Thứ Sáu, ngày 28 tháng 8 năm 2009

Đọc Bùi Giáng (II)


Kể từ khởi sự mọc răng
Đến bây giờ vẫn thường hằng chiêm bao
(Bùi Giáng)

“… Và ngày nay, hẳn nhiên, đã sáu năm rồi... Tôi chưa lần nào kể lại chuyện này. Những bạn bè gặp lại tôi đã hài lòng thấy tôi thoát nạn mà trở về. Tôi buồn rầu nhưng tôi bảo họ: Ấy chỉ vì mệt mỏi...

Bây giờ tôi thấy hơi an ủi. Nghĩa là... không hoàn toàn an ủi. Nhưng tôi biết rõ lắm là chú bé đã trở về tinh cầu mình, bởi vì lúc trời sáng, tôi không thấy tấm thân chú ở đâu. Tấm thân chẳng có chi nặng lắm... Và tôi thích lắng nghe tinh tú ban đêm. Ấy cũng như là năm trăm triệu chuông con lấp lánh dịu dàng reo...

Nhưng rồi lại có một sự kỳ lạ xảy ra.

Cái rọ bịt mõm mà tôi đã vẽ cho hoàng tử bé, tôi đã quên thêm vào cái đai da! Chú sẽ chẳng bao giờ cột được cái rọ vào mồm con cừu. Tôi tự hỏi: "Việc gì đã xảy ra trên tinh cầu của chú bé? Có thể rằng con cừu đã ăn mất đóa hoa..."

Lúc thì tôi tự nhủ: "Chắc hẳn là không! Hoàng tử bé đêm nào cũng nhốt kín đóa hoa dưới bầu tròn bằng gương, và chú canh chừng kỹ lưỡng con cừu..." Thế là tôi sung sướng. Và mọi tinh tú dịu dàng cười.

Lúc thì tôi tự nhủ: "Làm sao khỏi có một lúc nào đó người ta lơ đễnh, và chừng đó đủ rồi! Một đêm nào, chú đã quên cái bầu tròn, hoặc là con cừu đã mò ra không tiếng động..." Thế là những chuông con biến hết thành lệ!...

Đó là một bí mật rất lớn. Đối với bạn, bạn cũng yêu hoàng tử bé, cũng như đối với tôi, không có gì của vũ trụ còn giống như nguyên, nếu một nơi nào đó, chẳng biết là đâu, một con cừu mà chúng ta không biết, đã có hay không, ăn mất một đóa hồng...

Bạn nhìn trời đi. Hãy tự hỏi: con cừu, có hay không có ăn mất đóa hoa? Và bạn sẽ thấy mọi sự thay đổi xiết bao...

Và không một người lớn nào sẽ hiểu rằng sự ấy có hệ trọng chi nhiều như thế!”.

Đoạn trên trích trong chương cuối Hoàng tử bé (Le Petit Prince) của Saint – Exupéry, Bùi Giáng là người đầu tiên dịch cuốn sách này ra tiếng Việt.

“Lúc thì tôi tự nhủ … Thế là tôi sung sướng. Và mọi tinh tú dịu dàng cười”.

“Lúc thì tôi tự nhủ … Thế là những chuông con biến hết thành lệ”.

“Không có gì của vũ trụ còn giống như nguyên, nếu một nơi nào đó, chẳng biết là đâu, một con cừu mà chúng ta không biết, đã có hay không, ăn mất một đóa hồng…Và không một người lớn nào sẽ hiểu rằng sự ấy có hệ trọng chi nhiều như thế !”.

Những câu đó đeo đẳng trong người tôi hơn ba mươi năm, mỗi lần nhẩm lại là mỗi lần thấy mình khác trước. Hoàng tử bé, một cuốn sách huyền diệu đã làm nhân loại tốt hơn lên một chút. Nó là một cuốn Kinh, là Thánh Kinh, là Bát Nhã Ba La Mật Đa. Nhưng tại sao người đầu tiên “xiển dương” cuốn sách đó ở Việt Nam lại chính là Bùi Giáng chứ không phải là ai khác ?

Người ta bình phẩm nhiều về cái điên của Bùi Giáng. Nói ông điên thật hay nói ông “điên nhưng không điên” đều không sai. Nhưng điên thì có sao đâu. Tôi rất thích cách nghĩ của Mai Thảo trong một bài viết về Bùi Giáng : “Nhiều người bảo ông chỉ là một thằng điên. Tôi chỉ muốn nghĩ thầm cho tôi là nếu có thêm được ít người điên như Bùi Giáng, thơ ca ta văn học ta còn được lạ lùng được kỳ ảo biết bao nhiêu”. Là bởi ông điên, nên ông mới đi lạc vào sa mạc để dìu cõi uyên nguyên Saint-Ex về với bình nguyên ngôn ngữ Việt ?

