Thứ Ba, 20 tháng 9, 2011

Bí mật hải quân Nhà Nguyễn (2)

Người Hà Lan … qua thử nghiệm với kết quả tai hại đã nhận ra rằng những loại thuyền ấy [những loại thuyền chèo tay của người An Nam] có thể tấn công và giành được lợi thế trước những chiếc tàu to lớn của họ, mà trước đây với những chiếc tàu ấy họ từng là những kẻ làm bá chủ trên mặt biển” – Giám mục De Rhodes

Kỳ 2 : Bí mật về cấu tạo tàu chiến

Để khỏi mang tiếng tự đề cao dân tộc mình, xin hãy nghe “tây” nói về những chiếc thuyền chiến bé nhỏ của ta đánh thắng hạm đội Hà Lan trước đã. Tường thuật lại trận hải chiến năm 1643, trong cuốn “Những người châu Âu ở nước An Nam”, Charles B. Maybon, một học giả người Pháp viết :

Ba tàu dưới sự chỉ huy của Pierre Baeck được phái đi từ Jambee (Sumatra) vào cuối năm 1643. Đến ngang tầm “Bồn mũi” (Quatre Caps), người Hà Lan phải chịu đựng đòn tấn công của chừng 60 thuyền chiến Đàng Trong, mà theo Thực lục là dưới quyền chỉ huy của Thế tử, tức Hiền Vương sau này. Tàu đô đốc, là chiếc nặng nhất và chậm nhất trong số 3 tàu đó, bị bốn thuyền chèo tay đuổi kịp, đánh gãy mất bánh lái, đánh đổ cột buồm và bám vào hai bên mạn tàu; viên thuyền trưởng Hà Lan không hy vọng chạy thoát được nữa, cho châm lửa vào kho thuốc súng và tự đốt cháy tàu. Hai chiếc tàu kia, theo lời của Jean Gobyn, phải rất chật vật mới tìm được một chỗ trú ở đảo Ngọc (Ile de Perles). Theo cha De Rhode, một trong hai tàu ấy do bị người Đàng Trong đuổi đánh đã va phải đá ngầm vỡ tan,còn chiếc kia chạy thoát được…”.

Có lẽ Maybon đã nghiên cứu rất công phu về trận chiến này qua nhiều tài liệu khác nhau. Dẫn 3 nhân vật là Vachet, Bowyear và Poivre, những người đã đến Đàng Trong lần lượt vào các năm 1674, 1695 và 50 năm sau đó, “hãy còn thấy ký ức về câu chuyện thất bại của người Hà Lan vẫn còn sống động”, ông viết tiếp :

Vachet chỉ vịnh Đà Nẵng là nơi chiến trường : một trong những chiếc tàu đến đậu ở cửa vào vịnh, hai chiếc kia đi vào trong vịnh chờ nước thủy triều dẫn họ vào sông Hàn; hình như chỉ có 6 chiếc thuyền chiến chèo tay Đàng Trong đã tham gia chiến đấu và nhờ vào một thủ thuật khéo léo đã chiếm được hai chiếc tàu gần bờ nhất, chiếc thứ ba hình như đã chạy thoát” …

Cuộc giao tranh, theo ông (Bowyear) nói, đã kéo dài suốt cả ngày và chiếc lớn nhất trong số 3 chiếc đã bị phá hủy”…

Người ta chỉ cho ông xem, - theo ông (Poivre) kể lại – vài cỗ thần công “kỷ vật của chiến công ấy”; thế nhưng ông đưa ra những lời nghi hoặc : ông thấy có vẻ kỳ lạ rằng những chiếc thuyền chiến Đàng Trong lại đã đánh thắng được những tàu chiến châu Âu. Thế nhưng có đủ mọi lý do để tin rằng sự thể đã là như vậy”.

Trong phần chú dẫn, Maybon còn trích lời nhà truyền giáo De Rhodes nói về trận hải chiến này như sau : “Người Hà Lan … qua thử nghiệm với kết quả tai hại đã nhận ra rằng những loại thuyền ấy [những loại thuyền chèo tay của người An Nam] có thể tấn công và giành được lợi thế trước những chiếc tàu to lớn của họ, mà trước đây với những chiếc tàu ấy họ từng là những kẻ làm bá chủ trên mặt biển”.

