Vì sao con cái một gia đình "đại địa chủ", đồng thời là "dân Tây" và là Công giáo toàn tòng, lại "đồng loạt" đi tham gia kháng chiến, không chỉ tham gia kháng chiến mà còn đem hết gia sản ra ủng hộ kháng chiến ?
Gia thế
Phạm Ngọc Thảo xuất thân từ một gia đình trí thức giàu có ở Vĩnh
Long, theo đạo Công giáo toàn tòng. Thân sinh của ông là cụ Adrian Phạm
Ngọc Thuần, một kỹ sư trắc địa và là một điền chủ giàu có nổi tiếng Nam
bộ, mang quốc tịch Pháp. Anh chị em ông cũng có quốc tịch Pháp nên sang
Pháp du học, đều trở thành bác sĩ, kỹ sư, luật sư.
Dù học ở Pháp, dù là “dân Tây”, dù có cuộc sống giàu sang nhưng anh
chị em Phạm Ngọc Thảo đều hướng về đất nước, đều khát khao giành độc lập
cho Tổ quốc. Anh ruột ông, luật sư Gaston Phạm Ngọc Thuần tham gia
Thanh Niên Tiền phong chống Pháp cùng bác sĩ Phạm Ngọc Thạch từ năm
1943, sau đó tham gia khởi nghĩa giành chính quyền và làm đến chức Phó
chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến Nam bộ, sau năm 1954 tập kết ra
Bắc, làm Đại sứ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại CHDC Đức. Một người
anh khác, ông Lucien Phạm Ngọc Hùng cũng từ Pháp về nước tham gia kháng
chiến, sau này là Ủy viên Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa
miền Nam Việt Nam…
![]() Phạm Ngọc Thảo trên tạp chí Life |
Phạm Ngọc Thảo sinh ngày 14.2.1922, sau khi đỗ tú tài ở Sài Gòn, do
Đại chiến thế giới 2 nổ ra, ông không sang Pháp mà ra Hà Nội học, tốt
nghiệp bằng kỹ sư công chánh năm 1942 và về làm việc tại Sài Gòn từ năm
1943. Theo chân người anh, ông tham gia Cách mạng tháng Tám năm 1945
ngay từ những ngày đầu và khi Pháp quay lại xâm chiếm Nam bộ, ông tuyên
bố hủy bỏ quốc tịch Pháp, lên đường cầm súng đi kháng chiến.
Vì sao con cái một gia đình “đại địa chủ” (theo nhiều tài liệu thì
gia đình Phạm Ngọc Thảo có tới hơn 4.000 mẫu đất và hàng ngàn bất động
sản ở Nam bộ), đồng thời là “dân Tây” và là Công giáo toàn tòng, lại
“đồng loạt” tham gia kháng chiến, không chỉ tham gia kháng chiến mà còn
đem hết gia sản ra ủng hộ kháng chiến?
Sự “đồng loạt” hiếm có đó là từ chính nghĩa của cách mạng, là từ
truyền thống yêu nước của gia đình, xuất phát từ người ông của Phạm Ngọc
Thảo. Ông nội của Phạm Ngọc Thảo là cụ Phạm Ngọc Lành (cụ Lành có thể
có nhiều tên khác), là một thương gia lớn ở Nam bộ thời Pháp thuộc. Sau
này cho con cháu gia nhập quốc tịch Pháp để “tự vệ”, song cụ Lành sinh
thời không những không dính dáng gì với người Pháp mà còn tích cực ủng
hộ, hậu thuẫn cho các phong trào yêu nước chống Pháp từ trước khi có
cách mạng. Ngay cả phong trào Cần Vương ở tận miền Trung cũng được cụ
Lành gửi tiền của hậu thuẫn. Nhiều bậc tiền bối của cách mạng ở Nam bộ
đã dựa vào gia đình này để nhen nhóm phong trào và khi cách mạng nổ ra,
gia đình này đã nhẹ nhàng đem hết gia sản và con cái ra cống hiến.
Thực ra, khi đất nước bị chia cắt thì một gia đình bị phân hóa cũng
là bình thường, mặt khác, sau này anh em ông Ngô Đình Diệm đã trọng dụng
Phạm Ngọc Thảo, không chỉ vì ông Thảo có tài năng, có tư cách. Ngô Đình
Diệm, Ngô Đình Nhu và Trần Kim Tuyến chắc chắn không “mù”, họ biết rất
rõ những người anh của Phạm Ngọc Thảo đang ở “phía bên kia”. Sau khi lên
cầm quyền ở miền Nam, Ngô Đình Diệm thực hiện khẩu hiệu “phản đế, bài
phong” để xây dựng chế độ quốc gia “cạnh tranh” với những người cộng
sản, nhưng điều mỉa mai là hầu hết các tướng lãnh, sĩ quan và quan chức
cao cấp chính quyền của họ đều là sản phẩm do người Pháp để lại. Anh em
họ Ngô rất cần có những trí thức từng tham gia chống Pháp ở bên cạnh
mình và rất cần sự hậu thuẫn của những gia đình có truyền thống yêu nước
như gia đình Phạm Ngọc Thảo để làm nền móng cho chế độ. Phạm Ngọc Thảo
và cấp trên của ông không bao giờ đánh giá thấp anh em Ngô Đình Diệm,
nếu đánh giá thấp đối phương thì không thể có được “ván bài lật ngửa”
ngoạn mục như chúng ta đã biết. Nhưng đó là chuyện sau này.
Năm 1946, ông được cử đi học Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn ở Sơn Tây.
Sau khi tốt nghiệp khóa 1 trường này, ông lập tức trở về miền Nam chiến
đấu và đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng của kháng chiến: Tiểu đoàn
trưởng, Trung đoàn phó, Trưởng phòng Mật vụ Nam bộ (chức vụ tương đương
Trung đoàn trưởng). Năm 1949, Phạm Ngọc Thảo kết hôn với bà Phạm Thị
Nhiệm, cũng là một trí thức tham gia kháng chiến (bà Nhiệm là em gái
Giáo sư Phạm Thiều lúc đó là Giám đốc Nha Giáo dục phổ thông Nam bộ, sau
khi tập kết ra Bắc làm Đại sứ Việt Nam dân chủ cộng hòa tại một số nước
Đông Âu).
Năm 1946 cũng là năm ông Lê Duẩn được Trung ương cử vào Nam làm Bí
thư Xứ ủy Nam bộ. Khi quân Pháp đổ bộ vào miền Nam, giữa sự vây ráp ráo
riết của địch, chính Phạm Ngọc Thảo là người trực tiếp hộ vệ đưa ông Lê
Duẩn từ Phú Yên, nơi đóng trụ sở Ủy ban Hành chính kháng chiến miền Nam
Việt Nam về chiến trường Nam bộ để lãnh đạo kháng chiến. Bản lĩnh, tài
năng, mưu trí và phẩm chất của Phạm Ngọc Thảo trên chiến trường đã chinh
phục niềm tin của vị Bí thư Xứ ủy. Cuộc hạnh ngộ này ảnh hưởng quyết
định đến sứ mệnh sau này của ông. Dùng một trí thức con nhà Công giáo
đại địa chủ làm tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, thậm chí làm tướng
cũng không có vấn đề gì, nhưng làm Trưởng phòng Mật vụ của cả Nam bộ
kháng chiến thì, trừ ông Lê Duẩn, không ai dám và điều này thì quả thật,
ông Lê Duẩn có con mắt anh hùng đoán giữa trần ai. Trong những lúc nói
chuyện với chúng tôi, ông Võ Văn Kiệt trước sau đều khâm phục tầm nhìn
chiến lược và sự trông xa thấy rộng của ông Lê Duẩn và ông cũng nhớ lại:
“Không ít anh em cũng lo ngại về cách dùng người như vậy của anh Ba”.
Điều đáng chú ý là những nhân vật như Trần Văn Đôn, Nguyễn Khánh, Lê
Văn Kim… cũng có vào chiến khu tham gia kháng chiến trong thời gian đầu
và họ đều được Phạm Ngọc Thảo huấn luyện về chiến tranh du kích, nhưng
họ đã quay lưng theo Pháp và trở thành những tướng lãnh quân đội Sài
Gòn. “Những người quen cũ” đó sau này vừa nể phục Phạm Ngọc Thảo vừa coi
ông là một đối thủ đáng gờm.
Hiệp định Genève được ký kết, Phạm Ngọc Thảo được đích thân Bí thư Xứ
ủy Lê Duẩn chỉ định ở lại miền Nam với nhiệm vụ chiến lược là thâm nhập
vào hàng ngũ cao cấp của chính quyền Sài Gòn để “phục vụ cho mục tiêu
thống nhất đất nước”. Ông Lê Duẩn giới thiệu Phạm Ngọc Thảo với ông Mai
Chí Thọ, lúc ấy là người phụ trách Ban Đặc tình Xứ ủy (sau này là đại
tướng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ). Hai người khác trong Ban cùng có mặt là ông
Mười Hương và ông Cao Đăng Chiếm (sau này là thượng tướng, Thứ trưởng
Bộ Nội vụ).
Tuy ở lại hoạt động ở miền Nam nhưng ông Mai Chí Thọ là người lừng
lẫy nên có quá nhiều người biết, ông Cao Đăng Chiếm cũng vậy, Đảng không
cho phép vào sống ở Sài Gòn, chỉ có ông Mười Hương là có thể vào Sài
Gòn sống hợp pháp vì ông là cán bộ từ ngoài Bắc vào, không ai biết. Do
đó, ông Mười Hương đã bàn bạc cụ thể với Phạm Ngọc Thảo về đường hướng,
phương thức hoạt động và trực tiếp liên lạc với Phạm Ngọc Thảo ngay tại
Sài Gòn. Ông Mười Hương trở thành “người chỉ huy” Phạm Ngọc Thảo trong
thời kỳ đầu, tuy nhiên thời gian này rất ngắn, vì sau đó ông Mười Hương
bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam ở Huế.
(Còn tiếp)
HOÀNG HẢI VÂN

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét