Thứ Hai, ngày 27 tháng 7 năm 2009

Làng tôi có ông Tú Qùy


1. Họ Huỳnh làng Giảng Hòa tôi có ông Tú Qùy (Huỳnh Qùy). Hồi nhỏ tôi thích nhất là nghe ông nội tôi đọc thơ, văn tế, vè, câu đối của ông và kể những câu chuyện về ông. Chuyện gì về ông Tú Qùy cũng hay cả.


Sau này đọc ông Phan Khôi, Dương Quảng Hàm, Vương Hồng Sển, Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Huệ Chi… đều thấy viết về ông Tú Qùy với những lời đánh giá trân trọng. Đánh giá là vậy, còn việc “sắp xếp” ông vào đâu thì hình như vẫn còn dè dặt. Nhưng tôi không muốn xếp ông Tú Qùy ngang với ai, không phải vì thơ văn của ông và tư cách của ông hay hơn hay dở hơn các tác gia khác cùng thời và cùng thể loại. Đối với tôi, Tú Qùy không giống bất cứ ai.


Theo tôi biết thì gần 100 năm nay không ai xếp ông Tú Qùy vào các tập “thơ văn yêu nước”. Gần đây một số nhà nghiên cứu đã tử tế “minh oan” cho ông, gọi ông là danh sĩ Quảng Nam và cố “làm rõ” chất yêu nước trong thơ ông. Còn ở làng tôi, dù ông có được “minh oan” hay không thì ông Tú Qùy vẫn là ông Tú Qùy như cũ.


Đây là một trong những bài thơ được nhiều người biết nhất của ông (tôi ghi theo trí nhớ) :


VỊNH HÁT BỘI


Nhỏ mà không học lớn làm ngang

Ba tiếng trống thùng đã thấy quan

Ra rạp ngồi trên ba đứa hiệu

Vô buồng đứng dưới mấy ông làng

Mượn màu son phấn ông kia nọ

Cởi lốt khăn đai chú điếm đàng

Tuy chẳng ra chi nhưng cũng sướng

Đã từng trợn mắt lại phùng mang.


Các nhà nghiên cứu bảo bài thơ này Tú Qùy “nói kháy” Nguyễn Duy Hiệu (ông Hường Hiệu) và các lãnh tụ phong trào Nghĩa Hội Quảng Nam, thuộc phong trào Cần Vương chống Pháp.


Nguyễn Duy Hiệu yêu nước lừng danh, đó là thực tế trong sử sách. Nhưng Nguyễn Duy Hiệu khét tiếng không khác gì một ông vua trong vùng, đó cũng là thực tế trong sử sách. Có điều “cứu cánh biện minh cho phương tiện”, nên sử sách coi hành động cướp bóc, ức hiếp dân lành của phong trào Nghĩa Hội chỉ là một “hạn chế” của phong trào do “thiếu đường hướng” mà thôi.


Sau khi đọc bài thơ “Vịnh hát bội” trên đây, ông Hường Hiệu đã sai lính bắt Tú Qùy về bản doanh để trị tội. Nhưng cuối cùng ông Hường Hiệu cũng tha cho Tú Qùy. Trong đời mình, ông Hương Hiệu không tha cho ai hết, trừ hai người : thầy của chính ông Hường Hiệu và ông Tú Qùy. Người ta bảo ông Tú Quỳ sở dĩ được tha là do tài ứng đối, nhất là do những bài “xuất khẩu thành thi” trước mặt ông Hường Hiệu. Nói vậy cũng chưa chắc đúng.


Tú Qùy từng hưởng ứng phong trào Nghĩa Hội chống Pháp và vận động người dân tham gia phong trào này. Ông đương nhiên không chống lại đường hướng yêu nước của Nghĩa Hội, nhưng ông không tán thành các phương sách manh động không hiệu quả và đặc biệt chống kịch liệt việc tàn sát những người theo đạo Thiên chúa và các hành vi cướp bóc, trả thù man rợ của Nghĩa Hội (ông Tú Qùy có làm bài văn tế một Chánh tổng bị nghĩa quân bắt và hành hình man rợ bằng cách đem lửa đốt hạ bộ cho đến chết).


Trong bài “Vè đánh đạo”, Tú Qùy đã lên án mạnh mẽ việc Nghĩa Hội giết chóc, truy sát những người theo đạo Thiên chúa giáo. Đây có lẽ là tác phẩm đầu tiên, nếu không muốn nói là tác phẩm duy nhất tỏ thái độ thẳng thắn của một sĩ phu yêu nước trước một hành vi tàn bạo của một phong trào mệnh danh là phong trào yêu nước. Bài vè đã lưu truyền rộng rãi trong dân gian, nhưng các lãnh tụ Nghĩa Hội thì tức tối muốn giết ông. Những người lãnh đạo Nghĩa Hội đồng nhất những người theo đạo với giặc Pháp, còn Tú Quỳ thì không. Đối với ông, họ là dân lành.