Theo tài liệu lưu giữ trong gia đình ông Ưng Viên, tàu chiến (gọi chính xác là thuyền chiến) nhà Nguyễn, loại lớn nhất dài 30 mét, ngang 12 mét; loại nhỏ nhất dài 3 mét, ngang 1,2 mét. Vỏ tàu có 3 lớp, tất cả làm bằng tre trét bằng dầu rái và vài loại thực vật khác, các khoang tàu cũng có phao làm bằng thao tằm giống như tàu chạy buồm.

Toàn bộ thủy quân chỉ có một soái hạm, dài 50 mét, ngang 12 mét. Người phương tây rất muốn quan sát được chiếc soái hạm này nhưng chưa bao giờ họ nhìn thấy, vì nó có cấu tạo đặc biệt, chỉ xuất hiện trong những tình huống cần thiết, trong điều kiện bình thường nó được tách ra thành những chiếc tàu chiến nhỏ.

Tàu chiến lớn có 12 tay chèo, chia thành 3 cụm, mỗi cụm có 4 tay chèo, 1 cụm bố trí ở mũi tàu, 2 cụm bố trí ở khoảng 1/3 thân tàu tính từ phía sau. Điều thú vị là các tay chèo này không phải dùng mái chèo tác động xuống nước để đẩy thuyền đi như thuyền chèo thông thường mà việc “chèo” này là để làm quay một hệ thống ròng rọc nối liền với các quạt nước, chính những cái quạt nước này vừa nâng tàu lên vừa đẩy tàu đi giống như tàu máy hiện đại nhưng linh hoạt hơn nhiều. Mỗi cụm tuy có 4 tay chèo, nhưng chỉ có 3 quạt nước nối với 3 tay chèo thông qua ròng rọc, tay chèo còn lại có vị trí độc lập, nhiệm vụ của anh ta là điều chỉnh để cân bằng hệ thống, việc của anh ta nhẹ nhàng hơn 3 anh kia, nhưng khi gặp sự cố, một mình anh ta sẽ làm chạy một lúc 3 cái quạt nước, do mái chèo của anh ta gắn với sự chuyển động đồng thời của 3 cái quạt này.

Khi 3 cụm chèo đồng thời được nâng lên bởi tay chèo điều chỉnh hệ thống, lập tức tàu chạy lướt trên mặt nước, nghệ thuật lướt này nhờ vào 2 tay chèo số 4 phía sau điều chỉnh cho bánh lái không ghì đuôi tàu xuống, đồng thời giữ thăng bằng khi tàu lướt sóng. Vì vậy mà tàu chiến có thể vượt qua được mọi điều kiện thời tiết, với tốc độ và sự linh hoạt khiến cho đối phương phải kinh ngạc, sợ hãi và tuyệt vọng, rồi mãi mãi “lấy làm kỳ lạ” như được mô tả trên đây từ một cuốn sách của phương Tây.

Điều đặc biệt là toàn bộ chất liệu làm tàu chiến không dùng đến sắt thép, kể cả cánh quạt, đinh, chốt, vít. Các liên kết đều dùng mộng, các chốt liên kết làm bằng một loại gỗ tên là gỗ xay cực kỳ bền chắc. Ông Ưng Viên là người nghiên cứu rất kỹ cấu tạo của loại tàu này, ông bảo độ dày mỏng cũng như độ nghiêng của các cánh quạt được thể hiện không khác nguyên lý khí động học trong chế tạo cánh quạt trực thăng ngày nay. Hy vọng rằng sau này từ những tài liệu nói trên kết hợp với các tài liệu khác có thể tìm được, các nhà nghiên cứu và chế tạo có thể tái tạo những chiếc tàu để xác nhận tính năng của nó. Điều này hoàn toàn khả thi, vì ông Ưng Viên bảo trước năm 1975 ông và người thân đã từng làm một chiếc nhỏ để đi câu trên biển.

Người ta cũng nhầm tưởng vũ khí của hải quân Nhà Nguyễn là những đại bác và súng ống phương Tây. Đúng là các vua chúa Nhà Nguyễn đã mua hoặc chế tạo các loại đại bác hiện đại nhất của phương tây lúc bấy giờ, nhưng trên các tàu chiến Nhà Nguyễn hoàn toàn không sử dụng đại bác như tàu chiến Anh hay Hà Lan, chúng được dùng ở chỗ khác.

Các thủy sư đô đốc Nhà Nguyễn hiểu rằng bắn đại bác từ tàu chiến chỉ để thị uy chứ không bao giờ chính xác, nên không hiệu quả trong tác chiến. Vì vậy ngoài hệ thống xạ tiễn gắn trên tàu bắn tự động, hải quân Nhà Nguyễn sử dụng chủ yếu 3 loại vũ khí : súng phun lửa, nỏ liên châu và ống phóng hơi cay. Súng phun lửa có thể sử dụng khi cận chiến cự ly 15 mét hoặc bắn chính xác vào tàu địch ở cự ly 200 mét. Nỏ liên châu thì một phát bắn ra 20 mũi tên có thể trúng chính xác ở cự ly trên 100 mét. Tùy tình huống, có thể kết hợp dùng ống phun hơi cay hoặc phun khói khiến cho tàu địch mất phương hướng để dùng nỏ liên châu sát thương và súng phun lửa tiêu diệt tàu. Khi xung trận, đầu tàu có thể biến thành đuôi tàu và ngược lại nên cơ động trong mọi tình huống. Chúng tôi cho rằng, đoạn ghi chép trong cuốn sách nói về “viên thuyền trưởng Hà Lan không hy vọng chạy thoát được nữa, cho châm lửa vào kho thuốc súng và tự đốt cháy tàu” có lẽ là do phỏng đoán, vì tàu đã cháy người đã chết thì ai còn sống để nói là viên thuyền trưởng đã tự đốt tàu, cho nên rất có khả năng là chiếc tàu đô đốc này đã bị súng phun lửa của hải quân ta bắn cháy.

Tàu chiến của hải quân Nhà Nguyễn không những khiến cho người nước ngoài kinh ngạc, chúng còn là niềm tự hào của quân dân ta. Khi vua Gia Long đưa thủy quân ra Bắc, lúc đội tàu chiến tiến đến Nam Định, dân chúng nhìn tàu lướt trên sóng đã thán phục gọi là “thần binh”.

(còn tiếp)

HOÀNG HẢI VÂN

Bài đăng trên Thanh Niên, 20-9-2011

Kỳ 3 : Đội Hoàng Sa và bí mật quân lương

5 nhận xét:

  1. Bác cho em hỏi quyển sách của Charles B. Maybon đã được dịch ra tiếng Việt chưa? Em thắc mắc tại sao lại xảy ra cuộc đụng độ 1643 giữa thủy quân chúa Nguyễn với người Hà lan. Phía Hà lan đã gây hấn trước hay có hiềm thù gì mà đích thân một thế tử (có lẽ chỉ huy lực lượng thủy quân hùng hậu nhất của Đàng Trong) phải ra tay tấn công?

    Theo tường thuật của Vachet thì trận chiến xảy ra trên vịnh Đà nẵng khi 2 chiếc tàu Hà lan đang tìm cách đi vào sông Hàn. Như vậy khá gần bờ và có lẽ nên xếp trận chiến này vào loại "duyên chiến" thì hợp lý hơn. Hơn nữa những chiếc tàu nhỏ, tinh binh trong đội thủy quân của nhà Nguyễn như bác mô tả, sẽ khó có thể đi xa bờ vì chỉ sử dụng sức người (chèo tay). Do đó theo em họ chỉ chủ yếu bảo vệ duyên hải và các con sông lớn.

    Một điểm quan trọng trong hàng hải ngoài yếu tố kỹ thuật đóng tàu là khả năng navigation, bao gồm kỹ thuật quan trắc sao, sử dụng la bàn, gyroscope... và thư viện hải đồ. Các thiết bị và tàu bè có thể bị phá hủy và mất dần theo thời gian nhưng các hải đồ chắc phải còn lưu lại đâu đó nếu VN thực sự có một hải đội mạnh trong quá khứ. Bác hỏi thử cụ Ưng Viên xem liệu có thể tìm lại được những hải đồ này không. Nếu còn các hải đồ Hoàng sa, Trường sa thì chứng tỏ hải quân nhà Nguyễn đã ra đây thường xuyên trong quá khứ.

    Trả lờiXóa
  2. Anh Giang,

    + Cuốn sách của C.B. Maybon đã được dịch ra tiếng Việt.

    + Đây đúng là một trận hải chiến. Việc Vachet nói tàu Hà Lan ở Vịnh Đà Nẵng tìm cách vào sông Hàn, nhưng cách bờ xa lắm. Theo Đại Nam thực lục tiền biên, thì thế tử (Chúa Nguyễn Phúc Tần sau này) đã chỉ huy thuyền chiến tiến thẳng ra khơi, chúa Nguyễn Phúc Lan hay tin cũng dẫn đại binh ra tiếp ứng.

