Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2012

Thiền và kinh tế học : "Thủy tự mang mang hoa tự hồng" (1)

Am trung bất kiến am tiền vật
Thủy tự mang mang hoa tự hồng

- Khuếch Am thiền sư 

Thiền đang là cái mốt thời thượng, đâu đâu cũng thấy sách vở về thiền, đâu đâu cũng thấy các lớp tập thiền. Thiền để cải ác quy thiện, để xóa bỏ phiền não, thiền để sáng suốt làm việc, để phục hồi nguyên khí nhằm có sức bày mưu tính kế giữa hai hồi đấm đá, để tĩnh tâm đối phó với các đối thủ kinh doanh đối thủ chính trị, thiền để chữa bệnh cho sống lâu trăm tuổi,  thiền để quên đi sự đau khổ khi bị tình phụ và quên đi tội lỗi khi phụ tình, thiền để đưa mình vào thế giới thanh cao giữa muôn loài chúng sanh tạp nhạp…, thiên hình vạn trạng biến hóa khôn lường.

Có lẽ thiền sư Nhất Hạnh hiện là người đi “quảng bá” thiền nhiều nhất. Những lớp giảng thiền, những buổi hướng dẫn tập thiền của ông ở nước ngoài được rất nhiều người theo học, sách vở về thiền và những bài giảng về thiền của ông được in, được lưu hành trên mạng Internet nhiều nhất. Ông là người “hiện đại hóa” thiền, là người nỗ lực đưa thiền “cập nhật” vào mọi lĩnh vực của đời sống.

Ngày xưa tôi ngưỡng mộ thượng tọa Thích Nhất Hạnh sau khi đọc cuốn sách mỏng “Bông hồng cài áo” của ông, sau này nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ phổ thành một bài hát, tôi cũng rất thích. Bây giờ người ta gọi ông là thiền sư. Nhưng đọc sách thiền của ông, mở Internet nghe ông giảng về thiền, tôi có cảm giác na ná như đọc những sách và nghe những bài giảng  “Bí quyết dẫn đến thành công” hoặc “7 bước làm giàu” hay đại loại như thế.

Đọc Thiền nghe Thiền từ thiền sư Nhất Hạnh người ta thấy tự tánh thì ít  mà thấy thiền sư Nhất Hạnh thì nhiều, hình như ông cố dụng công đạt cho được điều đó. Làm cho thiên hạ ngưỡng mộ mình không có gì xấu, miễn sao hướng mọi người đến được với chút ít an lành. Tôi không thấy an lành hơn khi đọc sách của thầy Nhất Hạnh, lý do vì sao tôi không giải thích được, có lẽ tôi còn quá nhiều cố chấp.

Thiền, bắt đầu từ một cuốn sách mỏng : Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục tổ. Người Trung Quốc rất tự hào về Lục tổ Huệ Năng, coi Huệ Năng ngang, thậm chí còn hơn Trang Tử, Lão Tử, Khổng Tử. Cuốn sách gối đầu giường, cuốn sách mà Mao Trạch Đông luôn luôn mang bên mình không phải là sách của Marx, Lenine hay Khổng Tử mà là cuốn Pháp Bảo Đàn Kinh (xin chớ vì bi kịch của cuộc “Đại cách mạng văn hóa” mà coi thường Mao Trạch Đông, cũng như chớ coi thường Tần Thủy Hoàng, Hán Cao tổ Lưu Bang hay Tào Tháo).

Đó là cuốn sách khai sơn phá thạch mà tĩnh lặng như không. Có nó mới có Thiền Tông Trung Quốc, có nó mới có Zen Nhật Bản, có nó thư pháp, thư họa, Đường thi mới trở thành bất hủ, có nó mới có những kiệt tác “thi trung hữu họa, họa trung hữu thi” của Vương Duy, mới có những nét bút thần tiên hồn nhiên tươi mát như cỏ cây hoa lá của Tề Bạch Thạch... Ảnh hưởng của Pháp Bảo Đàn Kinh vượt xa văn hóa Phật giáo, vượt xa văn hóa Phương Đông, nó đã kiến tạo lại nền văn minh Trung Hoa và âm thầm kiến tạo lại nền văn minh thế giới.

