Hiển thị các bài đăng có nhãn Hayek. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hayek. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, ngày 08 tháng 5 năm 2009

110 năm ngày sinh Friedrich Hayek


Hôm nay đúng 110 năm ngày sinh của Friedrich August von Hayek (8.5.1899 - 23.3.1992), người mà Milton Friedman gọi là triết gia tự do vĩ đại nhất của thế kỷ 20.


Cách đây không lâu, Nhà xuất bản Tri Thức, Hà Nội đã ra mắt cuốn sách Đường về nô lệ (The road to serfdom), cuốn sách đầu tiên của Hayek dịch ra tiếng Việt được phát hành ở Việt Nam. Trước đó Nhà xuất bản này cũng đã cho ra mắt hai cuốn viết về ông : Friedrich Hayek : cuộc đời và sự nghiệp (2007); Chủ nghĩa tự do của Hayek (2008).


M. Friedman nói về The road to serfdom


Cuốn sách này đã trở thành tác phẩm kinh điển thực sự : đây là tác phẩm dành cho tất cả những ai quan tâm đến chính trị một cách rộng rãi nhất và ít thiên lệch nhất của từ này, thông điệp chính của nó sẽ sống mãi với thời gian và có thể áp dụng cho vô vàn hoàn cảnh cụ thể khác nhau. Hiện nay trong chừng mực nào đó nó còn liên quan đến Hoa Kỳ nhiều hơn cả khi được công bố lần đầu vào năm 1944 và đã gây chấn động dư luận vào lúc đó.


Gần một phần tư thế kỷ trước (năm 1971) tôi đã viết lời giới thiệu cho lần xuất bản cuốn Đường về nô lệ bằng tiếng Đức nhằm minh họa tính vĩnh cửu của thông điệp mà Hayek đã gửi tới cho chúng ta. Lời giới thiệu đó cũng có thể được áp dụng cho lần xuất bản kỷ niệm năm mươi năm ra đời của tác phẩm kinh điển này của Hayek. Để khỏi phải đạo văn của chính mình, tôi xin trích dẫn toàn bộ bài viết trước khi đưa thêm vào một vài lời bình luận :

....

“Người ta thích tin rằng các tệ nạn xã hội là do những người xấu gây ra còn nếu những người tốt (giống như chúng ta, dĩ nhiên rồi) nắm được quyền lực thì mọi việc sẽ tốt. Quan điểm này chỉ đòi hỏi cảm tính và thói tự mãn, những thứ vừa dễ kiếm vừa dễ thỏa mãn. Để hiểu tại sao những người “tốt” khi có quyền lực lại làm những điều ác trong khi những người bình thường, không có quyền lực, nhưng có khả năng hợp tác một cách tự nguyện với những người xung quanh lại làm được nhiều việc thiện, đòi hỏi phải phân tích và tự duy, đặt cảm tính xuống dưới lý trí...


“Trong thế giới thực tiễn, năm 1945 những ai trong chúng ta từng bị phân tích của Hayek thuyết phục đều chẳng nhìn thấy gì khác hơn là sự phát triển một cách đều đặn vai trò của nhà nước lấn át vai trò của cá nhân, là việc thay thế dần sáng kiến và kế hoạch cá nhân bằng sáng kiến và kế hoạch của nhà nước. Nhưng trên thực tế phong trào này đã chẳng tiến được mấy, cả ở Anh, ở Pháp cũng như ở Mỹ. Còn ở Đức đã diễn ra những phản ứng quyết liệt nhằm thoát khỏi việc kiểm soát thời quốc xã và một bước tiến vượt bậc về phía chính sách tự do trong lĩnh vực kinh tế...”


Trong khi người ta nói về thị trường tự do và quyền tư hữu – hiện nay chuyện này được tôn trọng hơn là việc bảo vệ nền kinh tế ở gần mức laissez-faire cách đây vài thập niên – phần lớn giới trí thức vẫn gần như tự động ủng hộ sự mở rộng quyền lực của chính phủ nếu nó được quảng bá như là biện pháp bảo vệ các cá nhân khỏi bị ảnh hưởng của các công ty lớn xấu xa, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường hay thúc đẩy “bình đẳng”. Cuộc thảo luận về chương trình chăm sóc sức khỏe quốc dân là một thí dụ điển hình. Các nhà trí thức có thể học thuộc lời nhưng không biết hát.


Ngay từ đầu tôi đã nói rằng hiện nay “trong chừng mực nào đó" thông điệp của cuốn sách “còn liên quan đến Hoa Kỳ nhiều hơn cả khi đã gây chấn động dư luận… hơn nửa thế kỷ trước". Giới trí thức lúc đó có thái độ thù địch với chủ đề của cuốn sách hơn là hiện nay, nhưng thực tiễn lúc đó là phù hợp với nó hơn là hiện nay. Chính phủ sau Chiến tranh thế giới II nhỏ hơn và ít chỉ đạo hơn hiện nay. Chương trình Xã hội mở rộng của chính quyền Tổng thống Johnson, bao gồm Chăm sóc y tế và Hỗ trợ y tế, có các đạo luật Không khí trong lành và chương trình Người Mỹ tàn tật của chính quyền Tổng thống Bush vẫn còn ở phía trước, chưa nói đến biết bao vụ bành trướng khác của chính phủ mà Reagan, trong tám năm cầm quyền, chỉ có thể làm chậm lại chứ không thể dảo ngược được. Chi tiêu của chính phủ Mỹ, cả trung ương lẫn địa phương, đã tăng từ 25% tổng sản phẩm quốc dân năm 1950 lên thành 45% vào năm 1993.


Ở Anh tình hình cũng gần như vậy, theo một nghĩa nào đó thì còn kịch tính hơn... Dưới thời Margaret Thacher, đã thành công trong việc giảm thiểu quy mô sở hữu và điều hành chính phủ. Nhưng Thatcher đã không thể kêu gọi sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng cho các giá trị tự do...Và trong khi diễn ra quá trình “tư nhân hóa” nhiều doanh nghiệp nhà nước thì phần thu nhập quốc dân bị chính phủ sử dụng đã tăng lên và chính phủ cũng đưa ra nhiều chỉ thị hơn so với hồi nưm 1950...


MILTON FRIEDMAN

(Nhà kinh tế đoạt giải Nobel 1976. Trích lời giới thiệu cho nhân dịp 50 năm xuất bản The Road to Serfdom)


Hayek nói :


Thế hệ chúng ta có nguy cơ quên rằng các tiêu chuẩn đạo đức nhất định phải gắn bó mật thiết với các hành vi mang tính cá nhân cũng như chúng chỉ có hiệu lực khi cá nhân được tự do quyết định và tự nguyện hy sinh các quyền lợi cá nhân nhằm thực thi các quy tắc đạo đức. Bên ngoài lĩnh vực trách nhiệm cá nhân thì không còn khái niệm tốt xấu nữa, không còn cơ hội thể hiện các giá trị đạo đức cũng chẳng thể chứng minh được niềm tin của mình bằng cách hy sinh ham muốn cá nhân cho những điều mà mình cho là đúng nữa. Chỉ khi chúng ta hoàn toàn chịu trách nhiệm về quyền lợi của mình và được tự do khi hy sinh các quyền lợi đó thì quyết định của chúng ta mới có giá trị đạo đức. Chúng ta sẽ chẳng thể được coi là vị tha khi hy sinh quyền lợi của người khác hoặc chẳng được vinh danh khi trở nên vị tha nếu như ta không có quyền lựa chọn. Những thành viên của một xã hội mà trong bất cứ lĩnh vực nào cũng buộc phải làm điều tốt thì cũng chẳng có gì phải ca ngợi...


Tự do hành động ngay trong lĩnh vực mà hoàn cảnh vật chất buộc chúng ta phải lựa chọn và chịu trách nhiệm khi tổ chức cuộc sống phù hợp với lương tâm của mình chính là những điều kiện cần thiết để ý thức về đạo đức có thể phát triển và những giá trị đạo đức được tái tạo hàng ngày thông qua những quyết định tự do của từng cá nhân. Trách nhiệm không phải trước cấp trên mà trước lương tâm của mình, ý thức về trách nhiệm không phải do cưỡng bức mà có, cốt lõi của việc coi cái gì đó có giá trị là phải dám hy sinh những cái khác, và sẵn sàng chấp nhận hậu quả của những quyết định do mình đưa ra, tất cả những điều đó chính là bản chất của đức hạnh, theo nghĩa đúng nhất của từ này.


Những đức tính tốt như là tự lập, tực lực cánh sinh, sẵn sàng mạo hiểm, sẵn sàng bảo vệ ý kiến của mình dù trái ngược với đa số và tinh thần sẵn sàng hợp tác với tha nhân là những đức tính tối quan trọng của xã hội cá nhân chủ nghĩa thì nay không còn được đánh giá cao và ít được thực hành hơn trước. Chủ nghĩa tập thể không thể thay thế được những đức tính đó và trong khi phá hủy chúng, chủ nghĩa tập thể đã để lại một chân không đạo được được lấp đầy bằng yêu cầu duy nhất là phục tùng và sự cưỡng bức cá nhân phải làm điều mà tập thể quyết định là tốt...


Vì các quy tắc hành xử của cá nhân chính là cội nguồn đức hạnh của các hành động chính trị tập thể, cho nên quả là chuyện lạ nếu tiêu chuẩn đạo đức cá nhân giảm lại đi kèm với sự gia tăng các tiêu chuẩn của hành động xã hội. Những thay đổi to lớn trong lĩnh vực này là rất rõ ràng. Dĩ nhiên các thế hệ sau sẽ coi một số giá trị là cao hơn, một số thấp hơn so với các thế hệ đi trước. Nhưng xin hãy tự hỏi : những mục tiêu nào đang bị coi là thấp và giá trị nào có thể phải hy sinh nếu chúng xung đột với các giá trị khác ? Trong các họa phẩm vẽ về tương lai mà các văn sĩ và diễn giả đưa ra cho chúng ta thì những giá trị nào có vị trí mờ nhạt hơn so với những bức tranh từng hiện diện trong những giấc mơ và niềm hy vọng của cha ông chúng ta ?


Chắc chắn là tiện nghi vật chất, nâng cao mức sống và bảo đảm một vị trí xã hội nhất định không thể chiếm các vị trí thấp trên thang giá trị của chúng ta. Liệu có văn sĩ hay diễn giả nào dám đề nghị quần chúng nhân danh những lý tưởng cao cả mà chấp nhận hy sinh các triển vọng vật chất của họ hay không ? Có phải trên thực tế mọi việc đang diễn ra hoàn toàn ngược lại hay không ? Chẳng phải là càng ngày chúng ta càng được dạy rằng tất cả các giá trị đạo đức như tự do và độc lập, sự thật và tính trung thực tri thức, hòa bình và dân chủ và sự tôn trọng cá nhân như là một con người chứ không phải là thành viên của một tổ chức, đều là “những ngộ nhận của thế kỷ IX” hay sao ?


Những giá trị nào được coi là trụ cột không thể xâm phạm, không một nhà cải cách nào dám động vào vì chúng được coi là những giá trị thiêng liêng trong bất cứ kế hoạch nào cho tương lai ? Đấy không còn là quyền tự do cá nhân, không phải là quyền tự do đi lại và cũng không phải là quyền tự do ngôn luận nữa. Đấy là đặc quyền đặc lợi của nhóm người này hay nhóm người kia, đấy là “quyền” không cung cấp cho những đồng bào của họ những thứ mà những người kia cần. Việc phân biệt đối xử với những thành viên và không phải thành viên của các nhóm khép kín, đấy là chưa nói tới những kiều dân thuộc các quốc gia khác, càng ngày càng được coi là vấn đề đương nhiên. Những bất công do chính phủ gây ra cho các cá nhân khi nó hành động nhằm bảo vệ quyền lợi của một nhóm nào đó bị người ta lờ đi với thái độ bàng quang có thể sánh ngang với sự tàn nhẫn. Những vụ vi phạm trắng trợn quyền cơ bản của con người, thí dụ như ép buộc di dân hàng loạt được ngay cả những người tự nhận là theo trường phái tự do ủng hộ.


Tất cả những điều này chứng tỏ rằng ý thức đạo đức của chúng ta đã cùn mòn đi chứ không phải là sắc bén thêm. Khi chúng ta được nhắc nhở một cách thường xuyên rằng muốn có món trứng rán thì phải đập trứng, nhưng trứng ở đây lại thường là những giá trị mà mới cách đây một hai thế hệ vẫn được coi là cơ sở thiết yếu của đời sống văn minh. Có tội ác nào của chính quyền mà những người gọi là “tự do” của chúng ta khi đã tỏ ra cảm tình với nguyên lý của nó, không sẵn sàng tha thứ ?

...

Có một khía cạnh trong sự biến dịch các giá trị đạo đức, mà sự lấn tới của chủ nghĩa tập thể đã gây ra, rất đáng được suy ngẫm vào lúc này. Đấy là những đức tính càng ngày càng ít được coi trọng và vì vậy càng ngày càng trở thành hiếm hoi hơn, nhưng trước đây các đức tính này từng là niềm tự hào của người Anglo-Saxon và họ cũng được mọi người thừa nhận là xuất sắc về mặt đó. Những đức tính mà các dân tộc này sở hữu là tính độc lập và tự lực cánh sinh, sáng kiến cá nhân và trách nhiệm khu vực, biết dựa vào các hoạt động tình nguyện, không can thiệp vào công việc của tha nhân và khoan dung với những người khác mình cũng như những người kỳ quặc, tôn trọng tập quán và truyền thống, có thái độ nghi ngờ lành mạnh đối với chính quyền và nhà chức trách. Gần như tất cả các truyền thống và thiết chế, trong đó tinh thần đạo đức dân chủ được thể hiện một cách đặc trưng nhất và đến lượt nó, lại hun đúc nên tinh thần dân tộc và toàn bộ bầu không khí đạo đức của nước Anh và nước Mỹ lại đang bị chủ nghĩa tập thể và các xu hướng tập quyền gắn liền với nó phá hủy...


HAYEK (trích chương XIV Đường về nô lệ)


Bài liên quan :

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (1)

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (2)

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (3)

Nhà nước vú em

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (4)

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (5)