Chủ Nhật, ngày 19 tháng 2 năm 2012

Không nên ăn thịt thú rừng, vì sao ? (2)

Khác với gia súc gia cầm, thú rừng sống trong môi trường khác với môi trường sống của con người, ăn không ít những thực vật và độc vật độc hại với cơ thể con người, do đó thịt của chúng ăn vào có thể sinh nhiều bệnh rất khó chữa.

Mắc nhiều bệnh khó chữa

Ăn thịt thú rừng và sử dụng các bộ phận của thú rừng tốt cho sức khỏe ở đâu thì chưa ai thấy rõ, nhưng tác hại của nó đối với cơ thể con người là điều chắc chắn. Các bậc chân y thời xưa đã chỉ rõ điều đó sau một quá trình lâu dài theo dõi, khảo nghiệm và đúc kết.

Sách “Nguyễn Phúc tộc dược minh y kính” chỉ rõ rằng, chỉ có thịt của những con vật được con người thuần dưỡng lâu đời ăn vào mới tốt cho cơ thể, vì chúng sống trong môi trường sống của con người, ăn những thứ quen thuộc với con người. Còn thú rừng thì sống trong môi trường có nhiều dị biệt, chúng ăn những giống thực vật và động vật mà con người không biết, trong đó có không ít những cây lá hoa củ và côn trùng độc, dị ứng với trạng thái sinh học của cơ thể con người.

Chẳng hạn, heo rừng và nhím thường ăn nấm độc. Cơ thể của chúng thích nghi với các chất độc đó, nhưng thịt của chúng người ăn vào sẽ sinh chứng thần kinh bất ổn, ăn thường xuyên có thể bị rối loạn hành vi hoặc trở nên hung hãn.

Nai, hoẵng… ăn nhiều thứ lá độc, nên người ăn nhiều thịt nai thịt hoẵng có thể sinh chứng “lãng lãng lơ lơ” như người mất trí.

Hổ, báo, beo, trăn, rắn … có vô số những bọ, ve, rận ngoài da và các ký sinh lạ trong cơ thể, trong đó có những loài ký sinh rất bé mắt thường không nhìn thấy, những ký sinh này tiết ra nhiều độc tố trong thịt và sống được trong nhiệt độ rất cao, nên thịt của những con này người ăn vào sẽ bị tổn hại mạch máu, bị các bệnh ngoài da và phong ngứa rất khó chữa trị.

Những bọ, ve, rận và các loại ký sinh chồng chất lên nhau dày đặc trong da rắn, khi ngâm rượu những ký sinh này không chết, chúng sẽ theo rượu mà chui vào cơ thể người. Các độc tố sẽ tích tụ lại, biến thành các bệnh nan y khiến thầy thuốc phải bó tay.

Chồn, cheo… cũng ăn nhiều loại côn trùng độc, nên thịt của chúng đàn ông ăn vào có thể rối loạn cương dương, phụ nữ ăn vào sẽ mắc bệnh phụ khoa.

Mật gấu, tuy có thể chữa được một số bệnh, trong đó có bệnh đau mắt, làm tan máu bầm… Tuy nhiên trong mật gấu có nhiều chất dị ứng với cơ thể người. Cần biết, đã là mật thì mật gì cũng có thể làm tan máu bầm, không cứ là mật gấu. Bởi vậy, đối với các chứng dùng mật gấu, nên thay bằng mật dê và mật heo là tốt nhất. Mật dê không những hoàn toàn thay thế được mật gấu mà còn có tác dụng trị liệu nổi trội hơn mật gấu trong việc chữa các bệnh về mắt (các chứng cườm nước, mây mọng thịt). Riêng mật heo, còn nổi trội hơn mật gấu trong việc chữa chứng nẻ gót chân. Khi gót chân bị nẻ (có khi nẻ tới xương), bôi mật gấu vào có thể chữa được nhưng sẽ gây biến chứng rất nguy hiểm, trong khi dùng mật heo hấp chín pha với nước cơm (nước lấy từ nồi cơm nấu sôi) bôi vào một thời gian ngắn sẽ lành, không có tác dụng phụ gì cả. Mật heo cũng trị được các bệnh về mắt, bệnh thoái hóa da và sừng hóa bàn tay bàn chân. Tóm lại theo các tài liệu đông y chân truyền thì mật dê, mật heo có giá trị chữa bệnh tốt hơn nhiều so với mật gấu, lại là các sản phẩm dễ kiếm nhất và hầu như không tốn tiền, trong khi mật gấu thì rất đắt.

Ngà voi, có thể làm làm thuốc chữa được một số bệnh quan trọng, tuy nhiên, chỉ có ngà lấy từ con voi chết già mới có giá trị y dược, ngà voi lấy từ voi sống hoàn toàn không có giá trị gì.

Đối với răng hổ cũng vậy, lấy từ những con hổ chết già có thể chữa được một số bệnh, nhưng giết hổ sống để lấy răng thì cái răng đó cũng vô giá trị. Còn xương hổ thì về y lý chẳng có gì khác biệt so với xương heo xương bò.

Đối với gạc nai, gạc hươu, tuy tốt cho cơ thể người và khi cắt đi chúng có thể tái sinh, nhưng nói chung là không nên dùng, vì hoàn toàn có thể thay thế bằng những thứ đơn giản rẻ tiền hơn. Ví dụ, nấm mối và nấm khoang có giá trị dinh dưỡng và dược lý không những không thua kém mà còn tốt hơn rất nhiều so với gạc nai, gạc hươu.

Đối với loài tê giác đã bị tuyệt diệt ở nước ta, thảm họa này xuất phát từ sự ngộ nhận về tác dụng của chiếc sừng của nó, chúng tôi sẽ có bài phân tích riêng.

Bởi vậy mà tổ tiên ta từ khi định canh định cư làm lúa nước và thuần dưỡng các vật nuôi để làm thực phẩm, hàng ngàn năm qua đã dứt khoát nói “không” với thịt thú rừng.

Rừng thiêng thú hoang tương tác nhau mà tồn tại. Từng nhóm từng nhóm quyện sinh với nhau thành một quần thể, dung dưỡng cái tốt, chế ước cái xấu, tạo ra thế cân bằng, mỗi giống mỗi loài đều có vị trí, thiên nhiên không sinh ra bất cứ thứ gì thừa thãi. Chẳng hạn, gấu, heo rừng và gà rừng bao giờ cũng là “hàng xóm” tốt của nhau. Chỗ nào có gấu, chỗ ấy có heo rừng, gà rừng và ngược lại. Gấu là con vật không sợ cọp, nhưng khi gấu ăn mật ong sẽ bị say, trạng thái như bị thôi miên dễ bị cọp xơi, nếu lúc đó có cọp đến thì gà rừng sẽ báo động. Gà sẽ ăn những thức ăn thừa của gấu (ấu trùng ong), vừa đủ dinh dưỡng vừa không bao giờ bị dịch. Gấu là con vật không biết đánh hơi trong khi khả năng này ở heo rừng lại rất tốt, vì vậy heo rừng biết cách bới tìm các củ, rễ, nấm ăn được, gấu sẽ ăn theo heo rừng. Heo rừng lại rất sợ cọp và trăn, nên gấu sẽ bảo vệ heo rừng khi có cọp hoặc trăn xuất hiện. Phân gấu, phân heo vừa làm cây cối xung quanh tươi tốt vừa làm sạch môi trường, ngăn ngừa được mọi thứ dịch bệnh cho cả các động vật thực vật xung quanh. Trong rừng thiêng có vô số những nhóm quyện sinh như vậy, tạo thành một hệ sinh thái cân bằng vững chắc. Chính hệ sinh thái cân bằng vững chắc này bao đời nay đã bao bọc, nuôi dưỡng môi trường sống của con người.

Giữa con người cùng vườn tược gia súc gia cầm với rừng thiêng thú hoang từ lâu đã xác định ranh giới “nước sông không động đến nước giếng”. Nhưng con người chỉ được “nhận” mà không thấy “cho”. Không những không “cho” bất cứ thứ gì mà còn vô ơn bạc nghĩa. Chớ nghĩ “cọp ăn thịt người” mà cho cọp là “ác thú”, chẳng qua chúng buộc phải “tự vệ chính đáng” mà thôi. Nhưng cứ mỗi một người bị cọp ăn là có hàng vạn con cọp bị con người giết lấy xương nấu cao hổ cốt. Và chớ nghĩ “rắn cắn người” mà cho rắn là “đồ ác độc”. Rắn độc vốn không sinh ra để cắn người, người ta tính cứ 4000 lần con người chạm vào con rắn chỉ có 1 lần bị rắn cắn và cứ 1 người bị rắn cắn thì có hàng triệu con rắn bị con người đem ngâm rượu.

Những đạo lý trên đây các nhà bảo vệ môi trường đã gào rát họng nhưng chẳng ai nghe. Bởi vậy qua bài này chúng tôi muốn gửi một thông báo thực dụng nhất : Dù quý vị không quan tâm đến đạo lý đi chăng nữa cũng chớ có ăn thịt thú rừng, vì ăn chúng quý vị chắc chắn sẽ mắc nhiều bệnh nan y không thể chữa khỏi !

HOÀNG HẢI VÂN

Bài đăng trên Thanh Niên, 19-2-2012

Kỳ trước : Thủ phạm của thảm họa sinh thái

Thứ Bảy, ngày 18 tháng 2 năm 2012

Không nên ăn thịt thú rừng, vì sao ? (1)

Đây không phải là khuyến nghị đạo lý, mà là một cảnh báo “thực dụng” nhất : Ăn thịt thú rừng không những chắc chắn sẽ bị ung thư do thịt bị ngâm tẩm các hóa chất độc hại để giữ “tươi”giả tạo khi vận chuyển về thành phố, mà ngay cả thịt thú rừng tươi nguyên chất không ngâm tẩm gì cũng rất nguy hiểm cho sức khỏe.

Thủ phạm của thảm họa sinh thái

Trong khi không có một công trình khoa học nghiêm túc nào nói thịt thú rừng có lợi cho sức khỏe hơn thịt gia súc gia cầm thì các tài liệu đông y trôi nổi và “lang băm” các loại lại đề cập một cách vô căn cứ những tác dụng chữa bệnh của thịt và các bộ phận của cơ thể thú rừng.

Sự cường điệu về tác dụng của sừng tê giác đã khiến cho tê giác ở Việt Nam tuyệt chủng. Sự cường điều về tác dụng của cao hổ cốt đã khiến cho loài hổ sắp bị diệt vong. Các loài gấu, chồn cáo, các loài rắn và vô số các loài động vật hoang dã khác cũng đang chịu chung số phận, bất chấp sách đỏ, bất chấp các đạo luật, bất chấp các biện pháp ngăn cấm, bất chấp tiếng kêu vô vọng của các nhà bảo vệ môi trường.

Càng ngăn cấm, thú rừng các đắt giá, thú rừng càng đắt giá chúng càng mau bị tuyệt diệt. Chưa nói đến sự hủy diệt rừng cũng đang diễn ra cực kỳ nghiêm trọng, chỉ riêng việc hủy diệt thú rừng không thôi cũng đủ cho nước ta rơi vào một thảm họa sinh thái.

Chính các tài liệu đông y trôi nổi và các “lang băm” nói trên là thủ phạm của thảm họa sinh thái này. Điều lạ lùng là trong khi Nhà nước cũng như các tổ chức xã hội dùng bao nhiêu luật, dùng bao nhiêu cuộc vận động đạo lý để kêu gọi bảo vệ động vật hoang dã, thì những tài liệu nói trên vẫn được lưu hành hợp pháp, thậm chí còn được đem ra giảng dạy ở các trường y.

Bởi vậy, để bảo vệ thú rừng, trước hết phải “lật tẩy” sự vô căn cứ của các sách vở đông y trôi nổi. Chúng tôi gọi “sách vở đông y trôi nổi”, vì chúng không có nguồn gốc rõ ràng.

Ngay cả những cuốn như “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” được cho là của danh y Lê Hữu Trác cũng có nhiều chi tiết đáng ngờ, nhất là phần lấy các bộ phận của động vật hoang dã làm thuốc, trong đó có tới 36 loài thứ rừng hầu hết đều nằm trong Sách đỏ (chưa kể các loài chim). Sở dĩ nó “đáng ngờ” vì Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác sống vào thế kỷ 18 (1720-1791), thời kỳ này không hề có chuyện sách vở bị ngoại xâm lấy đi hoặc tiêu hủy, nhưng mãi 100 năm sau khi ông mất, vào năm 1890 (thời vua Thành Thái), người ta mới phát hiện ra sách này và nói nó là của Hải Thượng Lãn Ông. Một trong những lý do để người ta tin ngay đó là sách của Hải Thượng Lãn Ông mà không cần có nhiều khảo cứu là bởi nó được phát hiện trong một ngôi chùa (ở Bắc Ninh). Chùa thì ít khi cho ra đồ giả, nhưng “ít khi” không có nghĩa là hoàn toàn không. Ngày nay người ta đã bắt đầu phát hiện trong cuốn sách này có nhiều bài thuốc rất phi lý, nhưng chưa ai đặt vấn đề khảo sát để gạn đục khơi trong cuốn sách đó. Có thể nhiều bài thuốc trong cuốn sách là của Hải Thượng Lãn Ông được ghi lại, nhưng có nhiều khả năng người ta thêm vào nhiều thứ khác nữa và gán luôn cho ông.

Còn cuốn “Nam dược thần hiệu” đang lưu hành (cũng có đề cập đến việc lấy các bộ phận cơ thể thú rừng làm thuốc) được gán cho Tuệ Tĩnh thì không thể tin được. Tuệ Tĩnh là một thiền sư, dù các thiền sư thời Trần có thể “uống rượu ăn thịt” phóng khoáng không câu nệ, nhưng không lý gì một thiền sư như Tuệ Tĩnh lại “phóng khoáng” tới mức khuyên người ta cầm dao mổ thú rừng để làm thuốc.

Hãy lùi về xa về nguồn cội. Cuốn sách y dược cổ nhất ngày nay chúng ta còn biết là cuốn “Thần Nông bản thảo”. Đây là cuốn sách nền tảng của cả nền y dược phương Đông. Sách này như tên gọi của nó (“bản thảo”), chỉ có thảo dược, hoàn toàn không có dược liệu từ thú rừng. Những sách y dược chân truyền các đời sau cũng vẫn vắng bóng thú rừng, trừ những bộ phận do chính động vật tự loại bỏ như xác ve, xác rắn hoặc bộ phận có thể tái sinh như gạc hươu gạc nai… Sách thuốc chân truyền cho đến thời nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống, dù có bổ sung thêm rất nhiều loại dược liệu nhưng vẫn giữ nguyên tắc của “Thần nông bản thảo”, là không dùng các bộ phận của thú rừng. Những loại “thuốc” từ sừng tê giác, mật gấu, xương hổ … mãi đến thời nhà Minh, nhà Thanh người ta mới biết qua các sách gọi là cổ nhưng không rõ nguồn gốc hoặc được thêm thắt rồi gán cho các danh y như trường hợp sách của Hải Thượng Lãn Ông và Tuệ Tĩnh ở ta.

Hiện nay bộ sách “Nguyễn Phúc tộc dược minh y kính” của nhà Nguyễn còn truyền trong gia tộc, là tổng hợp những di sản chân truyền của người xưa cùng những khảo nghiệm công phu của các bậc chân y triều Nguyễn. Sách này ngoài thảo mộc, còn có sử dụng động vật làm thuốc nhưng chỉ sử dụng gia súc gia cầm và động vật xung quanh chân ruộng, hoàn toàn không sử dụng các bộ phận của thú rừng, trừ những bộ phận bị loại bỏ một cách tự nhiên hoặc có thể tái sinh như đã nói.

Chúng ta phải ngưỡng mộ và học hỏi các vua chúa nhà Nguyễn, bởi các vị không những không dùng các bộ phận thú rừng để chữa bệnh mà trong thực đơn của các vị cũng không bao giờ có thịt thú rừng. Cái gọi là “nem công chả phượng” trong món ăn cung đình Huế chỉ là sự tưởng tượng bịa đặt của ai đó. Ngay cả những con nai con hoẵng đi săn được, các vua Nguyễn cũng không ăn, nếu có thì chọn những con bị bắn nhưng không chết đem nuôi dưỡng bằng những cây cỏ quen thuộc với con người một thời gian dài mới đem ăn được.

Ngày nay các quán thịt rừng đang mọc lên như nấm, khắp nơi khắp chốn, từ thành thị tới thôn quê. Sừng tê giác, cao hổ cốt, mật gấu, rắn ngâm rượu … được mua bán cho tặng tràn lan, từ các “đại gia” doanh nhân đến giới quan chức, từ trí thức tới bình dân. Đó là điều chưa từng xảy ra trong lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc. Nhìn mà hổ thẹn với tổ tiên, hổ thẹn với bạn bè quốc tế.

Rất tiếc là khi cho in ấn lưu hành những sách cổ của tiền nhân, các nhà nghiên cứu đã không có sự khảo sát, xác minh nghiêm túc dẫn đến ngày nay chúng ta không biết đâu là thật đâu là giả. Chẳng hạn như một số sách địa lý phong thủy được gán cho Cao Biền, nhưng nếu khảo sát các tài liệu cổ của Trung Quốc thời nhà Đường thì không tìm ra bất cứ cuốn sách địa lý nào của Cao Biền cả. Hoặc như cuốn “Binh thư yếu lược” được sưu tầm và in ấn, cho là của Trần Hưng Đạo, nhưng một số phần trong cuốn sách đó lại giống hệt sách “Hổ trướng khu cơ”của Đào Duy Từ được viết sau mấy trăm năm. Cuốn “Binh thư yếu lược” kia chắc chắn là giả mạo, bởi trong đó có nhiều chi tiết chỉ ở thời của Đào Duy Từ mới có. Những sách địa lý, binh thư là giả hay thật cũng chưa trực tiếp ảnh hưởng đến mạng sống con người (dù vẫn gây tác hại ở những lĩnh vực khác), nhưng sách thuốc thì liên quan đến mạng sống, không thể cẩu thả “giỡn chơi” với nó được.

(còn tiếp)

HOÀNG HẢI VÂN

Bài đăng trên Thanh Niên, 18-2-2012

Kỳ sau : Mắc nhiều bệnh khó chữa

Thứ Bảy, ngày 11 tháng 2 năm 2012

Mon men theo Trang Tử (1)

Trâu ngựa có bốn chân, ấy là Trời
Khớp đầu ngựa xỏ mũi trâu, ấy là Người
(Trang Tử)
Trang Tử chỉ để lại một Nam Hoa Kinh vỏn vẹn mười vạn chữ, nhưng gần hai ngàn rưỡi năm nay thiên hạ đã phải dùng tới thiên kinh vạn quyển để mổ xẻ mười vạn chữ đó, mà nào có mổ xẻ xong đâu.
Mười vạn chữ mà “bao la vạn khoảnh, biến hóa khôn lường” (lời Lỗ Tấn).
Có người còn nói nếu như mọi sách vở cổ kim của Trung Quốc buộc phải biến mất khỏi mặt đất, chỉ cho phép để lại một cuốn duy nhất thôi thì cuốn đó phải là Nam Hoa Kinh.
Điều kỳ dị của cuốn Nam Hoa Kinh là ở chỗ không ai có thể tự cho mình hiểu hết được nó, càng cố hiểu càng thấy rối mù. Ngay cả việc cuốn sách ấy phần nào do chính Trang Tử viết, phần nào do người đời sau viết, cũng khó mà xác định. Nhiều thế hệ học giả Trung Quốc đã dày công so sánh, đối chiếu, loại suy và xác định được 7 thiên thuộc phần Nội thiên là do chính Trang Tử viết, còn phần Ngoại thiên và Tạp thiên nhiều khả năng do người đời sau viết thêm vào. Nhưng ông Bùi Giáng của chúng ta thì bảo chưa chắc, biết đâu Trang Tử đã dùng lối nghịch hành.
Tư Mã Thiên nói các bậc vương công không ai biết nổi Trang Tử là người như thế nào. Mà đâu chỉ có các vương công, các văn nhân học giả cũng vậy thôi, đâu có mấy người biết nổi. Phải lấy Trang Tử mà giải thích Trang Tử, tuyệt đối không nghe sự giải thích của bất kỳ ai và đừng bắt ai phải theo Trang Tử, đó là lời khuyên của các bậc túc học “biết biển biết rừng” thời xưa ở Trung Quốc.
Việt Nam hiện có 4 bản dịch Nam Hoa Kinh, của Nhượng Tống, của Nguyễn Hiến Lê, của Nguyễn Duy Cần và của Nguyễn Tôn Nhan. Đọc mỗi bản dịch kèm theo lời bình giải, bạn sẽ hiểu Trang Tử theo mỗi cách khác nhau. Ông Nguyễn Hiến Lê soạn sách công phu nhất, nhưng đọc sách của Nguyễn Hiến Lê người ta thấy cái công phu của Nguyễn Hiến Lê thì nhiều mà thấy Trang Tử thì ít nhất. Nhưng nếu đọc những trang ngao du cà rỡn của Bùi Giáng về Trang Tử, bạn lại thấy Trang Tử nhiều hơn bất cứ chỗ nào.
Để mon men theo Trang Tử thật không biết phải đi đường nào, bởi mọi “con đường” đều không đến được ông. “Đạo” của Trang Tử không phải là một “con đường”, mà ở mọi vật mọi chốn mọi nơi, mênh mông bát ngát. Ông phất ống tay áo lên là biến thành tấm lưới lồng lộng thâu tóm luôn hai ngàn rưỡi năm dâu bể.
Cần phải có học cao biết rộng mới tiếp cận được Trang Tử chăng ? Không hẳn. Trang Tử bảo kiến thức sách vở là “đôi dép mục”, là “cặn bã” của tiền nhân. Theo đó thì “lấy Trang Tử mà giải thích Trang Tử” chắc cũng không ổn, vì Nam Hoa Kinh cũng chỉ là “đôi dép mục” mà thôi.
Phải là chính nhân quân tử mới tiếp cận được Trang Tử chăng ? Cũng không luôn. Trang Tử phản đối nhân nghĩa. Theo ông thì dân vốn sống tự nhiên cùng đồng ruộng cây cối chim muông, “dệt mà mặc, cày mà ăn”, “ngậm cơm mà vui, vỗ bụng mà chơi”, “không biết gì là quân tử với tiểu nhân”. Đó là đạo đức thường hằng hồn nhiên như cây cỏ. Chính những kẻ gọi là thánh nhân “cặm cụi làm nhân, tập tễnh làm nghĩa, mà thiên hạ sinh ngờ; lan man làm nhạc, khúm núm làm lễ, mà thiên hạ mới phân chia”. Phải hủy đạo đức mới làm được nhân nghĩa, vì đạo đức không phế thì lấy đâu ra nhân nghĩa ?
Trang Tử lên án cả những “người tốt” lúc chết khiến mọi người thương khóc. Lão Tử chết, “người già khóc như khóc con mình, người trẻ khóc như khóc mẹ mình”, Trang Tử cho rằng người này lúc sống ắt có những chuyện “không cần nói mà nói, không cần khóc mà khóc”, khiến cho thiên hạ nhớ những gì ông ta đã “cho” mà quên đi những gì ông ta đã “nhận”. Đó là “vi thiện cận danh”, ông coi chẳng ra gì. Chủ trương “vi thiện vô cận danh” (làm thiện không gần danh) của ông nghe dễ hiểu mặc dù khó làm, ở một phương trời khác Jésus cũng từng nói : “Tay phải làm điều thiện không được cho tay trái biết”. Nhưng Trang Tử lại bảo “vi ác vô cận hình” (làm ác không gần hình phạt) thì nghe quá choáng, mặc dù nó không khác mấy bài “lách luật” mà ngày nay thiên hạ vẫn thường áp dụng.
Ông “tề vật” một cái là sống chết như nhau, nhỏ to không phân biệt, thiện ác phải quấy san bằng. Cái chiêu “tề vật” của ông có kình lực ghê người, làm rung chuyển hơn hai thiên niên kỷ, khiến cho các công hầu khanh tướng lũ lượt giũ áo từ quan về nấu cơm cho vợ, kéo vua chúa từ ngai vàng xuống đồng rộng và lôi sư sãi ra khỏi chùa chiền “thõng tay vào chợ”. Một nhị tổ Thiền tông Huệ Khả sau khi đại ngộ được truyền y bát hẳn hoi, đã suốt đời lang thang lao động kiếm sống, uống rượu ăn thịt như một phàm phu. Không phải Trang làm cho Phật đảo điên. Phải chăng hội tụ với Trang, Phật trở lại với cái vô biên vốn có của đời thường, “Như lai giả vô sở tùng lai diệc vô sở khứ cố danh Như Lai” ?
(còn tiếp)