Và điều này ít người nghĩ tới, là từ những ẩn ngữ trong Nam Hoa Kinh và Pháp Bảo Đàn Kinh mà các bậc chân y mới lần ra hệ thống kinh lạc trong cơ thể con người để hoàn thiện phương pháp chẩn trị bệnh tật. Trang Tử và Huệ Năng chính là hai vị tổ sư đưa nền y học cổ truyền phương đông lên đỉnh cao mà y học hiện đại chỉ có thể vươn tới trong tương lai xa.

Tôi không dám múa bút viết về Lục tổ, chỉ xin mượn lời giáo sư Phạm Công Thiện : “Huệ Năng chính là Phật, đủ mười danh hiệu tối thắng, tối thượng; nếu còn mảy may khác nhau giữa Đức Phật và Ngài Huệ Năng thì Huệ Năng không thể là tổ sư của Thiền Tông. Bồ Đề Đạt Ma chỉ là một tên khác của Huệ Năng và Huệ Năng mới thực sự là Tổ sư Thiền Tông hiện nay”. Cũng theo Phạm Công Thiện, “tất cả những quyển sách khắp thế giới viết về Thiền Tông và Mật Tông đều là hý luận. Tổ sư Thiền và Như Lai Thiền không khác nhau. Chỉ có Thiền đúng nghĩa là Thiền của Lục tổ Huệ Năng”.

(Giáo sư Phạm Công Thiện còn nhấn mạnh : “Lục tổ Huệ Năng sinh ở đất Lãnh Nam, tức là Việt Nam ngày xưa”. Nhưng đây là câu chuyện khác, hy vọng sẽ có dịp đề cập để nhắc cho những người Việt Nam tự liệt mình vào hàng nhược tiểu, những người Việt Nam tự “làm nhỏ” mình nhớ lại biên giới nước Việt Nam từng tới đâu, người Việt đã kiến tạo được những gì, đã để lại những di sản gì cho văn minh nhân loại).

Tuy nhiên, cũng giống như môn kinh tế học đang rối rắm thiên kinh vạn quyển mà chân lý chỉ nằm trong những lời giản dị của Adam Smith hơn 250 năm trước, rằng hãy để cho mỗi cá nhân tự do theo đuổi những lợi ích riêng của mình và một “bàn tay vô hình” sẽ điều tiết, sẽ biến những hành vi tự do theo đuổi lợi ích riêng của mỗi cá nhân đó thành sự thịnh vượng cho xã hội cho đất nước, rằng “chỉ cần một vài điều kiện là có thể đưa một đất nước từ tình trạng dã man lên trạng thái phú cường nhất, đấy là hòa bình, thuế khóa dễ chịu và việc thực thi công lý có thể chấp nhận được : tất cả những điều còn lại sẽ xảy ra một cách tự nhiên”, Thiền đã bị giới trí thức biến thành “hý luận” rối rắm, khiến cho người ta đi vào Thiền lạc đường, không phải đi vào “tự tánh” mà quá bận tâm đến luận lý, đến sứ mệnh giáo hóa, đến những thứ bên ngoài mình.

Không phải ngẫu nhiên mà trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Ngài Huệ Năng nhắc đi nhăc lại là mình không biết chữ, không phải ngẫu nhiên mà Đức Phật trước khi viên tịch đã buông một câu chấn động “Ta 49 năm chưa từng nói một lời nào”. Đó là do các vị tiên lượng chữ nghĩa ghi lại lời của các vị có khả năng biến thành những sợi dây trói ngăn con người đi vào tự tánh. Trang Tử chẳng đã từng nói sách vở là “cặn bã”, là “đôi dép mục” của tiền nhân đó sao !

Nói tọa thiền để tịnh tâm là nói trật lất. Lục tổ bảo tâm là “huyễn”, là ảo, nên tọa thiền trước hết là không dính mắc vào tâm (nguyên bất trước tâm). Trong một công án Thiền nổi tiếng, khi Huệ Khả chặt đứt cánh tay và nói với Tổ sư Đạt Ma đang diện bích “Xin thầy an tâm cho con” – “Tâm của ngươi đâu đưa ta an cho ?” – “Con không thấy tâm đâu cả” – “Ta đã an tâm cho ngươi rồi đó”, chữ “an tâm” này không có nghĩa như ta sử dụng, phải hiểu đó là “phóng tâm”, là “bỏ mất” tâm, mới đúng. Cũng không dính mắc vào sự yên tịnh (diệc bất trước tịnh), cũng không phải là ngồi yên bất động (diệc bất thị bất động). Huệ Năng phá bỏ luôn sự yên tịnh, ông nói tịnh không có hình tướng, lại lập ra hình tướng yên tịnh, rồi bảo đó là công phu, hiểu như vậy là bị sự yên tịnh trói buộc. Như thế nào gọi là tọa thiền ? Ông nói : “Trong pháp môn này không có sự che lấp, không có sự ngăn trở. Đối với hết thảy những việc lành dữ, tâm chẳng khởi ra điều nghĩ, gọi là tọa. Trong tâm thấy tánh của mình chẳng động, gọi là thiền”. 

Vấn đề là tọa thiền để làm gì ? Để giải thoát, để thành Phật, để vào cảnh giới niết bàn. Nhưng thành Phật, vào cảnh giới niết bàn để làm gì ? Thành Phật rồi, lên niết bàn rồi để  cha mẹ vợ con bè bạn lại cho ai đây ? Trước đây linh mục Nguyễn Ngọc Lan từng viết, nếu lên thiên đường một mình thì buồn quá, ông nhất quyết không lên. Tagore có một bài thơ nói về nhà sư khổ hạnh và cô gái hái củi, nhà sư ngồi hành xác trong rừng, cô gái đem lòng yêu thương hàng ngày đến chăm sóc nhà sư, nhưng nhà sư quyết từ chối tình yêu của cô gái, chán chường cô gái bỏ đi, nhà sư tiếp tục tu hành cho đến khi đắc đạo, Thượng đế cử thiên sứ xuống mời nhà sư lên thiên đường, nhưng nhà sư từ chối nói bây giờ thì ta không cần đến thiên đường nữa, thiên sứ hỏi nhà sư cần gì, ông bảo bây giờ ta chỉ cần cô gái hái củi thôi.

Là Thiền, nhưng Pháp Bảo Đàn Kinh phá bỏ luôn sự trói buộc của Thiền, phá bỏ “hết thảy”, phá bỏ tất tần tật mọi sự trói buộc, dù là niết bàn, dù là Phật, phá bỏ một cách ngắn gọn không dài dòng văn tự. Huệ Năng bảo pháp môn này “tiên lập vô niệm vi tông, vô tướng vi thể, vô trụ vi bản”. Vô tướng là ở nơi tướng mà lìa tướng, vô niệm là trong chỗ nghĩ tưởng mà không nghĩ tưởng, còn vô trụ là “coi như không” những thị phi thiện ác tốt xấu trên thế gian, là không bị những thứ đó trói buộc.

“Trong chỗ nghĩ tưởng mà không nghĩ tưởng”, tức là đối cảnh mà tâm không bị đắm nhiễm, không đối cảnh mà sinh tâm, chứ không phải “tận diệt” sự nghĩ tưởng. Bởi vì, “nhất niệm tuyệt tức tử, biệt xứ thọ sanh” - chấm dứt nghĩ tưởng là lập tức chết, là đã sanh vào cõi khác rồi. Đó không phải là mục đích của Thiền, Thiền không phải là tự tử.