Phải đọc “Hỏa mai đánh bằng rơm con cuối, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia…” trong Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu để thấy hồi xưa diệt đạo cũng là “yêu nước” thì mới thấy hết sự khác biệt giữa sự yêu nước của ông Tú Qùy với các sĩ phu thế kỷ 19. Giáo dân cũng là dân lành, yêu nước sao lại đi giết dân lành ?


Có lẽ giết chóc những người theo đạo là “thành tích” lớn nhất của Nghĩa Hội. Còn đánh Pháp thì sao ? Trận đánh trực diện với người Pháp lớn nhất của nghĩa quân là trận đánh diễn ra ở đồng Gia Cốc. Ông Tú Qùy đã viết một câu đối về kết quả của trận đánh đó như sau :


ĐỒNG GIA CỐC THỬ CHƠI MỘT TRẬN

CHẾT HĂM MỐT BỊ THƯƠNG HĂM MỐT

NỢ QUÂN VƯƠNG TRẢ BỚT BẤY NHIÊU NGƯỜI


QUÂN TẢ TÂY KÉO THẲNG HAI TUA

LÊN TRĂM HAI XUỐNG ĐỦ TRĂM HAI

TRÁCH TRỜI ĐẤT NỠ SAO THIÊN VỊ NÓ


Số liệu về trận đánh đó sử sách đã ghi chính xác như câu đối của ông Tú Qùy : 21 nghĩa quân đã anh dũng hy sinh, bên địch không thiệt hại gì.


Câu đối này cũng có thể đưa ông Tú Qùy đến cửa tử. Nhưng ông vẫn bình thản. Đánh đấm như vậy thì làm thinh sao được !


2. Nói về cây tre, có hai câu chữ Hán tôi đọc lâu rồi không nhớ là của ai, nhưng rất thích :


Vị xuất thổ thời tiên hữu tiết

Đáo lăng vân xứ dã hư tâm.


Tạm dịch :

Chưa lên khỏi mặt đất đã có đốt (cũng có nghĩa là khí tiết)

Lên đến tận mây xanh vẫn không có tâm địa gì.


Đó là biểu trưng của chân quân tử.


Trở lại chuyện ông Tú Qùy. Khi ông bị nghĩa quân bắt lên, ông Hường Hiệu đã ra đề thơ cây tre và bảo ông ứng khẩu. Ông đã làm bài Vịnh cây tre sau đây :


Cao lớn làm chi tre hỡi tre

Ruột gan không có vỏ xanh lè

Sơ sơ gió thổi khom lưng lại

Thoảng thoảng rìu qua trợn mắt ghe

Rễ mọc tùm lum ăn xấu đất

Thân ngâm nồng nặc thối tràn khe

Lập lờ mang tiếng chân quân tử

Há để thân danh lụy rứa hè.


Hai cách nói về cây tre, rất khác nhau, nhưng cách nào cũng hay. Bài thơ cũng “nói kháy” Nguyễn Duy Hiệu, nhưng ông Hường Hiệu có lẽ đủ tỉnh táo nên không giết ông.


Ông Tú Qùy làng tôi sống đến 98 tuổi (ông sinh năm 1828 và mất năm 1926). Năm ông 80 tuổi, ông được ông vua yêu nước Duy Tân tặng cho hai chữ “Thọ quan”, dù ông chẳng bao giờ làm quan chức gì.

Thứ Tư, ngày 22 tháng 7 năm 2009

Từ những núi nợ của nước Mỹ

Tiếp theo loạt bài :
Alan Greenspan nói về bản vị vàng
150 năm không lạm phát

"Qùy hoa bảo điển"
Hòa bình và khoan dung
Chiến sĩ bảo vệ tự do

"Government that governs least governs best"
- Thomas Jefferson

Đọc Thanh cung mười ba triều, đến chuyện của Đạo Quang hoàng đế (1782-1850) thấy tức cười. Khi Đạo Quang lên ngôi, tham quan Hòa Thân đã bị diệt, ngân khố “giàu có khôn xiết kể”, nhưng ông vẫn hết sức dè sẻn trong chi tiêu công qũy và chính ông nêu gương một cách triệt để. Một chiếc long bào cũ rách ông cũng cho vá lại mà mặc chứ không may đồ mới. Hoàng đế rất tương đắc với Đại học sĩ Tào Chấn Dung (cũng là một bậc đại hà tiện). Một lần đang đàm đạo với Tào Chấn Dung, nhìn thấy ống quần của Đại học sĩ có 2 miếng vá, hoàng đế hỏi : “Ngươi vá hai miếng vá to ấy mất bao nhiêu tiền ?”. “Tâu, chỉ hết 3 tiền”. Đạo Quang giật mình đánh thót, rồi thở dài nói : “Trẫm cũng có hai miếng vá như vậy, thế mà Nội vụ phủ tính những 5 lạng bạc”. Từ đó hoàng đế bắt mọi người trong cung, từ hoàng hậu phi tần đến cung nữ đều phải học may vá, không được chi tiêu lãng phí công qũy nữa. Đằng sau những câu chuyện khôi hài về tính hà tiện của Đạo Quang có thể nhìn ra một đạo lý.

