Thứ Sáu, ngày 07 tháng 12 năm 2012

Thiền và kinh tế học : "Thủy tự mang mang hoa tự hồng" (3)


“Chủ nghĩa quốc xã không phải là con đẻ của giai cấp đặc quyền đặc lợi, gắn với truyền thống Phổ, mà là con đẻ của đám đông” - F. Hayek

Lục tổ Huệ Năng “vô vi” như Trang Tử. John Locke, Adam Smith và F. Hayek, cũng “vô vi”. Các vị đều là những tổ sư của chủ nghĩa tự do. Về triết học, các vị thuộc trường phái vị kỷ, ủng hộ chủ nghĩa cá nhân -  thứ chủ nghĩa mà chúng ta được răn dạy phải nhất mực lên án.

Huệ Năng không chủ trương tử vì đạo.

Trang Tử mặc dù coi sống chết như nhau (tề sinh tử) nhưng ông không coi trọng những người vì danh mà tuẫn tiết, ông chủ trương “vi thiện vô cận danh, vi ác vô cận hình”, giữ thân để phụng dưỡng cha mẹ và hưởng trọn tuổi trời ("tận niên", chứ không tìm cách kéo dài tuổi thọ).

John Locke, người phát kiến “quyền tự nhiên” của con người, người mà tư tưởng là nguồn cảm hứng cho bản Hiến pháp tự do đầu tiên trên thế giới – Hiến pháp Mỹ, không hề chủ trương “tự do hay là chết”.

Adam Smith, ông tổ của kinh tế thị trường tự do, là một nhân vật ôn nhu, không bao giờ đề cập đến chuyện đấu đá.

“Trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha vào cuối những năm 30, người ta nói rằng những chiến binh Cộng hòa đã hy sinh với từ Staline trên môi…Nhưng sẽ chẳng có ai chết với những từ thị trường tự do trên môi cả” (D. Yergin và J. Stanislaw – sđd).

Còn F. Hayek, người được Milton Friedman coi là triết gia tự do vĩ đại nhất của thế kỷ 20, từng nói : “Có lẽ tác hại lớn nhất đối với chủ nghĩa tự do chính là sự kiên quyết của một số người ủng hộ nó” (Trích từ Hayek, Đường về nô lệ)

Theo Hayek, chính những nguyên tắc của chủ nghĩa tự do đã ngăn cản biến nó thành một hệ thống giáo điều. Nguyên tắc quan trọng nhất của nó là không có các nguyên tắc cứng nhắc được xác định một lần và vĩnh viễn. Thậm chí Hayek còn không muốn dùng từ “Tự do” (liberty), vì từ đó ở Mỹ đã bị F.Roosevelt và những người theo chủ nghĩa can thiệp cưỡng đoạt. Ông muốn dùng từ “Khoan dung” (toleration). Không phải ngẫu nhiên mà trong các tác phẩm của Locke có tới 4 bức thư về lòng khoan dung.

Ở phương Tây, chủ nghĩa tự do (hay chủ nghĩa cá nhân, tự do cá nhân) là thành quả vĩ đại của thời kỳ Phục Hưng. Và chính tự do cá nhân được giải phóng đã sáng tạo ra những kỳ tích trên các lĩnh vực hội họa, điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc, văn học, khoa học và triết học của thời kỳ này. Khi con người được sống thật với những gì mình vốn có và tôn trọng những đặc thù khác biệt mà tạo hóa đã ban cho mình và cho người khác, khi ấy mọi năng lượng trong mỗi người mới được giải phóng. Tự do chính trị mở đường cho sự sáng tạo và tự do kinh doanh mở đường cho việc đem áp dụng sự sáng tạo đó vào cuộc sống, từ đó mà cuộc sống thăng hoa. Thành tựu của chủ nghĩa tự do ở phương Tây lên đến “đỉnh” vào thế kỷ 19 – một thế kỷ thịnh vượng, khoan dung và hòa bình. 