Thiền để đến cảnh giới Ma ha Bát nhã Ba la mật đa. Cảnh giới đó chính tự tánh. Nhưng tự tánh vốn vô biên không hình tướng. Lại không được dính mắc vào cái vô biên không hình tướng đó. Dính mắc vào cái “không” đó, rồi tự cho mình đạt đạo, Hòa thượng Thích Trí Quang bảo đó là hạng “cuồng thiền”, thứ Thiền của những người này chỉ là “Thiền bệnh”. “Không tâm tĩnh tọa” cũng là thứ mê mờ tà kiến.

Như thế là thế nào ? Trở về với tự tánh Ma ha Bát nhã Ba la mật đa nói vòng vo tam quốc cũng không ngoài việc trở lại với chính mình trong mối tương quan vốn có với tự nhiên. Không có Phật ở đâu cả, không có niết bàn ở đâu cả. Chúng sanh các loại con nào trở về nguyên con ấy như trời sinh ra vốn thế, đó là Phật. Là ếch thì làm đúng ếch, chớ có ý định biến thành bò. Là ếch sống đúng như ếch, đó chính là Phật, ếch mà muốn làm bò ắt sẽ thành ma. Là người sống đúng như người, đó là Phật, người mà muốn thành Thánh thành Phật, ắt cũng thành ma.

Trong một cuốn sách giảng về “Thập mục ngưu đồ” (Mười bức tranh chăn trâu), đến bức tranh thứ 10 “Nhập triền thùy thủ” (Thõng tay vào chợ) vẽ hình một thiền sư ngực trần chân không mang bầu rượu xách con cá vào chợ, nhà sư viết sách (tôi không tiện nêu tên)  nói đó  là thiền sư sau khi đã vào cảnh giới Phật rồi mới “vào cảnh giới ma” để “dạy cho những người bán cá, bán thịt ở ngoài chợ, ở quán rượu, những người không có chút đạo đức, khiến cho họ có chút đạo đức biết tu hành”. Không có gì báng bổ Phật pháp bằng lời giảng đó. Ông bán thịt, bà bán cá, nếu bán đúng cân, bán đúng thịt tươi cá tươi, không ướp hóa chất độc hại để “làm tươi” giả tạo thì đúng là Phật rồi, sao gọi những người làm những nghề nghiệp lương thiện là ma ? là không có chút đạo đức ?. Còn ông thiền sư, việc thõng tay vào chợ là hành vi tự nhiên, là sự trở về cuộc sống bình thường vốn phải như vậy, ông ấy chẳng có ý định giáo hóa ai cả, cũng chẳng tự cho mình có tư cách giáo hóa ai c. Nếu không như vậy, nếu ông ấy thõng tay vào chợ để “cải trang vi hành” nhằm đi giáo hóa người khác, thì chính ông ấy mới là ma. Chưa chắc chùa chiền có nhiều Phật hơn chợ búa, chưa chắc chợ búa có nhiều ma hơn chùa chiền.

Nhưng tại sao một vấn đề tưởng đơn giản như vậy lại biến thành phức tạp ? Tất cả đều do tri thức mà ra cả. Tri thức là sự phản ánh sự vật, hiện tượng vào đầu óc con người, nhưng sự phản ánh đó không bao giờ chính xác. Sự hiểu biết của con người về sự vật không phải là sự vật. Tri thức tích tụ trong đầu óc lâu ngày biến thành định kiến, rồi nhìn sự vật thông qua định kiến đó, từ đây sai lầm chồng lên sai lầm. Thay vì sống thuận theo tự nhiên, con người lại nhất quyết sống theo những tri thức sai lạc về tự nhiên. Phật gọi đó là “chấp”.

Phá cái chấp đó không hề dễ, Phật phải dùng đến kinh Kim Cương, hàm ý rằng phải dùng một thứ công cụ rắn như kim cương mới mong phá nổi. Trang Tử bảo phải “tuyệt Thánh khí Trí” thì thiên hạ mới thái bình. Vào thời hiện đại, Friedrich Hayek, người đoạt giải Nobel kinh tế năm 1974 gọi giới trí thức là “secondhand dealer” (người buôn đồ cũ), còn môn kinh tế học chính thống lúc đó (và bây giờ) là “ngụy tạo tri thức”.

Am trung bất kiến am tiền vật/Thủy tự mang mang hoa tự hồng” (Ngồi trong am không thể thấy vật ở ngoài am/(Hãy để cho) sông tự chảy và hoa tự hồng). Bi kịch của con người lkiêu ngạo tưởng rằng mình có thể biết hết mọi thứ...

 

7 nhận xét:

  1. Tôi cũng có cảm tưởng tương tự
    khi đọc & nghe Nhất Hạnh thiền sư.

    Cảm ơn tác giả nói hộ nhiều điều,
    ncc

    Trả lờiXóa
  2. Bác Hoàng Hải Vân biết không , tất cả lùng bùng của những điều bác nói ở trên đều là vì không phân được đâu là phương tiện, đâu là đích đến. Nhiều người trong chúng ta bị nhầm lấy phương tiện, lấy con đường làm mục đích.
    Ví dụ: Đối cảnh vô tâm là mục đích hay phưong tiện ? Nếu cho đó là mục đích thì ta cố tu tập đến chỗ trơ trơ, thấy cái gì cũng không động lòng. Hì... Còn như cho đó là phương tiện thì phải đạt vô tâm rồi sau đó mới tới một cảnh giới khác nữa. Vô tâm là giai đoạn phải qua.
    Tương tự như vậy, hành loạt khái niệm thiền bác nói ở trên, ví dụ như sự phá bỏ, phá chấp hết thảy, thì sự phá bỏ đó đạt vô chấp đó là mục đích để đến hay sự vô chấp đó là một giai đoạn phải qua để đạt cảnh giới khác nữa ?
    Tôi đồ chừng rằng đây là lý do Phật tổ nói: Pháp ta là ngón tay, chân lý là mặt trăng !
    Không xác định được đâu là mục đích đâu là phương tiện thì không nói chuyện thiền được đâu :)

    Trả lờiXóa
  3. Thêm chút nữa:
    Trên các quầy sách hiện bày bán nhiều cuốn có tựa như "Sống Thiền". Đây là cách hiểu rất sai. Không có chuyện sống thiền, tức sống trang thái vô chấp, vô trụ, thả mình rơi trong rỗng không ... không nói chuyện điều đó là tựh giả dối mà không biết, làm sao ra đường mà không đi bên phải cho được, ra khỏi không mặc quần áo được không ? Vì vậy không có chuyện sống thiền. Thiền là để thành Phật , thiền là để lặp lại thao tác 49 ngày Tất Đạt Đa đã làm dưới cội bồ đề để thành Phật.
    Còn làm như thế nào thì Thiền Tông có đủ phương pháp , quan trọng nhất là cách mà tổ Đạt Ma nói: Trực chỉ nhân tâm" .
    Vấn đề là cần phải biết thế nào là trực chỉ và nhân tâm là cái gì để thực hành khi ngồi thiền.
    Tôi tin cứ ngồi trực chỉ nhân tâm đúng háp thì sẽ thành Phật .
    Thành Phật rồi thì sẽ khác với hiện tại như thế nào ư ? Tôi chưa biết, nhưng nghe ngài Huệ Năng nói: "Ai dè tự tánh vốn tự thành tịnh"; Nhị tổ Huệ Khả nói "Nó thường hằng rõ ràng sao rới vào không được?"; và Sơ tổ ấn chứng cho Huệ Khả "Tâm người đó với tâm Phật không hai không khác, chớ có hoài nghi".
    Thiền sư Vô Môn Huệ Khai sau sáu năm miên mật , một ngày nọ khi nghe tiếng trống báo giờ cơm trưa sư hoát nhiên đại ngộ và ứng khẩu bài kệ sau :Trời quang mây tạnh sấm dậy vang lừng. Mọi vật trên đất, mắt bỗng thấy hết. Muôn hồng nghìn tía cúi đầu làm lễ. Núi Tu-di cũng nhảy múa vui mừng. Sư được Thiền Sư Nguyệt Lâm ấn chứng. Khi mà mô tả cái khác biệt của mình trong giây phút trước và giây phút sau bằng những hình ảnh như thế, sấm dậy vang lừng, núi Tu di cũng nhảy múa, thì ta biết đó là những cảm giác rất cụ thể rõ ràng như thấy trước mắt, sờ bằng tay, hoàn toàn không có một chút nào của tâm thức. Nó không giống như Archimede hoặc Newton reo lên sung sướng nhưng rất dễ đột tử vì vỡ tim hoặc tai biến mạch máu não, người giác ngộ thì khác hoàn toàn. Và ở cái trạng thái này thì sự vô minh hay giác ngộ , niết bàn hay địa ngục, thánh hay phàm, ma hay Phật, sân si hay buông xả, ngã hay vô ngã, thế giới vật chất là thường hay vô thường ... nào có gì quan trọng !

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Thưa bác, sống thiền là cách dùng đúng. Thiền trong mọi hoạt động, thiền trong không nỗ lực, tìm kiếm nhưng trong tỉnh thức, nhận biết. Đó là sống trong cảnh giới thiền, của trực nhận những giá trị sinh động màu nhiệm của cuộc sống.

      Xóa
    2. Hì định nghĩ của bạn về thiền hiện 99% người nghĩ như vậy. Thầy Nhất Hạnh, thầy Thanh từ cũng nghĩ như vậy, giảng như vậy. Thế nhưng các hành giả tổ sư thiền học trò ngài Duy Lực thì không nghĩ như vậy. Tôi sẽ cố nói thật ngắn để bạn hiểu, mặc dù điều này gần như không thể:
      Thiền là sống tỉnh thức, nhận biết ? Nếu chỉ vậy thì đạo CHÚA họ cũng thực hiện tốt chứ đâu có cần đạo Phật làm gì ?
      Mà nè, chắc nặc danh biết Thiền chủ trương tâm không phân biệt, lìa tri kiến? Sống thiền có lìa tri kiến không ? Có tâm không phân biệt không ?
      Lìa tri kiến thì phải lìa đến cùng, ngơ ngơ như gỗ đá, sống tỉnh thức là ngơ ngơ như gỗ đã ư ? Vậy đâu là chỗ dừng lại để vừa lìa tri kiến vừa không trơ trơ như gỗ đá ?
      Tâm không phân biệ thì có phân biệt thiện ác không ? có phân biệt bên trái bên phải khi đi ra đường không ? Vây đâu là chỗ dừng lại để biết phân biệt đâu là cứt đâu là cơm ?
      Nếu chỗ này biết phân biệt chỗ kia không phân biệt thì đó là sống cơ hội chứ đâu phải sống thiền ?
      Nói thật, không có gì ngớ ngẫn hơn khái niệm sống Thiền đó !
      Còn thực sự lìa tri kiến, thực sự tâm không phân biệt cả tô cơm tô cứt là như thế nào bạn biết không ?
      Muốn biết, hỏi tui nói cho nghe :)

      Xóa
  4. Anh rảnh viết thêm nhé. Đọc rất khác

    Trả lờiXóa
  5. Liệu bàn tay vô hình của Adam Smith có đúng trong bối cảnh sụp đổ Lemahn Brothers, vụ Bầu Kiên nếu chính phủ không can thiệp. The Wealth of nations ra đời 1776 khi đó tín dụng chưa phát triển, tiền tệ Anh theo bản vị vàng, thông tin thô sơ. Nếu theo trường phái tự do thì thế giới làm sao gượng được sau sụp đổ 1929

    Trả lờiXóa