Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

Chân ruộng, sự tồn vong của dân tộc (9)

Kỳ cuối : Khoa học, hãy bớt kiêu ngạo !

Con người đã tự mình biết cây lá nào ăn được và cây lá nào không trước khi khoa học giải thích cái lành và cái dữ của từng loài cây lá. Tổ chức Y tế thế giới gần đây cũng khuyến nghị nhân loại nên sử dụng những thức ăn của các chủng tộc có lịch sử lâu đời để phòng chữa bệnh…

Nhà kinh tế được giải Nobel Friedrich Hayek trong diễn từ nhận giải thưởng này vào năm 1974 đã đề nghị không nên có Giải Nobel kinh tế (tên gọi chính xác là "Giải thưởng của Ngân hàng Thụy Điển dành cho khoa học kinh tế để tưởng nhớ Nobel"). Hayek cho rằng cái gọi là khoa học kinh tế chẳng qua là sự “ngụy tạo tri thức”. Theo Hayek, người ta không thể áp dụng các phương pháp của khoa học tự nhiên như toán học và vật lý học để thu thập, đo lường các hiện tượng trong xã hội để rút ra các quy luật, các lý thuyết và dự báo sự vận động; rằng kinh tế và xã hội là tập hợp vô số những hiện tượng phức đan xen tương tác nhau của hàng tỷ ý chí, lợi ích, sở thích khác nhau của từng con người riêng lẻ, không có bất cứ một bộ óc nào đủ khả năng thâu tóm hết; rằng người ta chỉ biết những gì người ta có thể biết, người ta chỉ đo lường được những gì người ta có thể đo lường được mà thôi; rằng những gì người ta có thể biết, có thể đo lường được chẳng đáng vào đâu so lượng thông tin đồ sộ của hiện tượng và rất nhiều khi những gì người ta biết, người ta đo lường được không phải là điều chủ yếu... Chủ nghĩa “duy khoa học” là sai lầm tai hại của con người trong thế kỷ 20.

Nassim Nicholas Taleb, tác giả cuốn sách “Thiên Nga Đen” (Black Swan) nổi tiếng còn cho rằng Hayek chỉ đúng một phần. Theo ông thì phương pháp của khoa học tự nhiên cũng rất có giới hạn khi giải thích các hiện tượng tự nhiên, và ngay cả phương pháp trong một lĩnh vực hẹp cũng không đủ để giải thích về chính lĩnh vực đó, vì tự nhiên dù “hẹp” đến bao nhiêu cũng vô tận vô cùng…

Tôi phải viện dẫn hai tác giả trên để giải thích thắc mắc có thể có của một số bạn đọc : “Những gì trên chân ruộng đã được khoa học chứng minh công nhận chưa ?”. Cũng xin nói thêm, con người đã tự mình biết cây lá nào ăn được và cây lá nào không trước khi khoa học giải thích cái lành và cái dữ của từng loài cây lá. Tổ chức Y tế thế giới gần đây cũng khuyến nghị nhân loại nên sử dụng những thức ăn của các chủng tộc có lịch sử lâu đời để phòng chữa bệnh. Điều đó cho thấy khoa học đã bắt đầu bớt kiêu ngạo.

Trước khi kết thúc loạt bài này, xin dẫn một việc chăn nuôi “thuận với thiên nhiên” cụ thể mà cha ông ta từng áp dụng đem lại hiệu quả cao nhưng khoa chăn nuôi ngày nay không hề đề cập tới. Đó là chuyện nuôi heo nuôi gà.

Những bà con làm nghề chăn nuôi có kinh nghiệm cho biết : Người dân nuôi heo theo phương thức công nghiệp “đúng chuẩn” thì lời rất ít, chủ yếu là “lấy công làm lãi”. Một con heo nuôi 4 tháng cho 1 tạ thịt (100 kg), nhưng để được 1 kg thịt thì phải mất 8 kg cám công nghiệp, cộng với thuốc tăng trưởng, dịch vụ thú y và thuốc phòng chữa bệnh. Tính ra trong 100 kg thịt người chăn nuôi lời được khoảng trên dưới 1 kg. Chuyện bị lỗ trong nuôi heo cũng không phải ít xảy ra.

Hãy tính hiệu quả nuôi heo cỏ theo cách của cha ông ta. Người xưa thường thả heo cỏ trong vườn, thức ăn dành cho chúng là cỏ, chuối cây và rau lá, thêm một ít nước cơm, cám gạo, cám bắp là xong. Một con heo cỏ nuôi trong 6 tháng đạt chừng 60 kg. Do chi phí rất thấp, nên lời ròng khoảng 50 kg. Nếu tính theo thời giá hiện nay thì giá heo cỏ đắt từ gấp rưỡi đến gấp đôi giá heo công nghiệp; gần đây người Trung Quốc tăng cường sang “thu mua” nên giá còn đắt hơn. Và điều lý thú nữa là trong vườn còn nuôi thêm một bầy gà “cộng sinh” với heo.

Con heo là động vật bị thuần hóa lâu đời, nó vốn không ăn động vật, nhìn con heo rừng thì biết trước đây heo nhà ăn gì, heo rừng hoàn toàn không biết ăn thịt. Heo thường ăn cỏ hoa rau lá và củ. Đặc biệt, heo rất thích ăn hoa, mà ăn nhiều hoa (hoa rau lang, hoa cải trời …) thì thịt càng thơm ngon. Những thứ trồng trong vườn heo đều ăn được. Con heo “ăn theo” con người và con người “ăn theo” con heo. Trồng chuối con người ăn trái, con heo ăn cây. Trồng khoai lang con người ăn củ và đọt non, còn lại con heo ăn tất. Xay lúa giã gạo con người ăn gạo, con heo ăn cám. Phân heo thì dùng bón cây, không những vậy, phân heo không hôi thối, nó còn có tác dụng khử uế môi trường.

Người xưa rất hiểu đặc tính của con heo và con gà nên thường nuôi gà chung với heo. Ông Ưng Viên bảo heo với gà là láng giềng tốt, là “tri âm tri kỷ” của nhau. Vì sao vậy ?

Thứ nhất, rắn rất sợ heo. 10 con rắn độc mà lại gần heo thì chết hết 9. Rắn hổ mang mà lại gần thì kiểu gì cũng bị heo cắn đứt đầu, còn rắn hổ mây khi thấy heo là co rúm lại, không bao giờ dám tới gần. Các loài chồn thấy heo cũng rất sợ. Chồn và rắn thì thích ăn gà, gà bao giờ cũng sợ hai thứ đó. Dân ta nuôi heo trong vườn để phòng chồn và rắn bắt gà.

Thứ hai, con heo rất sợ rết và bò cạp. Nếu bị bò cạp cắn thì mình con heo đỏ bầm lên rồi chết. Nếu bị rết cắn, heo sẽ sinh bệnh. Con dán cũng gây bệnh cho heo. Nhưng con gà là khắc tinh của các loài này. Trong vườn mà có rết, bò cạp, dán, đều bị gà ăn sạch. Cho nên, người xưa nuôi gà để làm “vệ sĩ” cho heo. Gà còn “làm vệ sinh” cho heo, mỗi buổi sáng sau khi những con heo ăn xong thường tề tựu im để cho đàn gà rỉa tất cả các côn trùng, sinh vật và thức ăn rơi vải bám vào heo. Con gà cần cù chăm chỉ, giúp cân bằng sinh thái trong vườn tược.

Thịt heo là món ăn truyền thống, là thực phẩm thích ứng hoàn toàn với cơ thể người Việt. Người thành thị đang có “khuynh hướng” tìm ăn heo cỏ, trong khi ít người nghĩ đến việc khôi phục lại cách nuôi heo cổ truyền. Thịt gà cũng là món ăn quen thuộc của dân ta và hiện nay món “gà thả vườn” được ham chuộng do gà nuôi theo kiểu truyền thống ăn ngon hơn và ăn vào không bị nhức mỏi như ăn gà nuôi nhốt.

Chỉ một cách chăn nuôi “thuận với thiên nhiên” thôi mà lợi đơn lợi kép, các nhà khoa học, các nhà kinh tế có tính được chăng ?

*

Như đã nói ở phần trước, người viết bài này không có ý định kêu gọi “nông thôn hóa thành thị”, điều chúng tôi muốn nói là nếu không khôi phục lại những gì còn lại xung quanh chân ruộng thì trước sau gì nòi giống người Việt ta cũng sẽ bị thoái hóa.

Dân tộc ta sinh ra từ chân ruộng, những người con ưu tú nhất của giống nòi cũng từ chân ruộng đứng lên bảo vệ Tổ Quốc, cũng là bảo vệ cái chân ruộng mà mình sinh ra.

Yêu nước, khi cần thiết thì cầm súng. Nhưng phải hiểu được mảnh đất này, cũng như phải hiểu được vùng biển vùng trời này, thì mới thấy Tổ Quốc của mình là vĩ đại, mới xóa được thân phận nhược tiểu, vong bản, vong thân. Không hiểu thì làm sao có thể tự hào, làm sao mà biết trân trọng gìn giữ, làm sao có thể ngẩng cao đầu mà yêu nước !

HOÀNG HẢI VÂN

Bản đăng trên NTNN

Xem tất cả :

Kỳ 1

Kỳ 2

Kỳ 3

Kỳ 4

Kỳ 5

Kỳ 6

Kỳ 7

Kỳ 8

Kỳ 9

4 nhận xét:

  1. Anh Vân, series này của anh rất hay dù có một vài điểm em không đồng ý. Đây đúng là wake-up call cho nhiều người quá say mê với "khoa học" và cả capitalism/consumerism. Một điều có thể khẳng định là tri thức/hiểu biết của con người về tự nhiên (và xã hội) vô cùng nhỏ bé và thiếu chính xác, bởi vậy phải rất thận trọng khi can thiệp vào tự nhiên và xã hội. Thói kiêu ngạo mà anh đề cập đến không chỉ giới hạn trong giới khoa học (em giả sử kinh tế học cũng là khoa học :-)) mà còn cả các nhà chính trị và giới doanh nhân. Anh đề cập đến chân ruộng và sự tồn vong của dân tộc, nhưng thế giới này còn có rất nhiều vấn đề liên quan đến sự tồn vong của cả nhân loại vì chính loài người đã quá thô bạo khi can thiệp vào tự nhiên.

    Có điều nếu thịnh-suy là một qui luật tất yếu của tự nhiên thì liệu một dân tộc hay cả nhân loại có tránh được kết cục suy vong hay không? Một điểm em không đồng ý với cụ Ưng Viên là tuổi thọ của người Việt trước đây cao hơn hay không kém hiện tại. Một thực tế cho thấy quan sát của cụ Ưng Viên không chính xác là dân số VN (và thế giới) tăng rất mạnh cùng với thống kê tuổi thọ. Nghĩa là nếu trong lịch sử nếu người VN cũng sống thọ và mạnh khỏe như bây giờ thì dân số VN sẽ không thể chỉ là 15-20 triệu vào đầu thế kỷ 20.

    Sự phát triển của khoa học trong thế kỷ 19-20 dẫn đến những thành tựu về y tế giúp tăng tuổi thọ và giảm infant mortality, do đó làm bùng nổ dân số (trên toàn thế giới), rất có thể là một lý do buộc con người phải hủy hoại thiên nhiên để đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng. Nếu người Việt tiếp tục nuôi heo gà theo cách thả vườn như trong quá khứ thì liệu 86 triệu người có đủ thịt để ăn không? Tương tự như vậy nếu tiếp tục trồng các giống lúa truyền thống thì VN có đủ lương thực cho dân chúng hay không? Hay nói rộng hơn nếu không tàn phá/can thiệp thô bạo thiên nhiên thì liệu loài người có phải đi theo con đường mà Thomas Malthus đã chỉ ra hay không?

    Em không dám nói là không. Có nhiều có quan điểm giống anh, cho rằng loài người phải quay về với thiên nhiên, phải giảm consumption xuống (i.e. chấm dứt xã hội consumerism)... Nhưng với bản chất/bản năng của loài người, liệu những yếu cầu đó có hiện thực hay không?

    Trả lờiXóa
  2. Cám ơn anh Lê Hồng Giang. Những điều anh Giang đặt ra có lẽ tùy thuộc vào quan niệm của mỗi người, khó có thể tranh cãi đúng sai.

    Một dân tộc có thể bị diệt vong, lịch sử đã cho thấy điều đó, còn nhân loại có suy vong hay không thì không ai đoán trước được, có lẽ thiên nhiên sẽ biết cách tự cân bằng.

    Riêng câu hỏi anh đặt ra : Nếu người Việt tiếp tục nuôi heo gà theo cách thả vườn trong quá khứ thì liệu 86 triệu người có đủ thịt ăn không hay nếu trồng các giống lúa truyền thống thì liệu có đủ lương thực cho dân chúng không, câu trả lời tôi đã nêu trong bài viết : chăn nuôi và trồng trọt theo truyền thống đạt hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều theo cách hiện nay. Hơn nữa, dưới góc nhìn kinh tế hiện đại thì sản xuất càng phải tính đến hiệu quả chứ không phải là sản lượng.

    Thuyết của Malthus cũng có nhiều tranh cãi, đúng hay sai tùy quan niệm. Cuộc tranh cãi về thực phẩm biến đổi gen hiện nay cũng vậy. Khi viết những bài này tôi đã cố gắng thoát khỏi mọi lý thuyết.

    Trả lờiXóa
  3. Nguyễn Tấn Phát16:21 18 tháng 7, 2011

    Mô hình heo cỏ - gà vệ sĩ gặp những giới hạn: làm sao có một mảnh vườn để thả heo gà; một con heo phải cần diện tích A để ăn rau cỏ, nên khi nhân N con heolên thì gặp giới hạn về diện tích là N*A diện tích. trong khi đó, tất đất tất vàng. Nên, mô hình heo cỏ đạt về chất, gặp giới hạn về lượng. Vấn đề anh Giang đặt ra cũng rất đáng quan tâm: làm thế nào để sản suất ra lượng thịt số lượng lớn mà chi phí thấp? Nếu nuôi heo cỏ thì ít tốn chi phí thức ăn nhưng gặp giới hạn về số lượng (khả năng nhân đàn heo, diện tích đất), nếu nuôi theo phương pháp "hiện đại" thì được về số lượng nhưng gồng gánh chi phí thức ăn? Mâu thuẫn này sẽ giải thế nào? Phần thưởng theo tôi chính là lợi nhuận không nhỏ
    Nguyễn Tấn Phát

    Trả lờiXóa
  4. Người Nhật họ vẫn giữ được nếp sống truyền thống, ăn ở truyền thống, chỉ có người Việt mình ham mới chuộng lạ, có mới nới cũ nên đánh mất nhiều thứ quý giá mà không hay biết.

    Trả lờiXóa