Đạo lý đó là, Nhà nước không làm ra của cải, cũng có nghĩa là không tạo ra tiền, không tạo ra tiền thì không được chi xài phung phí. Dưới chế độ bản vị vàng cũng như việc dùng bạc nén làm tiền dưới thời hoàng đế Đạo Quang, điều này là vô cùng dễ hiểu. Tiền mà Nhà nước có là do các công dân đóng góp, dưới hình thức thuế. Chi dùng cho toàn bộ các hoạt động của Nhà nước chỉ trong khoản thuế này, không có gì khác.

Không phải luật lệ về chi tiêu, cũng không phải những lời kêu gọi tiết kiệm, mà chính bản vị vàng đã tự động khống chế việc chi tiêu của Nhà nước.

Trước khi phế bỏ bản vị vàng, chi tiêu của Chính phủ Mỹ rất khiêm tốn : chỉ ở mức 3% GDP ở cấp liên bang và 9% GDP ở cấp b
ang và địa phương.

Sau khi phế bỏ bản vị vàng, bất chấp có chiến
tranh hay không, bộ máy nhà nước cũng ngày càng phình to ra kéo theo tốc độ chi tiêu tăng vọt. Năm 1940, chi tiêu liên bang tăng lên 13% GDP, tỷ trọng gấp hơn 4 lần, và đến năm 2008, chi tiêu liên bang vọt lên 27% GDP, tỷ trọng gấp 9 lần so với thời điểm trước khi phế bỏ bản vị vàng. Tại thời điểm năm 2008, tổng chi tiêu của Nhà nước (bao gồm liên bang, bang và địa phương) lên tới 45% GDP.


Có thể khẳng định chắc chắn rằng nếu không phế bỏ bản vị vàng thì bộ máy Nhà nước không thể phình to lên và không thể chi tiêu vô tội vạ như thế được. Nhưng Nhà nước luôn luôn có đủ lý do biện minh bằng những học thuyết, những công trình khoa học và bằng phương tiện truyền thông áp đảo. Khi thì để tiến hành chiến tranh, hết chiến tranh thì làm sứ mệnh cao cả bảo đảm “công bằng xã hội”, bảo vệ sức khỏe, bảo vệ môi trường, chống khủng bố và hàng loạt những lý do “chính đáng” khác.

Lòng ái quốc, sự cao cả của “sứ mệnh công bằng xã hội”, sự sợ hãi đối với bệnh tật, đối với rủi ro bất trắc … là những điều rất dễ thuyết phục giới trí thức và người dân, nhất là thành phần chi phối nền dân chủ là giới cử tri trung lưu đông đảo (middle America). Nhiều trí thức liêm khiết đã lên tiếng về tình trạng thổi phồng quá mức tính chất nghiêm trọng c
ủa những vấn đề xã hội, như HIV/AIDS và các thứ dịch bệnh, vấn đề đe dọa an ninh (gần nhất là việc tấn công Iraq), vấn đề môi trường…. Nhưng tiếng nói của họ đều lạc lỏng, không được công chúng ủng hộ. Chúng ta thử tưởng tượng nếu còn bản vị vàng thì tình hình sẽ ra sao ? Chắc chắn sự nghiêm trọng của những mối đe dọa sẽ xẹp xuống bằng với tính chất thực của nó.

Vì lòng ái quốc, vì những “sứ mệnh cao cả” và vì sự an toàn của mình mà người dân Mỹ sẵn chịu gánh nặng thuế má và đán
h mất dần tự do của mình để ủng hộ Nhà nước. Vào năm 1928, người dân đóng góp cho chính phủ thông qua thuế với số tiền tương đương với hơn 1,3 tháng làm việc một năm, ngày nay con số này đã lên đến 5,3 tháng, tức là mỗi năm người Mỹ phải dành gần một nửa thời gian để làm việc không công cho Nhà nước. Người Mỹ hiện đại đang đem một phần tự do mà cha ông họ dày công vun đắp để đổi lấy sự an toàn, đúng hơn là đổi lấy những ảo tưởng về an toàn.

Nhưng thuế là một chuyện và vai trò của nó chủ yếu nhằm tái phân bổ thu nhập mà mục tiêu là để làm “yên lòng” tầng lớp c
ử tri trung lưu chi phối nền dân chủ. Khi phế bỏ bản vị vàng rồi thì ngoài thuế, việc “tăng chi” của Nhà nước còn có hai nguồn quan trọng hơn : vay mượn và in tiền để thu thêm thuế trá hình bằng lạm phát. Hai chuyện này có mối liên quan chặt chẽ với nhau.

