Hiển thị các bài đăng có nhãn "Hôn nhân chính trị". Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn "Hôn nhân chính trị". Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, ngày 08 tháng 1 năm 2009

Người tu hành và cuộc "hôn nhân chính trị"


Đại Việt sử ký toàn thư chép "(Tháng 6 năm 1306) gả công chúa Huyền Trân cho chúa Chiêm Thành Chế Mân. Nguyên trước Thượng Hoàng (Trần Nhân Tông) vân du đến Chiêm Thành đã trót hứa rồi. Văn nhân trong triều ngoài nội phần lớn mượn việc vua Hán đem Chiêu Quân gả cho Hung Nô, làm lời thơ quốc ngữ mà chê cười".

Cũng sách này chép tiếp : " (1307) đổi 2 châu Ô, Lý làm Thuận Châu và Hóa Châu, sai hành khiển Đoàn Nhữ Hài đến ổn định dân chúng. Trước đó chúa Chiêm Thành là Chế Mân đem đất ấy làm vật dẫn cưới".

Cuộc hôn nhân lịch sử này làm cho đất nước dài thêm hơn 200 cây số. Mấy trăm năm nay người Việt Nam tự hào ngưỡng mộ Huyền Trân nhưng cũng thương tiếc cho Huyền Trân. Tự hào ngưỡng mộ thì đúng, nhưng thương tiếc thì chưa chắc đúng.

Châu Ô, Châu Lý của Chiêm Thành ngày xưa, ngày nay là dải đất dài từ nam Sông Hiếu tỉnh Quảng Trị đến bắc Sông Thu Bồn tỉnh Quảng Nam. Nhưng ý nghĩa của nó không chỉ là việc đất nước "dài ra" mà còn là vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng của vùng đất. Theo Nguyên sử ghi, đó là vùng đất mà bọn Toa Đô dùng làm bàn đạp để tấn công vào phía nam Đại Việt trong cuộc xâm lược của quân Nguyên năm 1283. Trong suốt một thời gian dài của lịch sử Đại Việt, Chiêm Thành luôn luôn đem quân đánh phá, có khi đem quân đến tận Thăng Long. Bởi vậy, "bình Chiêm" luôn luôn đi liền với cuộc đấu tranh tự vệ chống bành trướng phương Bắc, mà Châu Ô, Châu Lý luôn luôn là "hiểm địa".

Do có được vùng đất đó mà chưa đầy 100 năm sau, Hồ Qúy Ly đã mở rộng thêm bờ cõi đến Quảng Nam, Quảng Ngãi ngày nay. Và hơn 50 năm sau nữa, Lê Thánh Tông cắm được mốc biên giới phía Nam của Tổ quốc trên núi Đá Bia tỉnh Phú Yên. Từ những tiền đề đó mà Nguyễn Hoàng và con cháu ông vẽ tiếp bản đồ đất nước đến mũi Cà Mau... Lịch sử là chuổi nối tiếp các sự kiện, cái trước là tiền đề, là bàn đạp cho cái sau. "Đây là cống hiến vĩ đại của vua Trần Nhân Tông đối với dân tộc, mà muôn đời về sau con cháu vẫn còn ghi nhớ" (Lê Mạnh Thát, Trần Nhân Tông toàn tập). Nếu không có cuộc hôn nhân ngoạn mục đó thì đất nước ta bây giờ hình chữ gì ? Rất khó nói.

Cần biết rằng Huyền Trân là người con gái duy nhất của vua Trần Nhân Tông. Và cần biết khi Huyền Trân được gả cho Chế Mân, Thượng Hoàng Trần Nhân Tông đã là người tu hành. Ông xuất gia năm 1299, "đi thẳng vào núi Yên Tử, siêng năng tu hành 12 hạnh đầu đà, tự gọi là Hương Vân Đại Đầu Đà, dựng Chi Đề tinh xá, mở pháp độ tăng, người học đến như mây" (theo Thánh Đăng ngữ lục). Thiền sư - sử gia Lê Mạnh Thát cho rằng : "Chưa bao giờ trong lịch sử Phật giáo ở nước ta hay ở bất cứ một nước nào khác, một người xuất gia lại có thể mở mang bờ cõi, và mở mang bờ cõi một cách hòa bình". Vị thiền sư này cũng cho rằng : "Căn cứ vào giới luật của hàng Phật tử bình thường sống ở các chùa chiền, mà ta hay gặp, thì một người xuất gia không bao giờ được phép đi làm mai mối cho việc dựng vợ gả chồng. Thế mà Hương Vân Đại Đầu Đà đã làm việc đó và đã làm một cách thành công".

Giới trí thức đương thời (tức các nho sĩ) chống đối quyết liệt cuộc hôn nhân này, như sử sách còn ghi lại "Văn nhân trong triều ngoài nội phần lớn mượn việc vua Hán đem Chiêu Quân gả cho Hung Nô, làm lời thơ quốc ngữ mà chê cười". Đích thân sử thần Ngô Sĩ Liên sau này cũng lớn tiếng : "Xưa Hán Cao Hoàng vì Hung Nô nhiều lần làm khổ biên giới, đem con gái nhà dân làm công chúa để gả cho thiền vu. Kết hôn với người không phải giống, tiên nho đã từng chê, song có ý muốn việc binh đao được chấm dứt và dân được yên. Điều đó còn có thể nói được... Còn Nhân Tông đem con gái gả cho chúa Chiêm Thành là nghĩa gì ? Nếu nói nhân đi chơi, trót hứa, sợ thất tín, thì sao không đổi mệnh được ư ? Vua giữ ngôi trời, còn Thượng Hoàng thì đã xuất gia, vua đổi mệnh có khó gì, mà lại đem gả cho người ta không phải giống, cho đúng lời hứa trước, rồi lại dùng mưu gian đánh cướp lại về sau, thế thì tín ở đâu ?".

Trung Quốc "Đại Hán" coi dân ta là mọi rợ, đám nho sĩ ta lại học đòi coi các dân tộc nhỏ hơn là mọi rợ. Còn Trần Nhân Tông thì khác. Ông và con gái ông đã vì đại cuộc của quốc gia, lại không phân biệt chủng tộc mà coi các dân tộc là bình đẳng như nhau. Đây là cuộc "hôn nhân chính trị" vì lợi ích của nước nhà, nhưng không thể nói cuộc hôn nhân này là không chân thật. Nhưng khi người ta định thiêu sống công chúa Huyền Trân (vì theo tục lệ Chiêm Thành, vua Chế Mân chết thì Huyền Trân phải chết theo), thì phải cứu Huyền Trân chứ, sao lại nói hồ đồ là "dùng mưu gian để cướp lại" ? Cái ông Ngô Sĩ Liên này thật quá lôi thôi.

Trần Nhân Tông đắc đạo thành Phật, ngày nay chúng ta gọi là "Phật Hoàng Trần Nhân Tông". Nhưng công đức lớn nhất của Phật Hoàng không phải là việc ông hành thiền tụng kinh gỏ mõ trên núi cao Yên Tử. Ông đã hành thiền bằng việc hai lần chỉ huy toàn dân Đại Việt đánh thắng đội quân hùng mạnh nhất hành tinh là quân Mông Cổ, bằng việc tổ chức Hội nghị Diên Hồng (do Thường Hoàng Trần Thánh Tông chủ trì) vang dội đến ngày nay, bằng việc ngồi trên Yên Tử mà mở mang bờ cõi như đã nói... "Thiền", rất nhiều khi đồng nghĩa với đi đánh giặc.

"Tiếc thay cây quế giữa rừng/Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo", hồi nhỏ tôi được người lớn giải thích rằng câu ca dao đó nói lên sự tiếc thương đối với công chúa Huyền Trân. Dù có đúng hay không đó cũng là câu "phân biệt chủng tộc", nên "đuổi cổ" ra khỏi kho tàng ca dao Việt Nam ta.

Cách đây hơn 10 năm, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân trong một bài viết đăng trên báo Nông thôn ngày nay, đã thiết tha đề nghị (tôi đọc lâu rồi nên không nhớ nguyên văn) nếu những con đường to ở các thành phố lớn "có nơi có chốn" rồi thì nên lấy đoạn quốc lộ từ Quảng Trị băng qua đèo Hải Vân đến Quảng Nam đặt tên là đường Huyền Trân Công chúa.