    Trận chúa Nguyễn Phúc Nguyên đánh tàu Nhật thì lúc đó tàu đã vào đậu gần bờ để cướp phá, Còn trận Trần Khánh Dư đánh Trương Văn Hổ thì sử sách ghi chép lại là đoàn thuyền này đã mắc cạn rồi. Nên cả hai trận chỉ là "duyên chiến".

    Thủy quân nhà Nguyễn không thể hoàn toàn có thể ra "xa bờ" mà còn sang cả Nhật và nhiều nước khác. Tài liệu gia truyền còn ghi lại, tàu thuyền của đội Hoàng Sa thường xuyên đến Nhật để huấn luyện thủy quân cho nước này. Như đã phân tích trong bài, dù "chèo tay" nhưng thuyền chiến nhà Nguyễn có thể chạy với tốc độ 30-45, thậm chí 50 km/h, không kém mấy so với tốc độ tàu chiến của ngày nay. Ông Gia Long có đội tàu hiện đại không kém gì phương tây, nhưng sự nổi trội của hải quân nhà Nguyễn chính là các thuyền chiến chèo tay này. Chiến thuật chủ yếu của nó là "viên chiến" (đánh bao vây).

    Một điều thú vị nữa những tài liệu này còn để lại là ngay cả đội tàu của Trịnh Hòa của Trung Quốc từng đi đến châu Phi, châu Mỹ cũng do người Việt Nam thiết kế.

    Với tâm lý nhược tiểu, chúng ta thường "lạ tai" khi nghe người Việt Nam hơn thế giới một cái gì đó, nhưng cần biết, chính Minh Sử còn ghi rõ kỹ thuật quân sự của Nhà Minh đã phát triển thêm một bước quan trọng sau khi chiếm được Giao Chỉ. Hồ Nguyên Trừng chính là người chỉ huy chế tạo vũ khí cho nhà Minh. Ông là người đầu tiên trên thế giới chế tạo đại bác (gồm đại bác đặt trên xa, đại bác đặt dưới đất và cả đại bác câm tay). Ông làm đến Thượng thư Bộ Công (Bộ trưởng Công nghiệp) của Trung Quốc. Cần biết, vào thời Hồ Nguyên Trừng, đại bác chỉ mới là ý tưởng chưa thành hiện thực tại phương tây, còn Trung Quốc thì sau khi Hồ Nguyên Trừng đến thì mới có.

    + Các hải đồ Hoàng Sa Trường Sa vẫn còn được lưu giữ. Còn các kỹ thuật như anh đề cập, thời ông Gia Long đã sử dụng kỹ thuật của phương tây.

    Trả lờiXóa
  3. Hình như trong sách sử nói về 9 chúa, 13 vua nhà Nguyễn có nói về chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần có nhắc tới chiến công này của ngài khi ngài còn là thế tử! Chỉ vì tức giận trước câu nói của 1 người Phương Tây nói các tàu chiến của người Hà Lan là của chúa trời không thể đánh lại được mà ông đã đích thân chỉ huy cuộc chiến và đã chiến thắng!
    Thực ra trong lịch sử, đất nước ta đã trải qua rất nhiều thời kì cường thịnh, nhất là Lí Trần, Lê... thậm chí là triều Mạc.
    Quân đội nhà Lý đã rất cường thịnh, kinh tế phát triển, văn hóa hưng thịnh, xã hội rất văn minh... điều đó được chứng minh ở những di tích lịch sử, chùa chiền... còn lại. Chính nhà Tống cũng đã phải học hỏi về binh thư và nghê thuật, kĩ thuật chiến tranh của nhà Lý.
    chính nhà Minh khi xâm lược nước ta đã thực hiện chính sách hủy diệt văn hóa cực kì khủng khiếp!

    Trả lờiXóa
  4. Em không hiểu ạ. Rõ ràng mình đang nói về trận thủy chiến cảng Eo 1643, tức thời CHÚA NGUYỄN, sao trong bài lại toàn phân tích về sự lợi hại của chiến thuyền NHÀ NGUYỄN, vốn là triều đại cách đó 1-2 thế kỷ? Còn chiến thuyền CHÚA NGUYỄN thì thế nào ạ? Có gì khác không?

    Trả lờiXóa