Đối với người thường chúng ta, thực là thực, mộng là mộng, hai cái xa rời cách biệt. Đối Bùi Giáng, hai cái chỉ là một, cõi nọ liền với cõi kia như “trường giang thiên tế lưu”, vậy là điên chăng ? Cõi đời này gò bó chật chội với những chuẩn mực những quy tắc những gông xiềng hữu hình và vô hình, ông tự mở cho dài cho rộng ra, ông mở ra cho riêng ông, mở tới tám kỳ càn khôn, tới miên viễn thiên thu để tung tăng chơi bời cho thỏa thích, vậy là điên chăng ?

Thế kỷ 20 nhân loại kêu gào tự do, nhưng càng kêu gào càng bị trói buộc, lắm khi tự trói bởi chính sự kêu gào của mình. Bùi Giáng không kêu gào Tự do, ông sống một cuộc đời tự do tự tại. Nên nhìn nhận rằng Tự do không phải là khát vọng, không phải là ước mơ của Bùi Giáng, đối với ông nó là hiện tồn hiện hữu là châu chấu chuồn chuồn.

Những sách triết học của ông mới đọc qua thấy tức cười. Chuồn chuồn châu chấu cùng Khổng Tử, Trang Tử, Nguyễn Du, Lý Bạch, các vị Bồ Tát … dắt theo các mẫu thân Kim Cương, Phùng Khánh, Marylin Monroe, Brigitte Bardot, em Mọi nhỏ … tề tựu về với Nietzsche, Kierkegaard, Heidegger, Camus… Ông trộn Kiều vào Bát Nhã Hoa Nghiêm, rắc thi ca vào tư tưởng, tung xiêm váy vào chốn tôn nghiêm. Ông giải thích : “Triết học sau bao lần dọ dẫm tơi bời ở mọi đường quanh nẻo quẹo, cuối cùng đã không còn là một bi kịch ray rứt, một suy tư nghiêm nhặt, để trở thành một lời ca vi vu” (Tư tưởng Hiện đại). Về những em út váy xiêm mà chúng ta thấy lộn tùng phèo đó, Bùi Giáng bảo đó là những “tượng-số-thiên-nhiên”, những “tượng-số-tồn-thể”, nó phải “nằm tròn trong triết học hôm nay”. Ông nghiêm túc : “Khoa học giết người, triết học giết người. Khoa học giết người, ta nhìn thấy rõ. Triết học giết người, ta không nhìn thấy rõ. Và ít ai hiểu rằng sở dĩ khoa học giết được nhiều con người đến thế là chính bởi triết học khốn nạn đã dọn đường, chính triết học hư tà đã phạm tội trước tiên. Khoa học thơ ngây được phép không ngờ. Khoa học đã hồn nhiên gieo bóng tối. Nhưng cái ghê tởm nhất là cái bóng tối từ giữa lòng triết học tỏa ra” (sđd). “Suốt hai mươi mấy thế kỷ, các ngài triết gia học giả Âu Tây đã gây điên đảo cho triết học như thế nào ? Và từ một vài thế kỷ nay, tại sao khoa học đã gieo rắc đau thương nhiều đến thế ? Phải nêu câu hỏi đó lên, ta mới rõ vì sao Einstein một mực đòi đi bán bánh mì, Heidegger cùng với Nietzsche, một mực đòi chôn vùi hay đập vỡ nền triết học từ Aristote về sau” (sđd).

Thơ ông lạ lùng kỳ ảo, đã đành rồi. Nhưng suy tư triết học của ông cũng lạ lùng kỳ ảo không kém. Tôi đã đọc đi đọc lại Nam Hoa Kinh của Trang Tử, chỉ hiểu sơ sơ vài điều, còn cái ảo diệu siêu phàm của Nam Hoa Kinh là chương “Tề vật luận” thì tôi thấy như đám mây mù. Nhưng khi đọc Bùi Giáng viết về Nam Hoa Kinh tôi thấy khiếp. Ông nô đùa bỡn cợt với Trang Tử, khi thì “Ta – Ngươi”, khi thì “Tao – Mày”. Ông chép ra một đoạn trong “Tề Vật luận” nguyên văn chữ Hán và bảo người dịch đã để cho “những dư vang và vọng hưởng của nguyên ngữ bị chìm tắt rất nhiều”, rồi nói “nếu như phép ngụ ngôn trùng ngôn chi ngôn của Trang tử chỉ là một lối giảng giải luộm thuộm cho ngôn ngữ lô hỏa thuần thanh của Mưa Nguồn”, thì có lẽ nào mà Trung Niên Thy Sỹ là ông đây lại từ chối nhận Trang Tử làm đồ đệ mặc dù Trang Tử “phạm nhiều tội lỗi đầy rẫy máu me” ? Ông làm một trận nhảy nhót mua may, rồi lại bảo : “Than ôi ! Trang Tử ạ ! Một ngàn vạn mẫu thân sa mù chiếu cố cho nấm mộ của ta, cũng chẳng thể nào gột rửa được nỗi đau lòng của ta trước hai ngàn năm rưỡi ngổn ngang mà nhà ngươi đã gây ra giữa dâu biển”. Nghe ông nhảy múa mà như thấy ông vén đám mây mù.

Ông bỡn cợt với Trang, nhưng không đùa với Khổng. Mấy ngàn năm nay người ta chỉ chú trọng cái phần gọi là “thánh” của Khổng Tử, tôn thờ ngưỡng vọng cũng ở đó mà chê bai mạt sát cũng ở đó, phần đó Khổng Tử bán mình cho nhân gian, còn phần “người” của ông thì ông không bán mà thiên hạ cũng không ai mua. Bùi Giáng viết : Tự bao đời, Khổng giáo đã chỉ còn là một mớ ước lệ câu thúc cá nhân. Và mỗi lần cha ông chúng ta nhắc “Khổng tử viết…” là mỗi lần danh từ xô bồ đã che lấp sự thật. Còn đâu cái tấm lòng dào dạt vô biên của Khổng Khưu, con người của lẽ “tùy thời biến dịch”, con người cẩn trọng “dư dục vô ngôn”…”. Và tôi chưa từng nghe ai nói về Khổng Tử như Bùi Giáng nói : “Nghe lá cây lá cỏ vi vu, ông ghi chép ra làm Dịch Kinh. Nghe trẻ con ca hát, ông chép ghi ra làm Thi Kinh”. Và bạn sẽ nhìn Khổng Tử bằng con mắt khác.

Mẹ về trong cõi người ta
Một hôm mẹ gọi con ra bảo rằng
Trần gian vui sướng lắm chăng
Hay là đau khổ hỡi thằng chiêm bao

Ông chiêm bao thường hằng, nên ông gọi ông là “thằng chiêm bao”. Chiêm bao là hiện tại là quá khứ là tương lai là vô thỉ vô chung là quê hương bản quán : “Hỗn mang về giữa quê nhà/Bây giờ cố quận tên là chiêm bao”.

Cuộc vui sắp chấm dứt rồi
Hãy xin tiếp tục bồi hồi cuối cơn
Em vui ngày đó dập dồn’
Giờ xin gắng gượng bồn chồn cũng vui
Ngày mai dâu biển chôn vùi
Trầm phù tiếp tục niềm vui suối vàng

Bùi Giáng “cuồng” Huy Cận có lẽ ngang với “cuồng” Nguyễn Du. Đọc lại bài ông viết về Huy Cận trong tập “Đi vào cõi thơ”:

“… Bao nhiêu màu quan san ly biệt bàng bạc trong Truyện Kiều, bỗng nhiên về quy tụ tinh hoa trong một bài “Thuyền Đi” của Huy Cận.
Trăng lên trong lúc đang chiều
Gió về trong lúc ngọn triều mới lên
Thuyền đi sông nước ưu phiền
Buồm treo ráng đỏ giong miền viễn khơi


Sang đêm thuyền đã xa vời
Người ra cửa biển nghe hơi lạnh lùng
Canh khuya tạnh vắng bên cồn
Trăng phơi đầu bãi nước dồn mênh mang


Thuyền người đi một tuần trăng
Sầu ta theo nước trường giang lững lờ
Tiễn đưa dôi nuối đợi chờ
Trông nhau bữa ấy bây giờ nhớ nhau.

Lời thơ đi phiêu phiêu, tuyệt nhiên không thấy dấu vết một chút kỹ thuật nào còn vướng sót. Tưởng như không còn một chút cố gắng tìm lời lựa ý gì hết cả. Nguồn thơ ngập tràn dâng lên nhẹ nhẹ, len lõi thấm nhuần mọi ngôn ngữ ly biệt Nguyễn Du và toàn thể Đông Phương Lữ Thứ, Tây Phương Lang Thang.

Các bạn thử thong dong hình dung lại cái khối Đường Thi Vương Duy, Lý Bạch, Thôi Hiệu, Thôi Hộ, Cao Thích, Sầm Tham, Apollinaire, xem thử có một cái gì lọt ngoài vòng lục bát Huy Cận kia chăng.”

Ông lai rai nhâm nhi từng câu từng đoạn, khiến ta như thấy những câu thơ đó bay lượn dặt dìu trong cõi hồn uyên nguyên bát ngát của ông, rồi hạ bút đưa Huy Cận lên chín tầng mây :

“Bấy lâu chúng ta quen nghĩ rằng Huy Cận chỉ là nhà thơ có cảm giác bén nhạy và tài hoa riêng biệt trong phép tả cảnh tả tình sầu. Nhưng thật ra Huy Cận là khối óc vĩ đại đạt tới một cõi tư tưởng bát ngát nên tự nhiên như nhiên, lời thơ ông đi vào trong phong cảnh bao la, dội vào đáy thẳm thiên nhiên, và gửi lại cho ta những dư vang bất tận. Khối óc kia cũng là thông tuệ của tâm thể thiên tài”.

Rồi bất ngờ dẫn ra bài thơ Chết của Huy Cận, ông viết tiếp :

“Huy Cận tặng Thần Chết một bài thơ cảm động. Nói là tặng Thần Chết nhưng cũng là dâng cho Cuộc Sống. Cuộc Sống ôi! Hình dạng của Thần Chết đã ra như thế thì Thánh Sống nghĩ sao?
Ắt nghĩ rằng: nên kiệt tận miên bạc bình sinh để sống cho đậm đà thơ mộng. Vì không làm thế, thì cái sống sẽ giống tợ tợ như cái chết.

Cái chết trông dị dạng quá. Mà hằng ngày vô tình ta sống theo lối chết đó. Tuy không đến nỗi căm căm gớm guốc như thế, nhưng cũng tai hại điêu linh gần bằng. Chúng ta dường như quên mất rằng mỗi người chỉ có một cuộc sống thật xinh, và cuộc sống đó rất có thể bị những thứ tai hại trong hồn ta làm cho méo mó đi. Và meo mốc tử khí bám đầy rẫy cái hình hài cuộc sống.

Tiếc sao! Tiếc sao! Một sự sống quá đơn sơ, chúng ta cứ đời đời quên bẵng.

Xin một lần thử thong dong nhìn lại rõ bộ mặt cái chết, để hỏi lại linh hồn mình nên nhớ lại chuyện chi.

Thì từ đó rất có thể rằng cái chết hãi hùng sẽ là một cơ hội huy hoàng cho cái sống thành tựu được tinh hoa. Ta sẽ nhìn các em, các em sẽ nhìn con chim, con cá. Con cá sẽ nhìn con giế con giun… Mọi mọi sinh vật sẽ mọi mọi nhìn nhau bằng một nhãn quan khác hẳn. Và cõi đời từ đó sẽ đúng là đời cõi của yêu thương.

Đức Phật ôi! Chính Ngài đã có cái dụng tâm giống như chàng Huy Cận. Ngài đã đem những não nùng sinh lão bệnh tử ra nói lên cho kiếp phù du thể hội cái nghĩa não nùng, là phát nguyện bi tâm để dìu tồn sinh về bỉ ngạn…”
.
Và không quên mời thêm cụ Nguyễn Du, ngài Heidegger, chàng Apollinaire… và đưa cả mẫu thân Marilyn Monroe vào cuộc lai rai. Ông thú nhận khi nghe tin Marilyn Monroe lìa đời, ông đã buồn bã suốt mấy tháng, ông bảo “phải chi bình sinh nàng Monroe đọc thơ Huy Cận”… Ông chép tặng nàng thêm bài Nhạc Sầu, bài thơ chết thứ hai của Huy Cận, rồi viết tiếp :
“Nhưng cố nhiên, chép xong rồi thì nên xếp giấy lại, ra đường phố dạo một phen rong chơi. Để nhìn lại đậm đà những tà áo phấp phới. Chẳng nên đăm chiêu dằng dặc. Chẳng nên o bế cái chết. Kéo dây dưa cuộc tình duyên với Tử Thần, là điều tối kị. Nó có tính ăn hiếp. Ta lân la chơi đùa với nó, thì nó rút mòn xương tủy ta. Bây giờ nên ngâm chơi vài vần “Tặng Em Mười Sáu” của Huy Cận…”.
Tôi chưa thấy ai nói về thơ thú vị như Bùi Giáng.
(còn tiếp)
HOÀNG HẢI VÂN
(bài đăng trên quandodo.com

Thứ Năm, ngày 20 tháng 8 năm 2009

Đọc Bùi Giáng (I)


Ngồi ăn cháo gà với Nguyễn Nhật Ánh ở Đo Đo, tôi bất ngờ hỏi anh có thực sự thích thơ Bùi Giáng không. Trả lời ngay: Thích. Hỏi: Thích bài nào nhất? Không trả lời được. Hỏi: Thích những câu nào nhất? Trả lời: Để xem. Rồi anh đọc: “Dạ thưa phố Huế bây giờ/ Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương… “Hỏi rằng người ở quê đâu/ Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà”… “Bây giờ em đứng nơi đâu/ Cỏ trong mình mẩy em sầu ra sao?”… “Em đi bước với hai chân/ Miệng em đầy đủ thành phần hai môi/Trăm năm dâu biển cõi đời/ Em nằm duỗi dọc dưới trời ngủ yên”…


Nguyễn Nhật Ánh thích thơ Bùi Giáng theo kiểu Bùi Giáng, hồn nhiên như tôi thích ăn… Đo Đo.

Nếu ai hỏi trong số các thi sĩ Việt Nam tôi thích ai nhất, xin trả lời ngay: Bùi Giáng! Nhưng nếu hỏi rằng tôi thích bài thơ nào nhất của các thi sĩ Việt Nam thì câu trả lời sẽ không liên quan đến Bùi Giáng.


Từ lâu lắm rồi tôi đ
ịnh viết về thơ Bùi Giáng, nhưng trong cái cõi thơ vừa mênh mông bát ngát vừa khùng điên hũ nút của ông, liệu tôi viết được gì? Đến khi biên tập loạt bài “Bùi Giáng, thi sĩ kỳ dị” của Trần Đình Thu để đăng trên Thanh Niên mấy năm trước, tôi đã đọc đi đọc lại nhiều tác phẩm của Bùi Giáng. Càng đọc càng thấy khó viết. Bình thơ ông chăng? Thơ Bùi Giáng là thứ thơ không thể bình. Tôi rất thích ai đó đã gọi “cõi thơ Bùi Giáng”. “Cõi thơ”, đó là nơi người ta có thể bước vào mà rong chơi cà kê dê ngỗng, mà hà hít, mà chiêm ngưỡng. Xong rồi thì bước ra, không ai có thể “nhặt” được cái gì ở đó để đem về. Nhưng khi bước ra rồi, một chút thơ ông sẽ vương vào người, dính chặt, đeo đẳng ở đâu đó trong hồn trong vía.







Bùi Giáng - chân dung tự họa


Nhìn theo cách thông
thường thì Bùi Giáng có rất ít những bài thơ “hoàn chỉnh”. Thơ ông càng về sau càng rối rắm, khó đọc, nhiều bài đọc… hiểu chết liền. Đọc thơ Bùi Giáng mà phân tích tất cả các câu trong toàn bài thì vô cùng mệt mỏi và sẽ thất vọng. Phần lớn những câu thơ trong một bài thơ của ông là những câu dở hoặc ngớ nga ngớ ngẩn. Thiên hạ ai đã bị thơ Bùi Giáng “vương” vào người rồi thì chắc chắn sẽ nhớ đôi câu thơ của ông và nhớ nhiều từ ngữ ông dùng, nhưng tôi dám chắc ít ai có khả năng nhớ cả một bài, trừ một số bài rất ngắn, chẳng hạn như: “Anh thương em như thương một bà trời/Em thương anh như thương hại một ông trời bơ vơ/Kể ra từ bấy đến giờ/Tình yêu phảng phất như tờ giấy rung”.

Nói qua một chút về thơ Đường. Các cụ ngày xưa bảo đọc thơ mà phân tích từng câu từng chữ là không hiểu gì về thơ Đường. Phải bắt được cái tứ, cái tứ thường nằm ở cuối bài, nó như một tiếng động dưới đáy hồ, từ đó mà lan tỏa trên mặt hồ. Không có tiếng động đó, câu chữ toàn bài dù có hay đến đâu cũng không thành thơ. Có cái tứ đó, câu chữ dù có dở đến đâu cũng là thơ.


Nhưng cấu tứ thơ Bùi Giáng hoàn toàn không giống thơ Đường. Nói chung là thơ ông không có cấu tứ. Cái tứ trong thơ Bùi Giáng không phải là “tiếng động dưới đáy hồ”, mà như chuồn chuồn như châu chấu, như có như không, thoắt gần thoắt xa, thấy đó mất đó. Đọc thơ Bùi Giáng giống như vào giấc chiêm bao, mọi thứ không trước không sau không đầu không cuối, khi miên man khi đứt quãng, đôi thứ rõ ràng xen trong nhiều thứ lộn xộn vô nghĩa. Không bao giờ có một giấc chiêm bao mạch lạc. Cuộc đời Bùi Giáng là trường mộng. Vào cõi thơ ông cũng như vào trường mộng.

Có kẻ gán cho Bùi Giáng là người coi cuộc đời là tạm bợ, là chốn lưu đày, là phù du hữu hạn. Nói như vậy là trật rồi. Bùi Giáng không bao giờ là người như vậy. Lão Tử, Trang Tử cũng không coi đời là tạm bợ. Lão Trang chỉ coi sống chết như nhau, “tề sinh tử”. Cũng có nghĩa là rất coi trọng cái sống và nhẹ tênh trước cái chết. Bùi Giáng cũng vậy, nhưng ông hồn nhiên đưa thêm mộng vào đời. Cuộc đời ông vì vậy mà dài hơn, rộng hơn cuộc đời của người thường chúng ta chăng ?


Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi

Đi lên đi xuống đã đời du côn 


Đọc hai câu trên thấy đã.

Bờ sau hang núi
Lá xanh lá đỏ chiều nay

Chim trời vòi või

Để rơi cánh mỏng theo ngày
 

Mùa sau thu xế
Hang rừng gió thổi dòng khe

Em về đây để
Rạc rời tiếng cũ còn nghe


Ngày sau chỗ ấy

Mây mù quyến rũ trăng suông

Em về sẽ thấy
Mông lung sầu mộng gái buồn
(Gái buồn)

Bài này không có chỗ để chê. Nó hay như một bài hát.

Đọc bài Mai sau em về :

Em về mấy thế kỷ sau

Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không

Ta đi còn gửi đôi dòng

Lá rơi có dội ở trong sương mù

Tới đó thì thấy là kiệt tác, nhưng đọc tiếp :


Những thương nhớ lạnh bao giờ

Đường thu chia ngả chân trời rộng thênh

Đây phồn hoa của thị thành

Đây hồn thủy thảo khóc tình nửa ngang

Càn khôn xưa của riêng chàng

Xưa đài vũ trụ thiếp mang riêng mình

Bây giờ đón bước em xinh

Sầu đau nhan sắc bất bình ra sao


thì không thể nói là hay. Nhưng khen cái trên mà không thể chê cái dưới.


Làm thơ tặng chú bé con
 

Làm thêm câu nữa tặng con chuồn chuồn  
Xong rồi bỏ bút tựa lưng
Vào gốc cây ngủ ngoài đường chịu chơi

Nắng trưa nắng xế đầy trời

Bóng cây râm mát che đời ta điên

(Thơ tặng)


Đọc thấy rõ ông đã điên, nhưng bài thơ thì không hề điên chút nào.
 


Ngày nào gặp trở lại em
Một nơi nào đó bên kia mặt trời
 

Không còn mặc cảm lôi thôi
Hồn nhiên kể lại chuyện đời xưa xa
 

Còn em nếu gặp lại ta
Nhìn ta em có biết là ta không
 

- Kiếp xưa anh một thằng khùng
Anh thằng say rượu vô cùng đảo điên
 

Làm thơ lắm lúc quàng xiên 
Đôi phen rất mực thần tiên dịu dàng  
Tráng niên ra đứng giữa đàng
Làm trò cảnh sát công an điều hành

Lão niên ân hận thập thành
Về nhà thân thích họ hàng ăn cơm
 

Được cho ăn uống thật ngon  
No nê nằm ngủ vuông tròn lắm thay  
(Mai sau kể lại)

Bài trên chắc làm lúc cuối đời, khi đã điên nặng, nhưng thơ thì không thể nói là thơ điên.


Đến bài này :


Đêm nằm thao thức tới bình minh

Nửa khóc nửa cười quỷ hóa tinh
Ú ớ liên tồn vi diệu ngữ

Ầm ừ tục tiếp quái quỷ thanh

U căn ẩn đế vô tâm xứ
Đảo phụng điên hoàng hữu xưng danh

Tồn lý lao đao tiền diện khuếch

Mãn sàng nhiệt huyết khả kham thinh


(Chuyện chiêm bao (9))


Nó Hán Nôm lẫn lộn đố ai hiểu được. Nhưng đây có phải là thơ điên không? Tôi chắc là không. Nó là thơ “mớ”. Trần Quốc Thực có câu “Mình ngồi mình mớ/Em người đâu ta”, mớ nhưng nghe rất mạch lạc, chứng tỏ có dụng công. Còn cái mớ này của Bùi Giáng mới đúng là mớ thật. Không ai có thể hiểu được lời mớ và đừng nên cố hiểu mất công, nhưng mớ cũng là “một phần tất yếu của cuộc sống” chứ.(còn tiếp)
HOÀNG HẢI VÂN
(bài đăng trên quandodo.com


Đọc Bùi Giáng (II)
Đọc Bùi Giáng (III)

Chủ Nhật, ngày 09 tháng 8 năm 2009

"Vô vi nhi trị"


Nhà Hán là triều đại tồn tại tới 426 năm (206 TCN-210 CN), dài nhất trong lịch sử Trung Quốc, kể từ sau Nhà Chu. Công lao khai quốc dĩ nhiên là của Hán Cao tổ Lưu Bang cùng các công thần Trương Lương, Tiêu Hà, Hàn Tín… Nhưng người đặt nền móng vững chắc cho sự dài lâu của Nhà Hán chính là Hán Văn đế Lưu Hằng (trị vì 180 TCN- 157 TCN) và con ông là Hán Cảnh đế Lưu Khải (trị vì 157 TCN-141 TCN). Đó là hai vị hoàng đế khoan hòa bậc nhất Trung Hoa. Thời của hai ông được lịch sử ca tụng là thời “Văn Cảnh chi trị”.


Trong Nhị thập tứ hiếu, Hán Văn đế được xếp thứ hai. Sau đây là trích đoạn diễn nôm của Lý Văn Phức :


Kìa Văn Đế vua hiền Nhà Hán
Vâng ấn phong ngoài cõi phiên Vương,
Quên mình chức cả quyền sang,
Phụng thờ Bạc Hậu lẽ thường chẳng sai,
Đến khi nối ngôi trời trị nước,
Vẫn lòng này săn sắc như xưa.
Mẹ khi ngại gió kinh mưa.
Ba năm hầu hạ thường như một ngày.
Mắt chong bóng dám sai giấc ngủ.
Áo luôn mình dám sổ đai lưng.
Thuốc thang mắt xét tay nâng.
Nếm tường trong miệng mới dâng dưới màn.
Tiếng nhân hiếu đồn vang thiên hạ,
Thói thuần lương hóa cả lê nguyên,
Hai mươi năm lẽ kiền khôn…


Sử cũng chép rằng, Hán Văn đế từ khi còn làm Vương cho đến khi làm Đế, đều hàng ngày cơm bưng nước rót, tự mình chăm sóc mẹ. Sau mỗi buổi chầu, ông cứ mặc triều phục đi thẳng đến vấn an, hầu hạ mẹ. Khi mẹ ốm, thái y đem thuốc đến, ông nếm thuốc trước khi dâng mẹ uống. Sợ thái y không vui, ông từ tốn giải thích, rằng không phải trẫm không tin các khanh, cũng không phải trẫm đánh giá thấp y thuật của các khanh, nhưng trẫm sợ các khanh làm việc mệt nhọc, khi mệt nhọc thì khó tránh khỏi sai sót, bởi vậy nếu các khanh có sơ sót thì trấm phải chịu thay để giữ bình an cho mẹ trẫm. Từ tấm gương của Hán Văn đế mà thiên hạ đề cao Hiếu kinh, coi đó là một trong những cái Đạo làm Người.


Trần Nhân Tông, ông vua anh hùng và là một “Phật Hoàng” của nước ta , có nhắc đến Hán Văn đế trong bài thơ Cây Mai (bản dịch của thiền sư Lê Mạnh Thát) :


Sắt đá gan lì khinh tuyết sớm

Khăn xiêm mộc mạc gió đông luồn

Trần gian kiệm ước Hán Văn Đế

Thiên hạ anh hùng Đường Thái Tông.


Còn Trần Anh Tông, cũng là một minh quân Nhà Trần, có riêng một bài thơ về Hán Văn đế :


Hình thố tô khoan diệc chí nhân

Dưỡng thành tứ bách Hán gia xuân

Dặc đề tiêu đắc thân thanh kiệm

Bất phí công thần, phí lộng thần


Tạm dịch :

Nhẹ hình phạt, giảm thuế má, (Hán Văn đế) là bậc chí nhân

(Bởi vậy mà) tạo nên cơ nghiệp nhà Hán bốn trăm năm

Mặc áo sồi thâm để giữ thân thanh kiệm

Không “phí” công thần mà “phí” lộng thần.


(Chữ “Phí” () trong câu này rất khó dịch. Trong một bản dịch của bà Phạm Tú Châu, câu này được dịch là “So sẻn công thần, nới lộng thần”. Tôi có hỏi thầy Lê Mạnh Thát, thầy Thát bảo câu này chưa đến mức phê phán Hán Văn đế nhưng Trần Anh Tông có ý “hờn” ông vì ông khắt khe với các công thần mà rộng rãi với các bề tôi mới để họ lộng hành, có lẽ do Hán Văn đế là ông vua trẻ, lên ngôi khi mới 22 tuổi. Tôi vẫn chưa thông cách giải thích này, vì thực tế các công thần như Trần Bình, Chu Bột… đều được trọng dụng, làm đến tả hữu thừa tướng, còn những người trẻ như Giả Nghị, Tiều Thác…đều là những nhân tài. Trần Anh Tông nghĩ là Hán Văn đế chỉ nghe ý kiến của “lớp trẻ” và bỏ qua ý kiến của “lớp già” chăng ? Mong các bậc thức giả chỉ giáo tiếp).


Xin nói rõ là Hán Văn đế hoàn toàn không nằm trong số những ông vua có tư tưởng “bành trướng Đại Hán”.Cũng xin nói rõ thêm là Hán Văn đế cai trị Trung Hoa cùng thời với Triệu Đà cai trị nước Nam Việt. Dù ta coi nước Nam Việt là “nước ta” như sử sách ghi hay coi nước Nam Việt “không phải là nước ta” như lập luận của thiền sư Lê Mạnh Thát, thì Hán Văn đế vẫn là ông vua Tàu không can hệ gì đến việc đô hộ nước ta. Thời của ông, Trung Quốc sống hòa bình với bốn phía. Quân đội của Hán Văn đế chỉ làm nhiệm vụ đánh trả mỗi khi có bên ngoài xâm phạm lãnh thổ, chứ không phải ngược lại.


Nhưng điều đặc biệt tôi muốn đề cập ở đây là tư tưởng trị quốc của Hán Văn đế (và Hán Cảnh đế). Ngay sau khi lên ngôi, ông xuống chiếu cho các nơi tiến cử người tài. Trong khi đối ngoại ông thực hiện hòa hiếu thì đối nội ông thực hiện an dân.


Thứ nhất là giảm nhẹ thuế má. Không lâu sau khi lên ngôi, Hán Văn đế ra chiếu giảm thuế và lao dịch. Thuế giảm xuống một nửa, từ mức 1/15 xuống 1/30 sản lượng. Năm 178 TCN, miễn thuế 3 năm cho dân Tấn Dương và Trung Đô. Năm 167 TCN, miễn thuế ruộng cả năm cho toàn dân. Đối với lao dịch, trước đây mỗi năm người dân phải đi 1 lần, Hán Văn đế giảm xuống 3 năm mới đi 1 lần. Đồng thời ông ra chiếu nghiêm cấm các châu quận cống cho triều đình những “kỳ trân dị vật” và miễn luôn việc tiến công bình thường vào những lúc thiên tai. Đây là điển hình của “khoan sức dân” trong lịch sử. Nhưng điều đáng lưu ý là việc giảm thuế, miễn thuế hoàn toàn không làm cho quốc khố thiếu thốn mà ngược lại, chính sách này đã kích thích mạnh mẽ việc làm ăn của dân, khiến cho của cải dồi dào, cả nước phồn thịnh, nhờ vậy mà quốc khố cũng đầy ắp tiền của. Sử sách còn ghi vào thời Văn đế và Cảnh đế, tiền trong kho dư thừa đến mức các sợi dây xâu tiền mục nát hết, còn lương thực thì không có đủ kho để chứa. Khắp nơi no đủ, dân không ai đói kém.


Thứ hai là giảm nhẹ hình phạt. Hán Văn đế không tán thành những đề xuất của các công thần giữ nguyên pháp chế của đời trước thực hiện hình phạt nặng để răn đe dân chúng. Ông quyết định bãi bỏ nhục hình (cắt thân thể), thay nhục hình bằng lao dịch hoặc đánh roi, nặng nhất đánh từ 300 đến 500 roi. Nếu phạm nhân bị đánh chết thì Giám quan phải đền mạng. Đến thời Hán Cảnh đế, mức đánh roi giảm xuống còn 100-200 roi và quy định chỉ được đánh vào mông. Nói chung, thời Văn đế, Cảnh đế, hình phạt rất nhẹ, nhưng dân chúng không mấy người phạm tội, nên Nhà nước không phải dùng đến hình pháp.


Thứ ba là giảm mạnh chi tiêu của Nhà nước. Mặc dù quốc khố đầy ắp, nhưng bản thân Hán Văn đế nêu một tấm gương sáng về thanh kiệm. Hàng ngày nhà vua mặc quần áo bằng vải rẻ tiền, trong cung không dùng đồ bằng vàng hoặc bịt vàng, đi xe không dùng quá 4 ngựa, không xây thêm cung điện, không tuyển thêm người hầu, không sắm thêm xe ngựa hoặc đồ dùng xa xỉ. Văn đế, Cảnh đế còn giảm mạnh chi tiêu quốc phòng, quân đội thời bình được về nhà làm ăn sinh sống, chỉ giữ một số quân thường trực cần thiết để giữ gìn biên cương. Trước khi chết, Văn đế còn dặn việc chôn cất phải hết sức đơn giản, đồ tùy táng chỉ có gốm sứ, không chôn theo vàng bạc châu báu, không làm lăng mộ để khỏi bắt dân phải lao dịch. Ông bãi bỏ việc bắt dân chúng để tang 3 năm, chỉ để tang 7 ngày, sau 7 ngày thì để toàn dân được vui chơi.


Dưới cái nhìn ngày nay, có thể thấy Hán Văn đế, Hán Cảnh đế đã thực hiện một kiểu “Nhà nước tối thiểu” với chính sách gần giống như laissez-faire ở phương tây thế kỷ 19, Nhà nước không can thiệp vào cuộc sống của người dân. Bởi vậy mà đất nước thịnh vượng, dân chúng yên vui, bốn phía hòa bình. Chính sách trị quốc của hai ông còn được lịch sử gọi là “vô vi nhi trị”. Gần 2000 năm sau, tư tưởng "vô vi nhi trị" được Thomas Jefferson, tác giả bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ khác : "Government that governs least governs best".