ước gì anh Bee chị Bee tạo được một trang Bee mà nhiều người tham gia cùng có chung tiếng nói (dù nhiều ở đây, không phải cứ là nhiều!).


CON HÁU

______________
* Cao Huy Thuần, “Thấy Phật” – Trước thềm, trang 41, 44, NXB Tri thức, 2009.

Thứ Hai, ngày 01 tháng 6 năm 2009

Chiến sĩ bảo vệ tự do


Mấy hôm nay giá vàng ở Việt Nam tăng thẳng đứng và hôm nay đang nằm ở đỉnh cao chót vót : 2.145.000 đồng/lượng SJC. Vàng thế giới cũng đã thẳng tiến lên trên 980 USD/ounce. Các chuyên gia quốc tế và trong nước đều thống nhất dự báo : vàng sẽ tiếp tục tăng, sẽ phá kỷ lục 1.033,9 USD (17-3-2008) và sẽ lập tiếp những kỷ lục mới, dù nó sẽ “thăng” theo chiều răng cưa (tìm được những “răng cưa” này sẽ là cơ hội cho các nhà đầu tư lướt sóng).


Giá vàng tăng trong những ngày này có nhiều nguyên nhân : đồng đô la Mỹ suy yếu, giá dầu tăng, Bắc Triều Tiên thử hạt nhân và một loạt những động thái của giới tài chính và chính trị…


Nguyên nhân bao quát là do “hiệu quả” của hàng nghìn tỷ đô la từ các “gói kích cầu” mà chính phủ Mỹ và chính phủ các nước đã bơm vào các nền kinh tế để đối phó với khủng hoảng. Cái này các nhà kinh tế trường phái Austrian gọi là bốc thuốc an thần cho con bệnh, theo sách thuốc của thầy Keynes.


Theo lẽ thông thường mà ai cũng hiểu, của cải ở đời đều do những cá nhân làm ra bằng mồ hôi, bằng trí não của họ. Với chức trách của mình, Nhà nước không làm ra của cải, nó chỉ thu một khoản tiền của những người làm ra của cải ở một mức hoặc một tỷ lệ nhất định, gọi là thuế. Khoản tiền này dung để trang trải những hoạt động của nhà nước khi nó đảm nhiệm những công việc mà xã hội giao phó, thoạt kỳ thủy đó là những việc ích nước lợi nhà mà từng cá nhân riêng lẻ không thể làm được.


Của cải làm ra phải đem trao đổi, thô sơ là hàng đổi hàng, khi của cải dồi dào rồi thì trao đổi bằng tiền. Là phương tiện thanh toán, nên lượng tiền lưu thông trong xã hội bao nhiêu thì phải có một lượng của cải tương ứng bấy nhiêu. Cho nên tiền là sự “cách điệu” của của cải. Nhưng người ta không thể đo được lượng của cải để phát hành tiền tương ứng được, vì nó quá phức tạp, nên phải tính theo một cách khác. Lấy bạc hoặc vàng để bảo đảm giá trị. Ngay cả Nhà nước phong kiến, quyền của vua chúa không ai kiểm soát, cũng phải lấy thứ kim loại qúy là bạc hoặc vàng để làm phương tiện thanh toán hoặc phương tiện bảo đảm giá trị đồng tiền. Khi xem phim Tàu ta thấy các nhân vật khi mua bán hoặc chi cho ai thường rút ra một xấp giấy gọi là “ngân lượng”, đó chính là những “chứng chỉ” trả tiền được bảo đảm bằng bạc. Tiền giấy của các nhà nước phong kiến cổ đại đều là những “chứng chỉ” có bạc hoặc vàng bảo đảm cả. Những bậc “con trời” cũng không dám tùy tiện in tiền.


Từ năm 1914 trở về trước, nhất là trong thế kỷ 19, ở các nước theo thể chế thị trường mà người ta gọi là chủ nghĩa tư bản, để đồng tiền không mất giá, người ta lấy vàng (song song với bạc) ra bảo đảm giá trị, gọi là bản vị vàng hoặc kim bản vị. Lượng tiền lưu hành trong một nước bao nhiêu nhất định phải có một lượng vàng tương ứng nằm trong kho. Hồi đó lượng vàng thường chạy qua chạy lại từ kho vàng của ngân hàng quốc gia nước này sang ngân hàng quốc gia nước khác theo sự thăng trầm của hoạt động buôn bán từng nước. Kinh tế học phát triển cùng với sự ra đời của một loạt những “cách điệu” khác và các công cụ tính toán ngày càng tinh vi, nhưng đều xuất phát từ đạo lý : đồng tiền không thể được in ấn bừa bãi.


Do được bảo đảm bằng vàng, suốt hơn 1 thế kỷ thế giới không hề biết đến lạm phát. Từ đầu thế kỷ 19 đến trước Đại chiến I, trong 113 năm đồng đô la Mỹ và nhiều đồng tiền châu Âu lạm phát bằng 0, giá tiêu dùng biến động không đáng kể. Đối với nước Anh, trong suốt 250 năm trước Đại chiến I, trừ khoảng thời gian lạm phát ngắn do chiến tranh với Napoleon, sức mua của đồng bảng Anh không những không giảm mà còn tăng. Lịch sử coi đây là thời hoàng kim của kinh tế thị trường. Sự thịnh vượng kinh tế đã giúp nước Anh thống trị ¼ thế giới.


Chính laissez-faire tạo ra sự thịnh vượng của châu Âu và Hoa kỳ vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Sự thịnh vượng đó đi liền với những Nhà nước “bé”. Nhà nước muốn to ra để đảm nhận nhiều “sứ mệnh” tự phong cho mình mà thực chất là những tham vọng quyền lực, thì phải có nhiều tiền, muốn có nhiều tiền thì phải có vàng bảo đảm. Nên chính vàng đã ngăn cản tham vọng quyền lực của Nhà nước. Nhà nước bé thì con người được tự do, nên người ta cũng gọi vàng là chiến sĩ bảo vệ tự do.


Nhưng tham vọng quyền lực của Nhà nước vốn vô hạn độ, dù đó là Nhà nước dân chủ, Nhà nước do dân bầu. Tham vọng vô hạn độ đó luôn luôn khiến Nhà nước có xu hướng phình to ra. Khi trong nước hết việc để làm, tức là không có lý do để phình to ra, các Nhà nước lại tính chuyện đi gây gổ. Đi gây gổ với nước khác bao giờ cũng trương ra lý do bảo vệ quyền lợi dân tộc. Chiến tranh nổ ra. Chiến tranh nổ ra thì cần rất nhiều tiền. Dưới bản vị vàng, Nhà nước cần thêm tiền thì phải tăng thuế. Nhưng tăng thuế thì dân không ủng hộ.


Do đó, từ năm 1914, các nhà nước đã phải xóa bỏ bản vị vàng để in tiền tài trợ cho chiến tranh, đầu tiên là nước Anh. Đại chiến I khiến thế giới điêu tàn, từ đây mở đường cho sự lộng hành của các nhà nước. Và sau cuộc điêu tàn của Đại chiến II, sự lộng hành trở nên vô biên không thuốc chữa.


Viết đến đây thì giá vàng thế giới đã lên 987,6 USD/ounce, vàng SJC trong nước đã lên 21.6300.000đồng/lượng rồi (16h33, 1-6-2009), bà con lướt sóng vàng đừng vội chốt lãi nhé, hehe…

(Lúc nào rảnh viết tiếp)


Những bài liên quan :

Hòa bình và khoan dung

"Qùy hoa bảo điển"

150 năm không lạm phát

Alan Greenspan nói về bản vị vàng

Từ những núi nợ của nước Mỹ

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu