Thứ Năm, ngày 08 tháng 11 năm 2012

Thiền và kinh tế học : "Thủy tự mang mang hoa tự hồng" (2)

"Tuyệt Thánh khí Trí, dân lợi bách bội"
- Lão Tử

Trong phần trước có nhắc tới lời Trang Tử, phải “tuyệt thánh khí trí” thì thiên hạ mới thái bình, cùng việc Hayek coi giới trí thức là “secondhand dealer” và môn kinh tế học chính thống hiện đại là “ngụy tạo tri thức”. Nhiều người dễ liên tưởng đến chuyện Mao Trạch Đông coi trí thức “không bằng cục phân”. Tôi không biết họ Mao có nói như vậy hay không và nói trong ngữ cảnh nào, nhưng nếu có chuyện đại loại như thế thì ông ta không phải là người đầu tiên, đầu tiên chính là Trang Tử và Lão Tử. Và người nói điều đó có “bài bản” nhất là Hayek.

Hayek cho rằng tai họa của thế kỷ 20 chính là chủ nghĩa duy khoa học. Theo ông thì không thể đem các phương pháp của khoa học tự nhiên như toán hay vật lý học để nghiên cứu, đo lường các hiện tượng kinh tế và xã hội nhằm rút ra các quy luật vận động của nó, vì xã hội là tập hợp vô số những hiện tượng phức đan xen tương tác giữa những ý chí, lợi ích, sở thích của hàng tỷ cá thể riêng lẻ. Không có bất cứ một bộ óc nào có thể thâu tóm hết những hiện tượng phức đó. Người ta chỉ có thể biết được những gì người ta có thể biết, người ta chỉ có thể đo được những gì có thể đo, mà những cái có thể biết có thể đo là rất ít ỏi và rất nhiều khi chúng không phải là các yếu tố chủ yếu của hiện tượng. Tri thức về một sự vật, một hiện tượng được quan sát, đo lường theo cách đó nhất định không phải là bản thân sự vật, hiện tượng. Đó là tri thức ngụy tạo.

Hayek chỉ thừa nhận kinh tế học vi mô, ông bác bỏ kinh tế học vĩ mô. Người ta có thể biết một doanh nghiệp, không thể biết cả một nền kinh tế. Tri thức vi mô là tri thức thật, tri thức vĩ mô là tri thức ngụy tạo. Nhà nước, dù gồm những thiên tài quản lý, không bao giờ có đủ tri thức để lập kế hoạch và điều khiển nền kinh tế theo kế hoạch. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nền kinh tế kế hoach hóa Đông Âu là minh chứng.

Nhà nước cũng không đủ tri thức can thiệp vào thị trường, dù với sứ mệnh cao cả “bảo đảm công bằng xã hội”. Hậu quả của việc ngang ngược xóa bỏ bản vị vàng và thực hiện “chủ nghĩa can thiệp”, từ F.D. Roosevelt (Tổng thống Mỹ) đến Clement Attlee (Thủ tướng Anh), đã để lại những di hại nghiêm trọng cho đến tận ngày nay, khiến cho thế giới trở nên hỗn loạn không kiểm soát nổi. Cuộc khủng hoảng nợ châu Âu hiện nay có nguồn gốc sâu xa từ mô hình “Nhà nước phúc lợi” của nước Anh thời kỳ Attlee. Anh Quốc vốn là “quê hương” của thị trường tự do, dẫn đầu thế giới về sự thịnh vượng ở thế kỷ 19, đã bị chủ nghĩa can thiệp của Attlee và Công Đảng Anh làm suy kiệt, cho đến khi Margaret Thatcher lên cầm quyền.

Xin nói thêm một chút việc bà đầm thép Thatcher đã “phá chấp” để đưa nước Anh “phản bản hoàn nguyên” như thế nào. Ngay khi mới lên cầm quyền, bà tuyên chiến với hai thế lực lớn : độc quyền kinh tế của các ngành quốc hữu hóa và độc quyền nghiệp đoàn. Bà cắt giảm các khoản chi tiêu công khổng lồ, giảm thiểu vai trò của Nhà nước, trả các hoạt động sản xuất kinh doanh lại cho thị trường. Ngày nay chúng ta đã quen với khái niệm “tư nhân hóa”, chính khái niệm đó đã ra đời ở nước Anh thời Thatcher. Đáp trả lại sự phản đối gay gắt trong nội các về việc bà áp dụng  “chủ nghĩa kinh tế tự do của Giáo sư Hayek”, bà nói : “Ồ, vâng, tôi biết, gần đây chúng ta đã được không dưới 365 nhà kinh tế học hàn lâm cho biết rằng những điều này là không thể … Sự tự tin về tính chính xác trong dự đoán của họ khiến tôi nín thở. Nhưng tôi đã lớn lên trong một cửa hàng kinh doanh, tôi tự hỏi liệu họ có dám đặt cược bằng tiền của chính họ cho những dự đoán đó hay không” (trích từ Daniel Yergin và Joseph Stanislaw - Commanding Heights : The Battle for the World Economy). Và bà đã thắng, nước Anh đã hồi sinh.

Ở Việt Nam, Đổi Mới là câu chuyện kinh thiên động địa. Đổi Mới hơn 25 năm, đất nước đã tiến một bước tiến dài. Đó thực chất là câu chuyện “bỏ bớt” Nhà nước, là Nhà nước từng bước lùi khỏi thị trường. Những tuyên bố “cởi trói”, “xóa bỏ”, “nới lỏng” dần dần thay cho các khẩu hiệu “tăng cường”, “siết chặt”, “đẩy mạnh”. Nói “kinh thiên động địa” là vì ngay một nước tư bản chủ nghĩa như nước Anh, hồi đó dù độc quyền kinh tế nhà nước nhưng thị trường chưa bị phế bỏ, mà trở lại kinh tế thị trường tự do còn khó đến như vậy, huống gì một nền kinh tế đã nằm gọn trong gọng kiềm kế hoạch hóa như Việt Nam.

Không ai biết các nhà kinh tế học Việt Nam làm được những trò trống gì để thúc đẩy Đổi Mới. Người ta chỉ biết ông Kim Ngọc khoán chui, ông Tạ Đình Đề hai lần bị bắt, hai lần ra tòa về “tội” dám tổ chức sản xuất kinh doanh của Xưởng Cao su Đường sắt theo thị trường, người ta chỉ biết các doanh nghiệp vượt rào, biết những người đứng mũi chịu sào như ông Võ Văn Kiệt xúi bà Ba Thi vượt ngăn sông cấm chợ để lưu thông lương thực với lời bảo đảm “nếu chị đi tù tôi sẽ đem cơm”, biết ông Phan Văn Khải khi làm Thủ tướng đã từng tuyên bố “Nhà nước chỉ làm những gì mà dân không làm được” – chủ nghĩa tự do của Hayek tựu trung cũng chỉ như vậy thôi.

Hôm nay Obama vừa tái cử thêm một nhiệm kỳ Tổng thống Mỹ. Điều kỳ lạ là báo chí Việt Nam không giấu nổi sự hân hoan, thậm chí trước bầu cử có báo còn hào hứng đưa tin “thế giới mong Obama thắng cử”. Nhưng cần nhớ rằng, cũng như F.D. Roosevelt trước đây, Obama tiếp tục cầm quyền thì Nhà nước Mỹ to ra, tự do tạm thời ít đi, các biện pháp lấy lòng tầng lớp trung lưu (Middle America) sẽ khiến cho nợ nước Mỹ phình to thêm, vàng sẽ tiếp tục lên giá vì lượng cung tiền sẽ tăng, tóm lại là kinh tế giới giới sẽ có thêm 4 năm tích tụ bất ổn cho một cuộc khủng hoảng trầm trọng hơn trong tương lai. Nhưng biết làm sao được khi đa số người Mỹ ngày nay thích đổi tự do để lấy sự an toàn trong hiện tại, còn tương lai thì mặc xác !

Trở lại câu chuyện của Thiền, về sự “Biết” (tri thức). Theo Hòa thượng Thích Trí Quang : Mục đích của việc hành thiền là làm cho “tâm nhất tánh cảnh”, nói nôm na là làm sao cho cái “Biết” của mình đồng nhất với đối tượng mà mình quan sát, tức là tri thức về đối tượng phản ánh đúng chân tướng của đối tượng. Thiền tông phân biệt sự “Biết” theo 2 cấp độ : đệ nhất phong đầu và đệ nhị phong đầu (ngọn núi thứ nhất và ngọn núi thứ hai). Đệ nhất phong đầu là chân tướng của đối tượng. Đệ nhị phong đầu, còn gọi là “tương tục tâm”, không phải là chân tướng của đối tượng, nghĩa là do sự nhận định tốt xấu và thái độ yêu ghét chủ quan của con người thêm thắt hoặc cắt xén, khiến cho đối tượng bị biến dạng, méo mó đi. Khốn nỗi con người bao giờ cũng có sẵn những định kiến tốt xấu và thái độ yêu ghét khi quan sát đối tượng, nên cái “Biết” thường chỉ là đệ nhị phong đầu. Đệ nhị phong đầu bao giờ cũng lấn át, che khuất đệ nhất phong đầu. Mọi thứ trần lao phiền não từ đó mà sinh ra. Khi nào cái “Biết” đúng với đệ nhất phong đầu, khi ấy mới giải thoát khỏi mọi trần lao phiền não, và như vậy là đã kiến tánh thành Phật rồi.

Cái “Trí” mà Trang Tử Lão Tử bảo phải bỏ (khí Trí) chính là đệ nhị phong đầu. Thứ “tri thức ngụy tạo” mà Hayek nhắc tới cũng là đệ nhị phong đầu…

(lúc nào rảnh viết tiếp) 

Phần 1

Thứ Bảy, ngày 03 tháng 11 năm 2012

Thiền và kinh tế học : "Thủy tự mang mang hoa tự hồng" (1)

Am trung bất kiến am tiền vật
Thủy tự mang mang hoa tự hồng

- Khuếch Am thiền sư 

Thiền đang là cái mốt thời thượng, đâu đâu cũng thấy sách vở về thiền, đâu đâu cũng thấy các lớp tập thiền. Thiền để cải ác quy thiện, để xóa bỏ phiền não, thiền để sáng suốt làm việc, để phục hồi nguyên khí nhằm có sức bày mưu tính kế giữa hai hồi đấm đá, để tĩnh tâm đối phó với các đối thủ kinh doanh đối thủ chính trị, thiền để chữa bệnh cho sống lâu trăm tuổi,  thiền để quên đi sự đau khổ khi bị tình phụ và quên đi tội lỗi khi phụ tình, thiền để đưa mình vào thế giới thanh cao giữa muôn loài chúng sanh tạp nhạp…, thiên hình vạn trạng biến hóa khôn lường.

Có lẽ thiền sư Nhất Hạnh hiện là người đi “quảng bá” thiền nhiều nhất. Những lớp giảng thiền, những buổi hướng dẫn tập thiền của ông ở nước ngoài được rất nhiều người theo học, sách vở về thiền và những bài giảng về thiền của ông được in, được lưu hành trên mạng Internet nhiều nhất. Ông là người “hiện đại hóa” thiền, là người nỗ lực đưa thiền “cập nhật” vào mọi lĩnh vực của đời sống.

Ngày xưa tôi ngưỡng mộ thượng tọa Thích Nhất Hạnh sau khi đọc cuốn sách mỏng “Bông hồng cài áo” của ông, sau này nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ phổ thành một bài hát, tôi cũng rất thích. Bây giờ người ta gọi ông là thiền sư. Nhưng đọc sách thiền của ông, mở Internet nghe ông giảng về thiền, tôi có cảm giác na ná như đọc những sách và nghe những bài giảng  “Bí quyết dẫn đến thành công” hoặc “7 bước làm giàu” hay đại loại như thế.

Đọc Thiền nghe Thiền từ thiền sư Nhất Hạnh người ta thấy tự tánh thì ít  mà thấy thiền sư Nhất Hạnh thì nhiều, hình như ông cố dụng công đạt cho được điều đó. Làm cho thiên hạ ngưỡng mộ mình không có gì xấu, miễn sao hướng mọi người đến được với chút ít an lành. Tôi không thấy an lành hơn khi đọc sách của thầy Nhất Hạnh, lý do vì sao tôi không giải thích được, có lẽ tôi còn quá nhiều cố chấp.

Thiền, bắt đầu từ một cuốn sách mỏng : Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục tổ. Người Trung Quốc rất tự hào về Lục tổ Huệ Năng, coi Huệ Năng ngang, thậm chí còn hơn Trang Tử, Lão Tử, Khổng Tử. Cuốn sách gối đầu giường, cuốn sách mà Mao Trạch Đông luôn luôn mang bên mình không phải là sách của Marx, Lenine hay Khổng Tử mà là cuốn Pháp Bảo Đàn Kinh (xin chớ vì bi kịch của cuộc “Đại cách mạng văn hóa” mà coi thường Mao Trạch Đông, cũng như chớ coi thường Tần Thủy Hoàng, Hán Cao tổ Lưu Bang hay Tào Tháo).

Đó là cuốn sách khai sơn phá thạch mà tĩnh lặng như không. Có nó mới có Thiền Tông Trung Quốc, có nó mới có Zen Nhật Bản, có nó thư pháp, thư họa, Đường thi mới trở thành bất hủ, có nó mới có những kiệt tác “thi trung hữu họa, họa trung hữu thi” của Vương Duy, mới có những nét bút thần tiên hồn nhiên tươi mát như cỏ cây hoa lá của Tề Bạch Thạch... Ảnh hưởng của Pháp Bảo Đàn Kinh vượt xa văn hóa Phật giáo, vượt xa văn hóa Phương Đông, nó đã kiến tạo lại nền văn minh Trung Hoa và âm thầm kiến tạo lại nền văn minh thế giới.

Và điều này ít người nghĩ tới, là từ những ẩn ngữ trong Nam Hoa Kinh và Pháp Bảo Đàn Kinh mà các bậc chân y mới lần ra hệ thống kinh lạc trong cơ thể con người để hoàn thiện phương pháp chẩn trị bệnh tật. Trang Tử và Huệ Năng chính là hai vị tổ sư đưa nền y học cổ truyền phương đông lên đỉnh cao mà y học hiện đại chỉ có thể vươn tới trong tương lai xa.

Tôi không dám múa bút viết về Lục tổ, chỉ xin mượn lời giáo sư Phạm Công Thiện : “Huệ Năng chính là Phật, đủ mười danh hiệu tối thắng, tối thượng; nếu còn mảy may khác nhau giữa Đức Phật và Ngài Huệ Năng thì Huệ Năng không thể là tổ sư của Thiền Tông. Bồ Đề Đạt Ma chỉ là một tên khác của Huệ Năng và Huệ Năng mới thực sự là Tổ sư Thiền Tông hiện nay”. Cũng theo Phạm Công Thiện, “tất cả những quyển sách khắp thế giới viết về Thiền Tông và Mật Tông đều là hý luận. Tổ sư Thiền và Như Lai Thiền không khác nhau. Chỉ có Thiền đúng nghĩa là Thiền của Lục tổ Huệ Năng”.

(Giáo sư Phạm Công Thiện còn nhấn mạnh : “Lục tổ Huệ Năng sinh ở đất Lãnh Nam, tức là Việt Nam ngày xưa”. Nhưng đây là câu chuyện khác, hy vọng sẽ có dịp đề cập để nhắc cho những người Việt Nam tự liệt mình vào hàng nhược tiểu, những người Việt Nam tự “làm nhỏ” mình nhớ lại biên giới nước Việt Nam từng tới đâu, người Việt đã kiến tạo được những gì, đã để lại những di sản gì cho văn minh nhân loại).

Tuy nhiên, cũng giống như môn kinh tế học đang rối rắm thiên kinh vạn quyển mà chân lý chỉ nằm trong những lời giản dị của Adam Smith hơn 250 năm trước, rằng hãy để cho mỗi cá nhân tự do theo đuổi những lợi ích riêng của mình và một “bàn tay vô hình” sẽ điều tiết, sẽ biến những hành vi tự do theo đuổi lợi ích riêng của mỗi cá nhân đó thành sự thịnh vượng cho xã hội cho đất nước, rằng “chỉ cần một vài điều kiện là có thể đưa một đất nước từ tình trạng dã man lên trạng thái phú cường nhất, đấy là hòa bình, thuế khóa dễ chịu và việc thực thi công lý có thể chấp nhận được : tất cả những điều còn lại sẽ xảy ra một cách tự nhiên”, Thiền đã bị giới trí thức biến thành “hý luận” rối rắm, khiến cho người ta đi vào Thiền lạc đường, không phải đi vào “tự tánh” mà quá bận tâm đến luận lý, đến sứ mệnh giáo hóa, đến những thứ bên ngoài mình.

Không phải ngẫu nhiên mà trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Ngài Huệ Năng nhắc đi nhăc lại là mình không biết chữ, không phải ngẫu nhiên mà Đức Phật trước khi viên tịch đã buông một câu chấn động “Ta 49 năm chưa từng nói một lời nào”. Đó là do các vị tiên lượng chữ nghĩa ghi lại lời của các vị có khả năng biến thành những sợi dây trói ngăn con người đi vào tự tánh. Trang Tử chẳng đã từng nói sách vở là “cặn bã”, là “đôi dép mục” của tiền nhân đó sao !

Nói tọa thiền để tịnh tâm là nói trật lất. Lục tổ bảo tâm là “huyễn”, là ảo, nên tọa thiền trước hết là không dính mắc vào tâm (nguyên bất trước tâm). Trong một công án Thiền nổi tiếng, khi Huệ Khả chặt đứt cánh tay và nói với Tổ sư Đạt Ma đang diện bích “Xin thầy an tâm cho con” – “Tâm của ngươi đâu đưa ta an cho ?” – “Con không thấy tâm đâu cả” – “Ta đã an tâm cho ngươi rồi đó”, chữ “an tâm” này không có nghĩa như ta sử dụng, phải hiểu đó là “phóng tâm”, là “bỏ mất” tâm, mới đúng. Cũng không dính mắc vào sự yên tịnh (diệc bất trước tịnh), cũng không phải là ngồi yên bất động (diệc bất thị bất động). Huệ Năng phá bỏ luôn sự yên tịnh, ông nói tịnh không có hình tướng, lại lập ra hình tướng yên tịnh, rồi bảo đó là công phu, hiểu như vậy là bị sự yên tịnh trói buộc. Như thế nào gọi là tọa thiền ? Ông nói : “Trong pháp môn này không có sự che lấp, không có sự ngăn trở. Đối với hết thảy những việc lành dữ, tâm chẳng khởi ra điều nghĩ, gọi là tọa. Trong tâm thấy tánh của mình chẳng động, gọi là thiền”. 

Vấn đề là tọa thiền để làm gì ? Để giải thoát, để thành Phật, để vào cảnh giới niết bàn. Nhưng thành Phật, vào cảnh giới niết bàn để làm gì ? Thành Phật rồi, lên niết bàn rồi để  cha mẹ vợ con bè bạn lại cho ai đây ? Trước đây linh mục Nguyễn Ngọc Lan từng viết, nếu lên thiên đường một mình thì buồn quá, ông nhất quyết không lên. Tagore có một bài thơ nói về nhà sư khổ hạnh và cô gái hái củi, nhà sư ngồi hành xác trong rừng, cô gái đem lòng yêu thương hàng ngày đến chăm sóc nhà sư, nhưng nhà sư quyết từ chối tình yêu của cô gái, chán chường cô gái bỏ đi, nhà sư tiếp tục tu hành cho đến khi đắc đạo, Thượng đế cử thiên sứ xuống mời nhà sư lên thiên đường, nhưng nhà sư từ chối nói bây giờ thì ta không cần đến thiên đường nữa, thiên sứ hỏi nhà sư cần gì, ông bảo bây giờ ta chỉ cần cô gái hái củi thôi.

Là Thiền, nhưng Pháp Bảo Đàn Kinh phá bỏ luôn sự trói buộc của Thiền, phá bỏ “hết thảy”, phá bỏ tất tần tật mọi sự trói buộc, dù là niết bàn, dù là Phật, phá bỏ một cách ngắn gọn không dài dòng văn tự. Huệ Năng bảo pháp môn này “tiên lập vô niệm vi tông, vô tướng vi thể, vô trụ vi bản”. Vô tướng là ở nơi tướng mà lìa tướng, vô niệm là trong chỗ nghĩ tưởng mà không nghĩ tưởng, còn vô trụ là “coi như không” những thị phi thiện ác tốt xấu trên thế gian, là không bị những thứ đó trói buộc.

“Trong chỗ nghĩ tưởng mà không nghĩ tưởng”, tức là đối cảnh mà tâm không bị đắm nhiễm, không đối cảnh mà sinh tâm, chứ không phải “tận diệt” sự nghĩ tưởng. Bởi vì, “nhất niệm tuyệt tức tử, biệt xứ thọ sanh” - chấm dứt nghĩ tưởng là lập tức chết, là đã sanh vào cõi khác rồi. Đó không phải là mục đích của Thiền, Thiền không phải là tự tử.

Thiền để đến cảnh giới Ma ha Bát nhã Ba la mật đa. Cảnh giới đó chính tự tánh. Nhưng tự tánh vốn vô biên không hình tướng. Lại không được dính mắc vào cái vô biên không hình tướng đó. Dính mắc vào cái “không” đó, rồi tự cho mình đạt đạo, Hòa thượng Thích Trí Quang bảo đó là hạng “cuồng thiền”, thứ Thiền của những người này chỉ là “Thiền bệnh”. “Không tâm tĩnh tọa” cũng là thứ mê mờ tà kiến.

Như thế là thế nào ? Trở về với tự tánh Ma ha Bát nhã Ba la mật đa nói vòng vo tam quốc cũng không ngoài việc trở lại với chính mình trong mối tương quan vốn có với tự nhiên. Không có Phật ở đâu cả, không có niết bàn ở đâu cả. Chúng sanh các loại con nào trở về nguyên con ấy như trời sinh ra vốn thế, đó là Phật. Là ếch thì làm đúng ếch, chớ có ý định biến thành bò. Là ếch sống đúng như ếch, đó chính là Phật, ếch mà muốn làm bò ắt sẽ thành ma. Là người sống đúng như người, đó là Phật, người mà muốn thành Thánh thành Phật, ắt cũng thành ma.

Trong một cuốn sách giảng về “Thập mục ngưu đồ” (Mười bức tranh chăn trâu), đến bức tranh thứ 10 “Nhập triền thùy thủ” (Thõng tay vào chợ) vẽ hình một thiền sư ngực trần chân không mang bầu rượu xách con cá vào chợ, nhà sư viết sách (tôi không tiện nêu tên)  nói đó  là thiền sư sau khi đã vào cảnh giới Phật rồi mới “vào cảnh giới ma” để “dạy cho những người bán cá, bán thịt ở ngoài chợ, ở quán rượu, những người không có chút đạo đức, khiến cho họ có chút đạo đức biết tu hành”. Không có gì báng bổ Phật pháp bằng lời giảng đó. Ông bán thịt, bà bán cá, nếu bán đúng cân, bán đúng thịt tươi cá tươi, không ướp hóa chất độc hại để “làm tươi” giả tạo thì đúng là Phật rồi, sao gọi những người làm những nghề nghiệp lương thiện là ma ? là không có chút đạo đức ?. Còn ông thiền sư, việc thõng tay vào chợ là hành vi tự nhiên, là sự trở về cuộc sống bình thường vốn phải như vậy, ông ấy chẳng có ý định giáo hóa ai cả, cũng chẳng tự cho mình có tư cách giáo hóa ai c. Nếu không như vậy, nếu ông ấy thõng tay vào chợ để “cải trang vi hành” nhằm đi giáo hóa người khác, thì chính ông ấy mới là ma. Chưa chắc chùa chiền có nhiều Phật hơn chợ búa, chưa chắc chợ búa có nhiều ma hơn chùa chiền.

Nhưng tại sao một vấn đề tưởng đơn giản như vậy lại biến thành phức tạp ? Tất cả đều do tri thức mà ra cả. Tri thức là sự phản ánh sự vật, hiện tượng vào đầu óc con người, nhưng sự phản ánh đó không bao giờ chính xác. Sự hiểu biết của con người về sự vật không phải là sự vật. Tri thức tích tụ trong đầu óc lâu ngày biến thành định kiến, rồi nhìn sự vật thông qua định kiến đó, từ đây sai lầm chồng lên sai lầm. Thay vì sống thuận theo tự nhiên, con người lại nhất quyết sống theo những tri thức sai lạc về tự nhiên. Phật gọi đó là “chấp”.

Phá cái chấp đó không hề dễ, Phật phải dùng đến kinh Kim Cương, hàm ý rằng phải dùng một thứ công cụ rắn như kim cương mới mong phá nổi. Trang Tử bảo phải “tuyệt Thánh khí Trí” thì thiên hạ mới thái bình. Vào thời hiện đại, Friedrich Hayek, người đoạt giải Nobel kinh tế năm 1974 gọi giới trí thức là “secondhand dealer” (người buôn đồ cũ), còn môn kinh tế học chính thống lúc đó (và bây giờ) là “ngụy tạo tri thức”.

Am trung bất kiến am tiền vật/Thủy tự mang mang hoa tự hồng” (Ngồi trong am không thể thấy vật ở ngoài am/(Hãy để cho) sông tự chảy và hoa tự hồng). Bi kịch của con người lkiêu ngạo tưởng rằng mình có thể biết hết mọi thứ...