Cần nhớ rằng sau khi lập quốc, nước Mỹ chỉ nợ vẹn vẹn 75 triệu USD vào năm 1791, đây là khoản vay mượn phục vụ cho chiến tranh giành độc lập chứ không phải vay mượn để tiêu xài. Nhưng chỉ mấy năm sau, khoản nợ này đã được trả hết (1802) và suốt hơn 1 thế kỷ tiếp theo, tuy một số thời điể
m cũng có gia tăng nợ nần, nhưng nhìn chung không đáng kể. Còn giờ đây thì sao ?

$11,607,335,475,299.34 (mười một ngàn sáu trăm lẻ bảy tỷ ba trăm ba mươi lăm triệu bốn trăm bảy mươi lăm ngàn hai trăm chín mươi chín đô la, tính tròn). Đó là tổng số nợ quốc gia liên bang Hoa Kỳ, “nhảy” trên đồng hồ báo nợ quốc gia đặt tại New York lúc 11:05:44 (AM, GMT), ngày hôm nay, 22-7-2009.

Người ta tính, kể từ ngày 28-9-2007 đến nay, nợ liên bang tăng bình quân mỗi ngày … 3.92 tỷ đô la. Tốc độ tăng trưởng nợ của nước Mỹ gấp 5 lần tốc độ tăng trưởng GDP.


Với dân số 306,593,781 người tính đến cùng thời điểm, mỗi người Mỹ phải gánh tới $37,859.00 (ba mươi bảy ngàn tám trăm năm mươi chín đô la) nợ liên bang.


Số tiền khổng lồ nói trên mới chỉ là nợ quốc gia liên bang, tức là tiền do nhà nước trung ương vay mượn. “Thi đua” với nhà nước liên bang, chính quyền các bang, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp và người dân cũng vay nợ, đưa tổng số nợ của toàn nước Mỹ lên tới một con số không thể tưởng tượng nổi : 57 ngàn tỷ đô la (tính đến năm 2008), bình quân mỗi người Mỹ không kể già trẻ lớn bé đang phải gánh một khoản nợ 186 ngàn đô la, mỗi gia đình gánh một khoản nợ 746 ngàn đô la.


Cả nước Mỹ đang chi tiêu quá xa so với khả năng của mình. Chính phủ lấy gì trả nợ ? Lấy khoản thuế “trong tương lai”. Người dân lấy gì trả nợ ? Lấy thu nhập “trong tương lai”.

Nợ nần là điều làm các nhà lập quốc Hoa Kỳ luôn bất an, luôn lo lắng, luôn ghê tởm, thậm chí đem tính mạng của mình ra để ngăn chặn, lại là điều các nhà kinh tế học chính thống và các chính trị gia hiện đại mặc nhiên coi là chuyện bình thường. Chỉ một khoản sơ hở trong Hiến pháp (Quốc hội được quyền vay nợ), có lẽ đó chỉ là điều khoản đề phòng bất trắc địch họa thiên tai, điều khoản mà Jefferson thấy trước nguy cơ nhưng không đủ sức xóa bỏ, hơn hai trăm năm sau đã biến nước Mỹ thành một biển nợ. Và các nhà kinh tế, theo chân các chính trị gia và các nhà tài phiệt, đã xây dựng các học thuyết kinh tế nhằm hợp lý hóa những núi nợ đó, nhưng phớt lờ luôn một điều khoản quan trọng khác trong Hiến pháp là phải trả nợ bằng tiền vàng hoặc bạc.

Muốn hiểu nợ, in tiền và lạm phát một cách có bài bản, trước hết phải h
ọc thuộc lòng các “bảo điển” của thầy Keynes và các chiêu thức biến hóa của các đồ đệ của thầy. Muốn “sống chung” với nợ thì không có cách nào là phải luyện các “bảo điển” đó.

Còn muốn học tự do, thì có thể học nhiều điều từ các nhà lập quốc Mỹ thế kỷ 18-19. Học tự do từ các thầy keynesian chính thống của nước Mỹ ngày nay chẳng khác nào tự “thiến” luôn tự do của mình.

(lúc nào rảnh viết tiếp)



Lọat bài liên quan :
Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu

Chủ Nhật, ngày 19 tháng 7 năm 2009

Vĩnh biệt một nhà báo chính trực


Ngôi sao truyền hình huyền thoại Mỹ Walter Cronkite vừa qua đời ngày 17-7 ở tuổi 92, trong lòng ngưỡng mộ không tàn phai của nước Mỹ.

Ông là một trong những nhà báo đứng ở trung tâm thời cuộc chứng kiến hầu hết những sự kiện nóng bỏng của thế kỷ 20, kể từ khi bắt đầu Đại chiến thế giới lần thứ hai. Đặc biệt, với tư cách là một nhà báo và người dẫn chương trình thời sự buổi tối của hãng truyền hình CBS trong suốt hai mươi năm (1962-1981), Cronkite trở thành người gần gũi thân thiết với hàng triệu gia đình Mỹ bởi lòng trung thực, thái độ thẳng thắn và giọng nói ấm áp của mình. Mỗi buổi tối, ông đem đến cho công chúng những thông tin khách quan về những sự kiện lớn lao, những điều có ý nghĩa của nước Mỹ và thế giới cùng những thảm họa, những đau thương và những sai lầm, những chuyện xấu xa của nhà cầm quyền, bất chấp những người cầm quyền có thích hay không.

Ông phản đối chính quyền Mỹ leo thang chiến tranh Việt Nam bằng những tường thuật khách quan nóng hổi. Tiếng nói của ông đã góp phần thúc đẩy phong trào phản chiến và đòi hòa bình. Ông đã đến Việt Nam sau sự kiện Mậu Thân năm 1968 để làm phim phóng sự về chiến trường và kêu gọi đàm phán hòa bình. Tiếng nói của Cronkite có sức thuyết phục lớn đối với công chúng, đến nỗi tổng thống Johson khi xem các tường thuật của ông đã phải thốt lên : “Well, if I’ve lost Cronkite, I’ve lost middle America” (Giỏi lắm, nếu tôi để mất Cronkite, tôi mất giới (cử tri) trung lưu nước Mỹ).

Người Mỹ đã bầu chọn ông là “người đàn ông đáng tin cậy nhất nước Mỹ” (1972).

Ngay sau khi Walter Cronkite qua đời, tổng thống Obama đã hết lời ca ngợi ông. “His rich baritone reached millions of living rooms every night, and in an industry of icon, Walter set the standard by which all others have been judged”, ông Obama nói, “But Walter was always more than just an anchor. He was family. He invite us to believe in him, and he never let us down”.


Thông tin liên quan :

Walter Cronkite trên widipedia

Cronkite “never let us down”, Obama says

Bài trên New York Times khi Walter Cronkite qua đời,17-7


Thứ Năm, ngày 16 tháng 7 năm 2009

Tagore nói (2) :


*
Power said to the world, "You are mine"
The world kept it prisoner on her throne
Love said to the world, "I am thine"
The world gave it the freedom of her house

(Stray Birds,
93)

Quyền thế bảo cõi đời rằng :
"Ngươi là của ta"
và cõi đời đã cầm tù quyền thế
ngay trên ngai vàng của nó.
Tình yêu nói với cõi đời rằng :
"Ta là của ngươi"
Và cõi đời đã để cho tình yêu
được tự do ở nhà mình.
(Đào Xuân Qúy dịch)

*
Bees sip honey from flowers and hum their thanks when they leave.
The gaudy butterfly is sure that the flowers owe thanks to him.
(Stray Birds, 127)

Đàn ong hút mật trong hoa
và khi đi, đã nói những lời cảm tạ.
Con bướm diêm dúa thì yên trí rằng
hoa phải cảm tạ mình.
(Đào Xuân Qúy dịch)

*
"How may I sing to thee and worship, O Sun ?", asked the little flower.
"By the simple silence of thy purity", answered the sun.
(Stray Birds, 247)

Hoa nhỏ hỏi : "Mặt trời ơi,
Tôi có thể tôn thờ và ca tụng người
như thế nào đây ?"
Và mặt trời đã trả lời :
"Bằng sự im lặng giản đơn
của lòng trong trắng"
(Đào Xuân Qúy dịch)

Thứ Bảy, ngày 11 tháng 7 năm 2009

Alan Greenspan nói về bản vị vàng


Trước khi viết tiếp loạt bài "Chiến sĩ bảo vệ tự do", xin giới thiệu một bài viết thú vị "Gold and Economic Freedom" của Alan Greenspan, viết vào năm 1966 khi ông chưa trở thành Chủ tịch FED. Bài viết này đã được triết gia kiêm nhà văn nổi tiếng Ayn Rand (tác giả tiểu thuyết Suối Nguồn) in lại vào cuốn sách Capitalism, The Unknown Ideal, một non-fiction book của bà, xuất bản năm 1967.


Sau này trong suốt thời gian làm Chủ tịch FED, Greenspan hình như đã "lờ" luôn ý tưởng này, dù thỉnh thoảng ông vẫn nói ông là một trong số ít người còn "quyến luyến" với bản vị vàng và có lần còn tuyên bố FED là một "mô phỏng" của bản vị vàng. Sau khi rời khỏi FED, trong cuốn sách The Age of Turbulence (Kỷ nguyên hỗn loạn), Greenspan bảo rằng ông "vẫn luôn luôn hồi tưởng lại tác dụng bình ổn giá của chế độ bản vị vàng", rằng "tỉ lệ lạm phát trong giai đoạn bản vị vàng là bằng không", rằng "trong thời kỳ hoàng kim của bản vị vàng từ 1870 đến 1913, mức sống tại Mỹ, theo tính toán của Ngân hàng Fed New York, tăng trung bình khoảng 0,2% mỗi năm", rằng sau khi xóa bản vị vàng, từ năm 1939 đến 1989 "giá tiêu dùng tăng 9 lần"...


GOLD AND ECONOMIC FREEDOM

by ALAN GREENSPAN

An almost hysterical antagonism toward the gold standard is one issue which unites statists of all persuasions. They seem to sense-perhaps more clearly and subtly than many consistent defenders of laissez-faire -- that gold and economic freedom are inseparable, that the gold standard is an instrument of laissez-faire and that each implies and requires the other.

In order to understand the source of their antagonism, it is necessary first to understand the specific role of gold in a free society.


Money is the common denominator of all economic transactions. It is that commodity which serves as a medium of exchange, is universally acceptable to all participants in an exchange economy as payment for their goods or services, and can, therefore, be used as a standard of market value and as a store of value, i.e., as a means of saving.


The existence of such a commodity is a precondition of a division of labor economy. If men did not have some commodity of objective value which was generally acceptable as money, they would have to resort to primitive barter or be forced to live on self-sufficient farms and forgo the inestimable advantages of specialization. If men had no means to store value, i.e., to save, neither long-range planning nor exchange would be possible.


What medium of exchange will be acceptable to all participants in an economy is not determined arbitrarily. First, the medium of exchange should be durable. In a primitive society of meager wealth, wheat might be sufficiently durable to serve as a medium, since all exchanges would occur only during and immediately after the harvest, leaving no value-surplus to store. But where store-of-value considerations are important, as they are in richer, more civilized societies, the medium of exchange must be a durable commodity, usually a metal. A metal is generally chosen because it is homogeneous and divisible: every unit is the same as every other and it can be blended or formed in any quantity. Precious jewels, for example, are neither homogeneous nor divisible. More important, the commodity chosen as a medium must be a luxury. Human desires for luxuries are unlimited and, therefore, luxury goods are always in demand and will always be acceptable. Wheat is a luxury in underfed civilizations, but not in a prosperous society. Cigarettes ordinarily would not serve as money, but they did in post-World War II Europe where they were considered a luxury. The term "luxury good" implies scarcity and high unit value. Having a high unit value, such a good is easily portable; for instance, an ounce of gold is worth a half-ton of pig iron.


In the early stages of a developing money economy, several media of exchange might be used, since a wide variety of commodities would fulfill the foregoing conditions. However, one of the commodities will gradually displace all others, by being more widely acceptable. Preferences on what to hold as a store of value, will shift to the most widely acceptable commodity, which, in turn, will make it still more acceptable. The shift is progressive until that commodity becomes the sole medium of exchange. The use of a single medium is highly advantageous for the same reasons that a money economy is superior to a barter economy: it makes exchanges possible on an incalculably wider scale.


Whether the single medium is gold, silver, seashells, cattle, or tobacco is optional, depending on the context and development of a given economy. In fact, all have been employed, at various times, as media of exchange. Even in the present century, two major commodities, gold and silver, have been used as international media of exchange, with gold becoming the predominant one. Gold, having both artistic and functional uses and being relatively scarce, has significant advantages over all other media of exchange. Since the beginning of World War I, it has been virtually the sole international standard of exchange. If all goods and services were to be paid for in gold, large payments would be difficult to execute and this would tend to limit the extent of a society's divisions of labor and specialization. Thus a logical extension of the creation of a medium of exchange is the development of a banking system and credit instruments (bank notes and deposits) which act as a substitute for, but are convertible into, gold.


A free banking system based on gold is able to extend credit and thus to create bank notes (currency) and deposits, according to the production requirements of the economy. Individual owners of gold are induced, by payments of interest, to deposit their gold in a bank (against which they can draw checks). But since it is rarely the case that all depositors want to withdraw all their gold at the same time, the banker need keep only a fraction of his total deposits in gold as reserves. This enables the banker to loan out more than the amount of his gold deposits (which means that he holds claims to gold rather than gold as security of his deposits). But the amount of loans which he can afford to make is not arbitrary: he has to gauge it in relation to his reserves and to the status of his investments.


When banks loan money to finance productive and profitable endeavors, the loans are paid off rapidly and bank credit continues to be generally available. But when the business ventures financed by bank credit are less profitable and slow to pay off, bankers soon find that their loans outstanding are excessive relative to their gold reserves, and they begin to curtail new lending, usually by charging higher interest rates. This tends to restrict the financing of new ventures and requires the existing borrowers to improve their profitability before they can obtain credit for further expansion. Thus, under the gold standard, a free banking system stands as the protector of an economy's stability and balanced growth.


When gold is accepted as the medium of exchange by most or all nations, an unhampered free international gold standard serves to foster a world-wide division of labor and the broadest international trade. Even though the units of exchange (the dollar, the pound, the franc, etc.) differ from country to country, when all are defined in terms of gold the economies of the different countries act as one -- so long as there are no restraints on trade or on the movement of capital. Credit, interest rates, and prices tend to follow similar patterns in all countries. For example, if banks in one country extend credit too liberally, interest rates in that country will tend to fall, inducing depositors to shift their gold to higher-interest paying banks in other countries. This will immediately cause a shortage of bank reserves in the "easy money" country, inducing tighter credit standards and a return to competitively higher interest rates again.


A fully free banking system and fully consistent gold standard have not as yet been achieved. But prior to World War I, the banking system in the United States (and in most of the world) was based on gold and even though governments intervened occasionally, banking was more free than controlled. Periodically, as a result of overly rapid credit expansion, banks became loaned up to the limit of their gold reserves, interest rates rose sharply, new credit was cut off, and the economy went into a sharp, but short-lived recession. (Compared with the depressions of 1920 and 1932, the pre-World War I business declines were mild indeed.) It was limited gold reserves that stopped the unbalanced expansions of business activity, before they could develop into the post-World War I type of disaster. The readjustment periods were short and the economies quickly reestablished a sound basis to resume expansion.


But the process of cure was misdiagnosed as the disease: if shortage of bank reserves was causing a business decline-argued economic interventionists -- why not find a way of supplying increased reserves to the banks so they never need be short! If banks can continue to loan money indefinitely -- it was claimed -- there need never be any slumps in business. And so the Federal Reserve System was organized in 1913. It consisted of twelve regional Federal Reserve banks nominally owned by private bankers, but in fact government sponsored, controlled, and supported. Credit extended by these banks is in practice (though not legally) backed by the taxing power of the federal government. Technically, we remained on the gold standard; individuals were still free to own gold, and gold continued to be used as bank reserves. But now, in addition to gold, credit extended by the Federal Reserve banks ("paper reserves") could serve as legal tender to pay depositors.


When business in the United States underwent a mild contraction in 1927, the Federal Reserve created more paper reserves in the hope of forestalling any possible bank reserve shortage. More disastrous, however, was the Federal Reserve's attempt to assist Great Britain who had been losing gold to us because the Bank of England refused to allow interest rates to rise when market forces dictated (it was politically unpalatable). The reasoning of the authorities involved was as follows: if the Federal Reserve pumped excessive paper reserves into American banks, interest rates in the United States would fall to a level comparable with those in Great Britain; this would act to stop Britain's gold loss and avoid the political embarrassment of having to raise interest rates.


The "Fed" succeeded; it stopped the gold loss, but it nearly destroyed the economies of the world in the process. The excess credit which the Fed pumped into the economy spilled over into the stock market -- triggering a fantastic speculative boom. Belatedly, Federal Reserve officials attempted to sop up the excess reserves and finally succeeded in braking the boom. But it was too late: by 1929 the speculative imbalances had become so overwhelming that the attempt precipitated a sharp retrenching and a consequent demoralizing of business confidence. As a result, the American economy collapsed. Great Britain fared even worse, and rather than absorb the full consequences of her previous folly, she abandoned the gold standard completely in 1931, tearing asunder what remained of the fabric of confidence and inducing a world-wide series of bank failures. The world economies plunged into the Great Depression of the 1930's.


With a logic reminiscent of a generation earlier, statists argued that the gold standard was largely to blame for the credit debacle which led to the Great Depression. If the gold standard had not existed, they argued, Britain's abandonment of gold payments in 1931 would not have caused the failure of banks all over the world. (The irony was that since 1913, we had been, not on a gold standard, but on what may be termed "a mixed gold standard"; yet it is gold that took the blame.) But the opposition to the gold standard in any form -- from a growing number of welfare-state advocates -- was prompted by a much subtler insight: the realization that the gold standard is incompatible with chronic deficit spending (the hallmark of the welfare state). Stripped of its academic jargon, the welfare state is nothing more than a mechanism by which governments confiscate the wealth of the productive members of a society to support a wide variety of welfare schemes. A substantial part of the confiscation is effected by taxation. But the welfare statists were quick to recognize that if they wished to retain political power, the amount of taxation had to be limited and they had to resort to programs of massive deficit spending, i.e., they had to borrow money, by issuing government bonds, to finance welfare expenditures on a large scale.


Under a gold standard, the amount of credit that an economy can support is determined by the economy's tangible assets, since every credit instrument is ultimately a claim on some tangible asset. But government bonds are not backed by tangible wealth, only by the government's promise to pay out of future tax revenues, and cannot easily be absorbed by the financial markets. A large volume of new government bonds can be sold to the public only at progressively higher interest rates. Thus, government deficit spending under a gold standard is severely limited. The abandonment of the gold standard made it possible for the welfare statists to use the banking system as a means to an unlimited expansion of credit. They have created paper reserves in the form of government bonds which -- through a complex series of steps -- the banks accept in place of tangible assets and treat as if they were an actual deposit, i.e., as the equivalent of what was formerly a deposit of gold. The holder of a government bond or of a bank deposit created by paper reserves believes that he has a valid claim on a real asset. But the fact is that there are now more claims outstanding than real assets. The law of supply and demand is not to be conned. As the supply of money (of claims) increases relative to the supply of tangible assets in the economy, prices must eventually rise. Thus the earnings saved by the productive members of the society lose value in terms of goods. When the economy's books are finally balanced, one finds that this loss in value represents the goods purchased by the government for welfare or other purposes with the money proceeds of the government bonds financed by bank credit expansion.


In the absence of the gold standard, there is no way to protect savings from confiscation through inflation. There is no safe store of value. If there were, the government would have to make its holding illegal, as was done in the case of gold. If everyone decided, for example, to convert all his bank deposits to silver or copper or any other good, and thereafter declined to accept checks as payment for goods, bank deposits would lose their purchasing power and government-created bank credit would be worthless as a claim on goods. The financial policy of the welfare state requires that there be no way for the owners of wealth to protect themselves.


This is the shabby secret of the welfare statists' tirades against gold. Deficit spending is simply a scheme for the confiscation of wealth. Gold stands in the way of this insidious process. It stands as a protector of property rights. If one grasps this, one has no difficulty in understanding the statists' antagonism toward the gold standard.


Thứ Năm, ngày 09 tháng 7 năm 2009

Vĩnh cửu tuổi hai mươi


Vĩnh cửu tuổi hai mươi

Các anh nằm lại đây

Trung trinh hàng mộ trắng

Hoang vu trên đồi cao bỏng nắng

Đất nước ơi,

Người tiếc chi ngọn gió lành !


Ba mươi lăm năm (*) ba cuộc chiến tranh

Giọt máu tươi ủ trong lòng đất

Âm vang bài ca giữ nước

Xa mờ đêm liên hoan


Trăm nẻo đời thường ai nhớ ai quên

Một nén hương cho ngày tảo mộ


Vĩnh cửu tuổi hai mươi

Trong hoang tàn chiến trận

Giữa cơn đói cơn khát

Giữa hờn căm và sợ hãi

Giữa khát vọng thanh bình không với tới


Mẹ ơi tóc mẹ đã mấy lần bạc

Lưng mẹ đã mấy lần còng

Mái rạ mấy lần bão cuốn

Mẹ vẫn ngày ngày đi mót khoai


Ba mươi lăm năm ba cuộc chiến tranh

chưa ai kịp ngồi tính sổ

Bao nhiêu nắm xương còn lạc giữa rừng sâu

Bao bà mẹ đêm đêm vẫn chờ con bên ngọn đèn dầu...


Tổ quốc Tổ quốc

Người còn bận với quyền uy lâu đài chiến tích

Không kịp làm đại tang tiễn đưa triệu triệu người đã khuất


Vĩnh cửu tuổi hai mươi

Vĩnh cửu tuổi hai mươi


1982-2009

HOÀNG HẢI VÂN

______

* 35 năm : 1945-1980

Thứ Sáu, ngày 03 tháng 7 năm 2009

"Như chưa hề có cuộc chia ly" số 20


Update (4-7) :
Xem chương trình tại đây

“Như chưa hề có cuộc chia ly” lần thứ 20 sẽ truyền hình trực tiếp trên VTV1, VTV4 và VTV9 vào lúc 20h, tối mai, 4-7-2009.

Ai xem “Như chưa hề có cuộc chia ly” số 19 diễn ra hai tuần trước đều biết ở phần cuối có một tình huống không mong đợi : người đã tìm được bỗng dưng biến mất, không có mặt tại trường quay để gặp mẹ. Đó là trường hợp của Lại Anh Tuấn.

Tuấn là nạn nhân chất độc da cam, không nói không nghe được, đi khỏi nhà đã 9 năm và biệt tăm biệt tích. Theo yêu cầu của người mẹ, Đội Tìm kiếm của chương trình đã tìm được em tại xã Mỹ Qúy, huyện Tháp Mười, Đồng Tháp và dự định đưa em đến trường quay gặp mẹ vào lần trước.

Nhưng Tuấn hoàn toàn không hiểu chuyện gì đang xảy ra, không ai có thể giải thích được cho em hiểu rằng mẹ em đang tìm em, rằng em sẽ lên xe về Sài Gòn gặp mẹ. Vì vậy thay vì lên xe, em đã vác ba lô biến mất (Tuấn thường vác ba lô đi làm thuê, nay chỗ này mai chỗ khác để kiếm sống).

Những người làm chương trình lại lên đường tìm kiếm, lần này có mẹ của Tuấn cùng đi. Kết quả sẽ biết trong chương trình tối mai.

Cũng trong tối mai, chúng ta sẽ chứng kiến thêm nhiều nỗi đau chia cắt, những chờ mong thống thiết, những tiếng kêu vô vọng, và dĩ nhiên, sẽ có thêm những cuộc đoàn tụ mới (sẽ update trên Blog này sau khi phát sóng).


Xem tất cả các chương trình đã phát tại đây