Bản chất của một xã hội tự do là “thủy tự mang mang hoa tự hồng”, là tôn trọng tối đa các lực lượng tự phát trong xã hội và sử dụng tối thiểu các biện pháp chế tài, hay nói như Thomas Jefferson : “The Government that governs least governs best”. Nhưng cũng vì xã hội tự do không ép buộc mọi người tuân theo những nguyên tắc cứng nhắc, không buộc thiểu số phải sống theo đa số, nên quá trình hoàn thiện các định chế của một xã hội tự do diễn ra vô cùng chậm chạp. Một xã hội tự do cũng giống như một rừng cây tự nhiên, những cây khỏe mạnh thì phát triển, những cây yếu ớt bị đào thải. Tình trạng này được coi là khiếm khuyết của xã hội tự do :  “mạnh được yếu thua”, “cá lớn nuốt cá bé”. Dần dần người ta quên đi những thành tựu mà xã hội tự do đem lại, bởi những thành tựu do “không làm gì hết” mà có, thiên hạ coi là những thứ đương nhiên mình được hưởng, từ đó người ta chỉ còn quan tâm đến sự khiếm khuyết của nó và càng ngày càng không muốn chấp nhận những khiếm khuyết đó, dẫn đến sự gia tăng khuynh hướng chối bỏ chủ nghĩa tự do. Trong khi đó, những người bảo vệ chủ nghĩa tự do, để chống lại những mối đe dọa đối với nó, đã biến chủ nghĩa tự do, vốn “thủy tự mang mang hoa tự hồng”, thành những nguyên tắc bất di bất dịch. Theo Hayek thì chỉ cần bác bỏ một luận điểm cụ thể nào đó của những nguyên tắc đó thì lập tức cả tòa lâu đài sẽ sụp đổ ngay lập tức. Hayek cho rằng “chính thành tựu của chủ nghĩa tự do cũng là nguyên nhân đưa nó đến chỗ suy tàn”.

Phế bỏ chủ nghĩa tự do không ai khác là đám đông. Không thể nói là đám đông không có khát vọng tự do, nhưng đám đông bao giờ cũng muốn Nhà nước làm nhiều hơn những “việc tốt”, “chăm sóc” tốt hơn đời sống của người dân, thực hiện nhiều hơn “công bằng xã hội”. Nhưng khốn nỗi, Nhà nước càng làm nhiều việc, kể cả những “việc tốt”, thì tự do càng ít đi.

Hitler không giành chính quyền một cách bất hợp pháp. Chính Hitler đã làm rất nhiều “việc tốt” để hồi sinh nước Đức thua trận, bệ rạc và nhục nhã sau Đại chiến thứ 1 và rất biết kích hoạt khát vọng, tính kiêu ngạo và lòng thù hận của đám đông. Ông ta lên cầm quyền một cách hợp pháp và dân chủ, chính đám đông đã tạo ra Hitler. Cần lưu ý : Dân chủ chỉ là một trong những phương tiện đi đến tự do, nhưng là một phương tiện không đầy đủ. Một nền dân chủ lấy số đông làm chuẩn mực, không tôn trọng thiểu số cũng như từng cá nhân riêng lẻ, một nền dân chủ lấy 51% thống trị 49%, nền dân chủ ấy luôn luôn có nguy cơ biến thành một chế độ toàn trị. Thảm họa phát xít ở Đức là một minh chứng.

Ở Mỹ, F.D. Roosevelt lên cầm quyền đã ban hành “Chính sách kinh tế mới” (New Deal), phế bỏ nhiều thành tựu của xã hội tự do bằng một loạt các biện pháp can thiệp của Chính phủ vào hoạt động kinh tế và đời sống người dân. F.D.R rất được lòng tầng lớp trung lưu, thành phần đa số người Mỹ, vì vậy mà ông trúng cử tới 4 nhiệm kỳ Tổng thống. Nhờ sự tiên lượng thiên tài của các nhà lập quốc, nên nước Mỹ đã có một bản Hiến pháp tự do cực kỳ khó sửa đổi, vì vậy mới loại được nguy cơ của chế độ toàn trị. Tuy nhiên, các chính sách can thiệp của F.D.R đã để lại những di hại lâu dài, không những rât khó khắc phục mà còn có khả năng tái diễn. Có vẻ như món bí kíp “quỳ hoa bảo điển” của F.D.R đang được Obama đem ra luyện tập.

Xin một lần nữa dẫn lại bức tranh đăng trên karendecoster.com minh họa sinh động con đường phát triển của “Nhà nước vú em” kéo theo sự suy tàn của chủ nghĩa tự do tại nước Mỹ trong thế kỷ 20 :


Từ trái sang :
Hình 1 : Tượng nữ thần tự do nguyên vẹn với Laissez-faire của thế kỷ 19.
Hình 2 : Chỉ với 1 tu chính án thứ 18, tức điều khoản cấm rượu được bổ sung vào Hiến pháp (thông qua năm 1921, bãi bỏ năm 1933 bằng Tu chính án số 21), nữ thần tự do bị cụt mất cánh tay.
Hình 3 : Với New Deal của F.D.R, nữ thần tự do mất luôn cái đầu.
Hình 4 : Với Great Society của Lyndon B.Johnson, nữ thần tự do mất tiếp hai vai.
Hình 5 : Với Big Government hiện nay, hay còn gọi là Nanny State (Nhà nước vú em), tượng nữ thần tự do biến mất hoàn toàn, thay vào đó là một bà vú.

(lúc nào rảnh viết tiếp)


Phần 1
Phần 2

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét