Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà nước mạnh Nhà nước yếu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà nước mạnh Nhà nước yếu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, ngày 06 tháng 10 năm 2009

Giá vàng cao nhất mọi thời đại


Giá vàng đã chạm lên trên 1036 USD/ounce vào lúc 8:05 tối nay và thăng lên 1043,3 USD/ounce vào lúc 10:00, vượt xa mức giá lịch sử 1034 USD/ounce trước đây để trở thành mức giá cao nhất mọi thời đại. (Update : Giá vàng đã chạm 1048,4 USD/ounce vào lúc 3:55 chiều ngày 7-10-2009. Update : 11:30, 8-10, giá vàng vượt lên 1060 USD/ounce)

Giá vàng nhảy vọt lên sau khi những dấu hiệu phục hồi kinh tế chưa bền vững của nước Mỹ khiến cho FED dường như sẽ kéo dài thêm việc nới lỏng chính sách tiền tệ, tiếp tục bơm tiền vỗ vào nền kinh tế lâu hơn nữa.


Từ sau khi bản vị vàng bị phế bỏ, vàng một thời bị cấm tàng trữ (ở Mỹ), rồi bị khống chế, bị gạt ra khỏi kinh tế học và từ lâu các kinh tế gia đã không quan tâm đến thứ kim loại kỳ diệu, thứ tiền tệ chân chính này. Nay thì vàng như con thú sổng chuồng, đang đòi lại vị trí của mình...


Thứ Ba, ngày 08 tháng 9 năm 2009

Giá vàng vượt 1000 USD/ounce


Giá vàng thế giới vừa vượt qua 1000 USD/ounce, lên mức 1003 USD/ounce lúc 13:45 ngày hôm nay. Đây là hậu quả của các biện pháp kích cầu theo sách của thầy Keynes, in tiền ào ạt đổ vào nền kinh tế thế giới, khiến cho thiên hạ phải tìm vàng làm nơi trú ẩn cho tài sản của mình để chống chọi với nạn lạm phát sẽ xảy ra trong tương lai gần. Giá vàng trong nước sáng nay chạm 22 triệu đồng/lượng và sẽ vượt mức này nếu vàng thế giới không giảm xuống.

Giá vàng sau khi vượt 1000 USD, các nhà đầu tư sẽ bán chốt lời, vì vậy có khả năng sẽ tạm thời giảm xuống, cũng có thể tăng tới đâu nữa chưa biết. Giá vàng đã lần thứ 3 vượt khỏi mốc lịch sử 1000 USD, mỗi lần như vậy sẽ thiết lập một mặt bằng mới theo đà quyết tiến không lùi.

Loạt bài liên quan :
Chiến sĩ bảo vệ tự do
Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu

Chủ Nhật, ngày 09 tháng 8 năm 2009

"Vô vi nhi trị"


Nhà Hán là triều đại tồn tại tới 426 năm (206 TCN-210 CN), dài nhất trong lịch sử Trung Quốc, kể từ sau Nhà Chu. Công lao khai quốc dĩ nhiên là của Hán Cao tổ Lưu Bang cùng các công thần Trương Lương, Tiêu Hà, Hàn Tín… Nhưng người đặt nền móng vững chắc cho sự dài lâu của Nhà Hán chính là Hán Văn đế Lưu Hằng (trị vì 180 TCN- 157 TCN) và con ông là Hán Cảnh đế Lưu Khải (trị vì 157 TCN-141 TCN). Đó là hai vị hoàng đế khoan hòa bậc nhất Trung Hoa. Thời của hai ông được lịch sử ca tụng là thời “Văn Cảnh chi trị”.


Trong Nhị thập tứ hiếu, Hán Văn đế được xếp thứ hai. Sau đây là trích đoạn diễn nôm của Lý Văn Phức :


Kìa Văn Đế vua hiền Nhà Hán
Vâng ấn phong ngoài cõi phiên Vương,
Quên mình chức cả quyền sang,
Phụng thờ Bạc Hậu lẽ thường chẳng sai,
Đến khi nối ngôi trời trị nước,
Vẫn lòng này săn sắc như xưa.
Mẹ khi ngại gió kinh mưa.
Ba năm hầu hạ thường như một ngày.
Mắt chong bóng dám sai giấc ngủ.
Áo luôn mình dám sổ đai lưng.
Thuốc thang mắt xét tay nâng.
Nếm tường trong miệng mới dâng dưới màn.
Tiếng nhân hiếu đồn vang thiên hạ,
Thói thuần lương hóa cả lê nguyên,
Hai mươi năm lẽ kiền khôn…


Sử cũng chép rằng, Hán Văn đế từ khi còn làm Vương cho đến khi làm Đế, đều hàng ngày cơm bưng nước rót, tự mình chăm sóc mẹ. Sau mỗi buổi chầu, ông cứ mặc triều phục đi thẳng đến vấn an, hầu hạ mẹ. Khi mẹ ốm, thái y đem thuốc đến, ông nếm thuốc trước khi dâng mẹ uống. Sợ thái y không vui, ông từ tốn giải thích, rằng không phải trẫm không tin các khanh, cũng không phải trẫm đánh giá thấp y thuật của các khanh, nhưng trẫm sợ các khanh làm việc mệt nhọc, khi mệt nhọc thì khó tránh khỏi sai sót, bởi vậy nếu các khanh có sơ sót thì trấm phải chịu thay để giữ bình an cho mẹ trẫm. Từ tấm gương của Hán Văn đế mà thiên hạ đề cao Hiếu kinh, coi đó là một trong những cái Đạo làm Người.


Trần Nhân Tông, ông vua anh hùng và là một “Phật Hoàng” của nước ta , có nhắc đến Hán Văn đế trong bài thơ Cây Mai (bản dịch của thiền sư Lê Mạnh Thát) :


Sắt đá gan lì khinh tuyết sớm

Khăn xiêm mộc mạc gió đông luồn

Trần gian kiệm ước Hán Văn Đế

Thiên hạ anh hùng Đường Thái Tông.


Còn Trần Anh Tông, cũng là một minh quân Nhà Trần, có riêng một bài thơ về Hán Văn đế :


Hình thố tô khoan diệc chí nhân

Dưỡng thành tứ bách Hán gia xuân

Dặc đề tiêu đắc thân thanh kiệm

Bất phí công thần, phí lộng thần


Tạm dịch :

Nhẹ hình phạt, giảm thuế má, (Hán Văn đế) là bậc chí nhân

(Bởi vậy mà) tạo nên cơ nghiệp nhà Hán bốn trăm năm

Mặc áo sồi thâm để giữ thân thanh kiệm

Không “phí” công thần mà “phí” lộng thần.


(Chữ “Phí” () trong câu này rất khó dịch. Trong một bản dịch của bà Phạm Tú Châu, câu này được dịch là “So sẻn công thần, nới lộng thần”. Tôi có hỏi thầy Lê Mạnh Thát, thầy Thát bảo câu này chưa đến mức phê phán Hán Văn đế nhưng Trần Anh Tông có ý “hờn” ông vì ông khắt khe với các công thần mà rộng rãi với các bề tôi mới để họ lộng hành, có lẽ do Hán Văn đế là ông vua trẻ, lên ngôi khi mới 22 tuổi. Tôi vẫn chưa thông cách giải thích này, vì thực tế các công thần như Trần Bình, Chu Bột… đều được trọng dụng, làm đến tả hữu thừa tướng, còn những người trẻ như Giả Nghị, Tiều Thác…đều là những nhân tài. Trần Anh Tông nghĩ là Hán Văn đế chỉ nghe ý kiến của “lớp trẻ” và bỏ qua ý kiến của “lớp già” chăng ? Mong các bậc thức giả chỉ giáo tiếp).


Xin nói rõ là Hán Văn đế hoàn toàn không nằm trong số những ông vua có tư tưởng “bành trướng Đại Hán”.Cũng xin nói rõ thêm là Hán Văn đế cai trị Trung Hoa cùng thời với Triệu Đà cai trị nước Nam Việt. Dù ta coi nước Nam Việt là “nước ta” như sử sách ghi hay coi nước Nam Việt “không phải là nước ta” như lập luận của thiền sư Lê Mạnh Thát, thì Hán Văn đế vẫn là ông vua Tàu không can hệ gì đến việc đô hộ nước ta. Thời của ông, Trung Quốc sống hòa bình với bốn phía. Quân đội của Hán Văn đế chỉ làm nhiệm vụ đánh trả mỗi khi có bên ngoài xâm phạm lãnh thổ, chứ không phải ngược lại.


Nhưng điều đặc biệt tôi muốn đề cập ở đây là tư tưởng trị quốc của Hán Văn đế (và Hán Cảnh đế). Ngay sau khi lên ngôi, ông xuống chiếu cho các nơi tiến cử người tài. Trong khi đối ngoại ông thực hiện hòa hiếu thì đối nội ông thực hiện an dân.


Thứ nhất là giảm nhẹ thuế má. Không lâu sau khi lên ngôi, Hán Văn đế ra chiếu giảm thuế và lao dịch. Thuế giảm xuống một nửa, từ mức 1/15 xuống 1/30 sản lượng. Năm 178 TCN, miễn thuế 3 năm cho dân Tấn Dương và Trung Đô. Năm 167 TCN, miễn thuế ruộng cả năm cho toàn dân. Đối với lao dịch, trước đây mỗi năm người dân phải đi 1 lần, Hán Văn đế giảm xuống 3 năm mới đi 1 lần. Đồng thời ông ra chiếu nghiêm cấm các châu quận cống cho triều đình những “kỳ trân dị vật” và miễn luôn việc tiến công bình thường vào những lúc thiên tai. Đây là điển hình của “khoan sức dân” trong lịch sử. Nhưng điều đáng lưu ý là việc giảm thuế, miễn thuế hoàn toàn không làm cho quốc khố thiếu thốn mà ngược lại, chính sách này đã kích thích mạnh mẽ việc làm ăn của dân, khiến cho của cải dồi dào, cả nước phồn thịnh, nhờ vậy mà quốc khố cũng đầy ắp tiền của. Sử sách còn ghi vào thời Văn đế và Cảnh đế, tiền trong kho dư thừa đến mức các sợi dây xâu tiền mục nát hết, còn lương thực thì không có đủ kho để chứa. Khắp nơi no đủ, dân không ai đói kém.


Thứ hai là giảm nhẹ hình phạt. Hán Văn đế không tán thành những đề xuất của các công thần giữ nguyên pháp chế của đời trước thực hiện hình phạt nặng để răn đe dân chúng. Ông quyết định bãi bỏ nhục hình (cắt thân thể), thay nhục hình bằng lao dịch hoặc đánh roi, nặng nhất đánh từ 300 đến 500 roi. Nếu phạm nhân bị đánh chết thì Giám quan phải đền mạng. Đến thời Hán Cảnh đế, mức đánh roi giảm xuống còn 100-200 roi và quy định chỉ được đánh vào mông. Nói chung, thời Văn đế, Cảnh đế, hình phạt rất nhẹ, nhưng dân chúng không mấy người phạm tội, nên Nhà nước không phải dùng đến hình pháp.


Thứ ba là giảm mạnh chi tiêu của Nhà nước. Mặc dù quốc khố đầy ắp, nhưng bản thân Hán Văn đế nêu một tấm gương sáng về thanh kiệm. Hàng ngày nhà vua mặc quần áo bằng vải rẻ tiền, trong cung không dùng đồ bằng vàng hoặc bịt vàng, đi xe không dùng quá 4 ngựa, không xây thêm cung điện, không tuyển thêm người hầu, không sắm thêm xe ngựa hoặc đồ dùng xa xỉ. Văn đế, Cảnh đế còn giảm mạnh chi tiêu quốc phòng, quân đội thời bình được về nhà làm ăn sinh sống, chỉ giữ một số quân thường trực cần thiết để giữ gìn biên cương. Trước khi chết, Văn đế còn dặn việc chôn cất phải hết sức đơn giản, đồ tùy táng chỉ có gốm sứ, không chôn theo vàng bạc châu báu, không làm lăng mộ để khỏi bắt dân phải lao dịch. Ông bãi bỏ việc bắt dân chúng để tang 3 năm, chỉ để tang 7 ngày, sau 7 ngày thì để toàn dân được vui chơi.


Dưới cái nhìn ngày nay, có thể thấy Hán Văn đế, Hán Cảnh đế đã thực hiện một kiểu “Nhà nước tối thiểu” với chính sách gần giống như laissez-faire ở phương tây thế kỷ 19, Nhà nước không can thiệp vào cuộc sống của người dân. Bởi vậy mà đất nước thịnh vượng, dân chúng yên vui, bốn phía hòa bình. Chính sách trị quốc của hai ông còn được lịch sử gọi là “vô vi nhi trị”. Gần 2000 năm sau, tư tưởng "vô vi nhi trị" được Thomas Jefferson, tác giả bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ khác : "Government that governs least governs best".

Thứ Tư, ngày 22 tháng 7 năm 2009

Từ những núi nợ của nước Mỹ

Tiếp theo loạt bài :
Alan Greenspan nói về bản vị vàng
150 năm không lạm phát

"Qùy hoa bảo điển"
Hòa bình và khoan dung
Chiến sĩ bảo vệ tự do

"Government that governs least governs best"
- Thomas Jefferson

Đọc Thanh cung mười ba triều, đến chuyện của Đạo Quang hoàng đế (1782-1850) thấy tức cười. Khi Đạo Quang lên ngôi, tham quan Hòa Thân đã bị diệt, ngân khố “giàu có khôn xiết kể”, nhưng ông vẫn hết sức dè sẻn trong chi tiêu công qũy và chính ông nêu gương một cách triệt để. Một chiếc long bào cũ rách ông cũng cho vá lại mà mặc chứ không may đồ mới. Hoàng đế rất tương đắc với Đại học sĩ Tào Chấn Dung (cũng là một bậc đại hà tiện). Một lần đang đàm đạo với Tào Chấn Dung, nhìn thấy ống quần của Đại học sĩ có 2 miếng vá, hoàng đế hỏi : “Ngươi vá hai miếng vá to ấy mất bao nhiêu tiền ?”. “Tâu, chỉ hết 3 tiền”. Đạo Quang giật mình đánh thót, rồi thở dài nói : “Trẫm cũng có hai miếng vá như vậy, thế mà Nội vụ phủ tính những 5 lạng bạc”. Từ đó hoàng đế bắt mọi người trong cung, từ hoàng hậu phi tần đến cung nữ đều phải học may vá, không được chi tiêu lãng phí công qũy nữa. Đằng sau những câu chuyện khôi hài về tính hà tiện của Đạo Quang có thể nhìn ra một đạo lý.

Đạo lý đó là, Nhà nước không làm ra của cải, cũng có nghĩa là không tạo ra tiền, không tạo ra tiền thì không được chi xài phung phí. Dưới chế độ bản vị vàng cũng như việc dùng bạc nén làm tiền dưới thời hoàng đế Đạo Quang, điều này là vô cùng dễ hiểu. Tiền mà Nhà nước có là do các công dân đóng góp, dưới hình thức thuế. Chi dùng cho toàn bộ các hoạt động của Nhà nước chỉ trong khoản thuế này, không có gì khác.

Không phải luật lệ về chi tiêu, cũng không phải những lời kêu gọi tiết kiệm, mà chính bản vị vàng đã tự động khống chế việc chi tiêu của Nhà nước.

Trước khi phế bỏ bản vị vàng, chi tiêu của Chính phủ Mỹ rất khiêm tốn : chỉ ở mức 3% GDP ở cấp liên bang và 9% GDP ở cấp b
ang và địa phương.

Sau khi phế bỏ bản vị vàng, bất chấp có chiến
tranh hay không, bộ máy nhà nước cũng ngày càng phình to ra kéo theo tốc độ chi tiêu tăng vọt. Năm 1940, chi tiêu liên bang tăng lên 13% GDP, tỷ trọng gấp hơn 4 lần, và đến năm 2008, chi tiêu liên bang vọt lên 27% GDP, tỷ trọng gấp 9 lần so với thời điểm trước khi phế bỏ bản vị vàng. Tại thời điểm năm 2008, tổng chi tiêu của Nhà nước (bao gồm liên bang, bang và địa phương) lên tới 45% GDP.


Có thể khẳng định chắc chắn rằng nếu không phế bỏ bản vị vàng thì bộ máy Nhà nước không thể phình to lên và không thể chi tiêu vô tội vạ như thế được. Nhưng Nhà nước luôn luôn có đủ lý do biện minh bằng những học thuyết, những công trình khoa học và bằng phương tiện truyền thông áp đảo. Khi thì để tiến hành chiến tranh, hết chiến tranh thì làm sứ mệnh cao cả bảo đảm “công bằng xã hội”, bảo vệ sức khỏe, bảo vệ môi trường, chống khủng bố và hàng loạt những lý do “chính đáng” khác.

Lòng ái quốc, sự cao cả của “sứ mệnh công bằng xã hội”, sự sợ hãi đối với bệnh tật, đối với rủi ro bất trắc … là những điều rất dễ thuyết phục giới trí thức và người dân, nhất là thành phần chi phối nền dân chủ là giới cử tri trung lưu đông đảo (middle America). Nhiều trí thức liêm khiết đã lên tiếng về tình trạng thổi phồng quá mức tính chất nghiêm trọng c
ủa những vấn đề xã hội, như HIV/AIDS và các thứ dịch bệnh, vấn đề đe dọa an ninh (gần nhất là việc tấn công Iraq), vấn đề môi trường…. Nhưng tiếng nói của họ đều lạc lỏng, không được công chúng ủng hộ. Chúng ta thử tưởng tượng nếu còn bản vị vàng thì tình hình sẽ ra sao ? Chắc chắn sự nghiêm trọng của những mối đe dọa sẽ xẹp xuống bằng với tính chất thực của nó.

Vì lòng ái quốc, vì những “sứ mệnh cao cả” và vì sự an toàn của mình mà người dân Mỹ sẵn chịu gánh nặng thuế má và đán
h mất dần tự do của mình để ủng hộ Nhà nước. Vào năm 1928, người dân đóng góp cho chính phủ thông qua thuế với số tiền tương đương với hơn 1,3 tháng làm việc một năm, ngày nay con số này đã lên đến 5,3 tháng, tức là mỗi năm người Mỹ phải dành gần một nửa thời gian để làm việc không công cho Nhà nước. Người Mỹ hiện đại đang đem một phần tự do mà cha ông họ dày công vun đắp để đổi lấy sự an toàn, đúng hơn là đổi lấy những ảo tưởng về an toàn.

Nhưng thuế là một chuyện và vai trò của nó chủ yếu nhằm tái phân bổ thu nhập mà mục tiêu là để làm “yên lòng” tầng lớp c
ử tri trung lưu chi phối nền dân chủ. Khi phế bỏ bản vị vàng rồi thì ngoài thuế, việc “tăng chi” của Nhà nước còn có hai nguồn quan trọng hơn : vay mượn và in tiền để thu thêm thuế trá hình bằng lạm phát. Hai chuyện này có mối liên quan chặt chẽ với nhau.

Cần nhớ rằng sau khi lập quốc, nước Mỹ chỉ nợ vẹn vẹn 75 triệu USD vào năm 1791, đây là khoản vay mượn phục vụ cho chiến tranh giành độc lập chứ không phải vay mượn để tiêu xài. Nhưng chỉ mấy năm sau, khoản nợ này đã được trả hết (1802) và suốt hơn 1 thế kỷ tiếp theo, tuy một số thời điể
m cũng có gia tăng nợ nần, nhưng nhìn chung không đáng kể. Còn giờ đây thì sao ?

$11,607,335,475,299.34 (mười một ngàn sáu trăm lẻ bảy tỷ ba trăm ba mươi lăm triệu bốn trăm bảy mươi lăm ngàn hai trăm chín mươi chín đô la, tính tròn). Đó là tổng số nợ quốc gia liên bang Hoa Kỳ, “nhảy” trên đồng hồ báo nợ quốc gia đặt tại New York lúc 11:05:44 (AM, GMT), ngày hôm nay, 22-7-2009.

Người ta tính, kể từ ngày 28-9-2007 đến nay, nợ liên bang tăng bình quân mỗi ngày … 3.92 tỷ đô la. Tốc độ tăng trưởng nợ của nước Mỹ gấp 5 lần tốc độ tăng trưởng GDP.


Với dân số 306,593,781 người tính đến cùng thời điểm, mỗi người Mỹ phải gánh tới $37,859.00 (ba mươi bảy ngàn tám trăm năm mươi chín đô la) nợ liên bang.


Số tiền khổng lồ nói trên mới chỉ là nợ quốc gia liên bang, tức là tiền do nhà nước trung ương vay mượn. “Thi đua” với nhà nước liên bang, chính quyền các bang, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp và người dân cũng vay nợ, đưa tổng số nợ của toàn nước Mỹ lên tới một con số không thể tưởng tượng nổi : 57 ngàn tỷ đô la (tính đến năm 2008), bình quân mỗi người Mỹ không kể già trẻ lớn bé đang phải gánh một khoản nợ 186 ngàn đô la, mỗi gia đình gánh một khoản nợ 746 ngàn đô la.


Cả nước Mỹ đang chi tiêu quá xa so với khả năng của mình. Chính phủ lấy gì trả nợ ? Lấy khoản thuế “trong tương lai”. Người dân lấy gì trả nợ ? Lấy thu nhập “trong tương lai”.

Nợ nần là điều làm các nhà lập quốc Hoa Kỳ luôn bất an, luôn lo lắng, luôn ghê tởm, thậm chí đem tính mạng của mình ra để ngăn chặn, lại là điều các nhà kinh tế học chính thống và các chính trị gia hiện đại mặc nhiên coi là chuyện bình thường. Chỉ một khoản sơ hở trong Hiến pháp (Quốc hội được quyền vay nợ), có lẽ đó chỉ là điều khoản đề phòng bất trắc địch họa thiên tai, điều khoản mà Jefferson thấy trước nguy cơ nhưng không đủ sức xóa bỏ, hơn hai trăm năm sau đã biến nước Mỹ thành một biển nợ. Và các nhà kinh tế, theo chân các chính trị gia và các nhà tài phiệt, đã xây dựng các học thuyết kinh tế nhằm hợp lý hóa những núi nợ đó, nhưng phớt lờ luôn một điều khoản quan trọng khác trong Hiến pháp là phải trả nợ bằng tiền vàng hoặc bạc.

Muốn hiểu nợ, in tiền và lạm phát một cách có bài bản, trước hết phải h
ọc thuộc lòng các “bảo điển” của thầy Keynes và các chiêu thức biến hóa của các đồ đệ của thầy. Muốn “sống chung” với nợ thì không có cách nào là phải luyện các “bảo điển” đó.

Còn muốn học tự do, thì có thể học nhiều điều từ các nhà lập quốc Mỹ thế kỷ 18-19. Học tự do từ các thầy keynesian chính thống của nước Mỹ ngày nay chẳng khác nào tự “thiến” luôn tự do của mình.

(lúc nào rảnh viết tiếp)



Lọat bài liên quan :
Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu

Thứ Bảy, ngày 11 tháng 7 năm 2009

Alan Greenspan nói về bản vị vàng


Trước khi viết tiếp loạt bài "Chiến sĩ bảo vệ tự do", xin giới thiệu một bài viết thú vị "Gold and Economic Freedom" của Alan Greenspan, viết vào năm 1966 khi ông chưa trở thành Chủ tịch FED. Bài viết này đã được triết gia kiêm nhà văn nổi tiếng Ayn Rand (tác giả tiểu thuyết Suối Nguồn) in lại vào cuốn sách Capitalism, The Unknown Ideal, một non-fiction book của bà, xuất bản năm 1967.


Sau này trong suốt thời gian làm Chủ tịch FED, Greenspan hình như đã "lờ" luôn ý tưởng này, dù thỉnh thoảng ông vẫn nói ông là một trong số ít người còn "quyến luyến" với bản vị vàng và có lần còn tuyên bố FED là một "mô phỏng" của bản vị vàng. Sau khi rời khỏi FED, trong cuốn sách The Age of Turbulence (Kỷ nguyên hỗn loạn), Greenspan bảo rằng ông "vẫn luôn luôn hồi tưởng lại tác dụng bình ổn giá của chế độ bản vị vàng", rằng "tỉ lệ lạm phát trong giai đoạn bản vị vàng là bằng không", rằng "trong thời kỳ hoàng kim của bản vị vàng từ 1870 đến 1913, mức sống tại Mỹ, theo tính toán của Ngân hàng Fed New York, tăng trung bình khoảng 0,2% mỗi năm", rằng sau khi xóa bản vị vàng, từ năm 1939 đến 1989 "giá tiêu dùng tăng 9 lần"...


GOLD AND ECONOMIC FREEDOM

by ALAN GREENSPAN

An almost hysterical antagonism toward the gold standard is one issue which unites statists of all persuasions. They seem to sense-perhaps more clearly and subtly than many consistent defenders of laissez-faire -- that gold and economic freedom are inseparable, that the gold standard is an instrument of laissez-faire and that each implies and requires the other.

In order to understand the source of their antagonism, it is necessary first to understand the specific role of gold in a free society.


Money is the common denominator of all economic transactions. It is that commodity which serves as a medium of exchange, is universally acceptable to all participants in an exchange economy as payment for their goods or services, and can, therefore, be used as a standard of market value and as a store of value, i.e., as a means of saving.


The existence of such a commodity is a precondition of a division of labor economy. If men did not have some commodity of objective value which was generally acceptable as money, they would have to resort to primitive barter or be forced to live on self-sufficient farms and forgo the inestimable advantages of specialization. If men had no means to store value, i.e., to save, neither long-range planning nor exchange would be possible.


What medium of exchange will be acceptable to all participants in an economy is not determined arbitrarily. First, the medium of exchange should be durable. In a primitive society of meager wealth, wheat might be sufficiently durable to serve as a medium, since all exchanges would occur only during and immediately after the harvest, leaving no value-surplus to store. But where store-of-value considerations are important, as they are in richer, more civilized societies, the medium of exchange must be a durable commodity, usually a metal. A metal is generally chosen because it is homogeneous and divisible: every unit is the same as every other and it can be blended or formed in any quantity. Precious jewels, for example, are neither homogeneous nor divisible. More important, the commodity chosen as a medium must be a luxury. Human desires for luxuries are unlimited and, therefore, luxury goods are always in demand and will always be acceptable. Wheat is a luxury in underfed civilizations, but not in a prosperous society. Cigarettes ordinarily would not serve as money, but they did in post-World War II Europe where they were considered a luxury. The term "luxury good" implies scarcity and high unit value. Having a high unit value, such a good is easily portable; for instance, an ounce of gold is worth a half-ton of pig iron.


In the early stages of a developing money economy, several media of exchange might be used, since a wide variety of commodities would fulfill the foregoing conditions. However, one of the commodities will gradually displace all others, by being more widely acceptable. Preferences on what to hold as a store of value, will shift to the most widely acceptable commodity, which, in turn, will make it still more acceptable. The shift is progressive until that commodity becomes the sole medium of exchange. The use of a single medium is highly advantageous for the same reasons that a money economy is superior to a barter economy: it makes exchanges possible on an incalculably wider scale.


Whether the single medium is gold, silver, seashells, cattle, or tobacco is optional, depending on the context and development of a given economy. In fact, all have been employed, at various times, as media of exchange. Even in the present century, two major commodities, gold and silver, have been used as international media of exchange, with gold becoming the predominant one. Gold, having both artistic and functional uses and being relatively scarce, has significant advantages over all other media of exchange. Since the beginning of World War I, it has been virtually the sole international standard of exchange. If all goods and services were to be paid for in gold, large payments would be difficult to execute and this would tend to limit the extent of a society's divisions of labor and specialization. Thus a logical extension of the creation of a medium of exchange is the development of a banking system and credit instruments (bank notes and deposits) which act as a substitute for, but are convertible into, gold.


A free banking system based on gold is able to extend credit and thus to create bank notes (currency) and deposits, according to the production requirements of the economy. Individual owners of gold are induced, by payments of interest, to deposit their gold in a bank (against which they can draw checks). But since it is rarely the case that all depositors want to withdraw all their gold at the same time, the banker need keep only a fraction of his total deposits in gold as reserves. This enables the banker to loan out more than the amount of his gold deposits (which means that he holds claims to gold rather than gold as security of his deposits). But the amount of loans which he can afford to make is not arbitrary: he has to gauge it in relation to his reserves and to the status of his investments.


When banks loan money to finance productive and profitable endeavors, the loans are paid off rapidly and bank credit continues to be generally available. But when the business ventures financed by bank credit are less profitable and slow to pay off, bankers soon find that their loans outstanding are excessive relative to their gold reserves, and they begin to curtail new lending, usually by charging higher interest rates. This tends to restrict the financing of new ventures and requires the existing borrowers to improve their profitability before they can obtain credit for further expansion. Thus, under the gold standard, a free banking system stands as the protector of an economy's stability and balanced growth.


When gold is accepted as the medium of exchange by most or all nations, an unhampered free international gold standard serves to foster a world-wide division of labor and the broadest international trade. Even though the units of exchange (the dollar, the pound, the franc, etc.) differ from country to country, when all are defined in terms of gold the economies of the different countries act as one -- so long as there are no restraints on trade or on the movement of capital. Credit, interest rates, and prices tend to follow similar patterns in all countries. For example, if banks in one country extend credit too liberally, interest rates in that country will tend to fall, inducing depositors to shift their gold to higher-interest paying banks in other countries. This will immediately cause a shortage of bank reserves in the "easy money" country, inducing tighter credit standards and a return to competitively higher interest rates again.


A fully free banking system and fully consistent gold standard have not as yet been achieved. But prior to World War I, the banking system in the United States (and in most of the world) was based on gold and even though governments intervened occasionally, banking was more free than controlled. Periodically, as a result of overly rapid credit expansion, banks became loaned up to the limit of their gold reserves, interest rates rose sharply, new credit was cut off, and the economy went into a sharp, but short-lived recession. (Compared with the depressions of 1920 and 1932, the pre-World War I business declines were mild indeed.) It was limited gold reserves that stopped the unbalanced expansions of business activity, before they could develop into the post-World War I type of disaster. The readjustment periods were short and the economies quickly reestablished a sound basis to resume expansion.


But the process of cure was misdiagnosed as the disease: if shortage of bank reserves was causing a business decline-argued economic interventionists -- why not find a way of supplying increased reserves to the banks so they never need be short! If banks can continue to loan money indefinitely -- it was claimed -- there need never be any slumps in business. And so the Federal Reserve System was organized in 1913. It consisted of twelve regional Federal Reserve banks nominally owned by private bankers, but in fact government sponsored, controlled, and supported. Credit extended by these banks is in practice (though not legally) backed by the taxing power of the federal government. Technically, we remained on the gold standard; individuals were still free to own gold, and gold continued to be used as bank reserves. But now, in addition to gold, credit extended by the Federal Reserve banks ("paper reserves") could serve as legal tender to pay depositors.


When business in the United States underwent a mild contraction in 1927, the Federal Reserve created more paper reserves in the hope of forestalling any possible bank reserve shortage. More disastrous, however, was the Federal Reserve's attempt to assist Great Britain who had been losing gold to us because the Bank of England refused to allow interest rates to rise when market forces dictated (it was politically unpalatable). The reasoning of the authorities involved was as follows: if the Federal Reserve pumped excessive paper reserves into American banks, interest rates in the United States would fall to a level comparable with those in Great Britain; this would act to stop Britain's gold loss and avoid the political embarrassment of having to raise interest rates.


The "Fed" succeeded; it stopped the gold loss, but it nearly destroyed the economies of the world in the process. The excess credit which the Fed pumped into the economy spilled over into the stock market -- triggering a fantastic speculative boom. Belatedly, Federal Reserve officials attempted to sop up the excess reserves and finally succeeded in braking the boom. But it was too late: by 1929 the speculative imbalances had become so overwhelming that the attempt precipitated a sharp retrenching and a consequent demoralizing of business confidence. As a result, the American economy collapsed. Great Britain fared even worse, and rather than absorb the full consequences of her previous folly, she abandoned the gold standard completely in 1931, tearing asunder what remained of the fabric of confidence and inducing a world-wide series of bank failures. The world economies plunged into the Great Depression of the 1930's.


With a logic reminiscent of a generation earlier, statists argued that the gold standard was largely to blame for the credit debacle which led to the Great Depression. If the gold standard had not existed, they argued, Britain's abandonment of gold payments in 1931 would not have caused the failure of banks all over the world. (The irony was that since 1913, we had been, not on a gold standard, but on what may be termed "a mixed gold standard"; yet it is gold that took the blame.) But the opposition to the gold standard in any form -- from a growing number of welfare-state advocates -- was prompted by a much subtler insight: the realization that the gold standard is incompatible with chronic deficit spending (the hallmark of the welfare state). Stripped of its academic jargon, the welfare state is nothing more than a mechanism by which governments confiscate the wealth of the productive members of a society to support a wide variety of welfare schemes. A substantial part of the confiscation is effected by taxation. But the welfare statists were quick to recognize that if they wished to retain political power, the amount of taxation had to be limited and they had to resort to programs of massive deficit spending, i.e., they had to borrow money, by issuing government bonds, to finance welfare expenditures on a large scale.


Under a gold standard, the amount of credit that an economy can support is determined by the economy's tangible assets, since every credit instrument is ultimately a claim on some tangible asset. But government bonds are not backed by tangible wealth, only by the government's promise to pay out of future tax revenues, and cannot easily be absorbed by the financial markets. A large volume of new government bonds can be sold to the public only at progressively higher interest rates. Thus, government deficit spending under a gold standard is severely limited. The abandonment of the gold standard made it possible for the welfare statists to use the banking system as a means to an unlimited expansion of credit. They have created paper reserves in the form of government bonds which -- through a complex series of steps -- the banks accept in place of tangible assets and treat as if they were an actual deposit, i.e., as the equivalent of what was formerly a deposit of gold. The holder of a government bond or of a bank deposit created by paper reserves believes that he has a valid claim on a real asset. But the fact is that there are now more claims outstanding than real assets. The law of supply and demand is not to be conned. As the supply of money (of claims) increases relative to the supply of tangible assets in the economy, prices must eventually rise. Thus the earnings saved by the productive members of the society lose value in terms of goods. When the economy's books are finally balanced, one finds that this loss in value represents the goods purchased by the government for welfare or other purposes with the money proceeds of the government bonds financed by bank credit expansion.


In the absence of the gold standard, there is no way to protect savings from confiscation through inflation. There is no safe store of value. If there were, the government would have to make its holding illegal, as was done in the case of gold. If everyone decided, for example, to convert all his bank deposits to silver or copper or any other good, and thereafter declined to accept checks as payment for goods, bank deposits would lose their purchasing power and government-created bank credit would be worthless as a claim on goods. The financial policy of the welfare state requires that there be no way for the owners of wealth to protect themselves.


This is the shabby secret of the welfare statists' tirades against gold. Deficit spending is simply a scheme for the confiscation of wealth. Gold stands in the way of this insidious process. It stands as a protector of property rights. If one grasps this, one has no difficulty in understanding the statists' antagonism toward the gold standard.


Thứ Sáu, ngày 26 tháng 6 năm 2009

150 năm không lạm phát

Tiếp theo các phần trước :
"Quỳ hoa bảo điển"
Hòa bình và khoan dung
Chiến sĩ bảo vệ tự do

Như đã đề cập, John Locke (1632-1704), nhà triết học Khai sáng vĩ đại, người “phát kiến” các quyền tự nhiên của con người, người ảnh hưởng sâu đậm nhất đến các nhà lập quốc Hoa Kỳ và bản Hiến pháp Mỹ, đồng thời cũng ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng của bản Hiến pháp lập quốc của Việt Nam năm 1946, đã luận giải thấu đáo về quyền sở hữu trong cuốn sách nổi tiếng “Two Treatises of Government”.

Theo Locke, Thượng đế đã giao trái đất cho Adam, cho Noah và con cháu ông, nghĩa là trao nó cho loài người. Do đó trái đất là sở hữu chung của loài người. Thọat kỳ thủy mọi người được quyền sở hữu tự nhiên đối với tất cả những gì có trên trái đất. Nhưng Thượng để không mang các sản vật trên trái đất đến tận từng căn lều phân phối cho mỗi người. Muốn hưởng thụ thì mỗi người phải biết cách tự lấy nó, bằng bàn tay và trí óc của mình, đó là lao động. Mỗi một thứ tồn tại trong tự nhiên khi được tác động bởi lao động của một người sẽ biến thành của cải của chính người đó, của cải này chỉ là của anh ta thôi, không một ai khác có quyền chiếm dụng. Chính lao động đã tách của cải chung trong tự nhiên ra thành của riêng từng người. Cái này gọi là quyền tư hữu.

Locke nói đây là “quyền tự nhiên” của mỗi người. Giả sử có ai đó bảo quả táo hay con thú anh ta hái hay bắt được (tức là anh ta đem nó về bằng lao động của mình) là của chung, rằng anh ta không có quyền chiếm giữ, muốn chiếm giữ nó anh ta phải được sự đồng ý của toàn thể loài người, thì tình hình sẽ như thế nào ? Locke bảo nếu phải làm như vậy thì loài người đã chết hết từ lâu rồi.

“Quyền tự nhiên” (bao gồm quyền sống, quyền tự do và quyền tư hữu) là thứ mặc định của trời đất, không do người khác ban cho. Đó là “luật tự nhiên”, miễn bàn cãi. Nhà nước, với tư cách là thiết chế do các công dân tự do lập ra, có trách nhiệm bảo vệ các quyền tự nhiên của công dân, không để người này xâm phạm quyền tự nhiên của người kia và đương nhiên bản thân Nhà nước cũng không được phép xâm phạm quyền tự nhiên của mỗi công dân.

Bởi vậy mà Hiến pháp nước Mỹ, vốn thấm nhuần tư tưởng của Locke, không hề có quy định về những “quyền tự nhiên” đó. Đã là “quyền tự nhiên” thì không cần ai ban phát. Hiến pháp Mỹ chỉ quy định những giới hạn của chính quyền nhằm ngăn cấm chính quyền xâm phạm đến những “quyền tự nhiên” đó của người dân.

Điều đáng chú ý là khi đưa ra các quy định cấm chính quyền xâm phạm đến quyền này quyền khác của người dân, Hiến pháp Mỹ liệt kê ra một số quyền liên quan đến những quy định này, nhưng các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã thận trọng ban hành liền theo đó một Tu chính án - Tu chính án thứ 9, nói rõ : “The enumeration in the Constitution, of certain rights, shall not be construed to deny or disparage others retained by the people” (Việc liệt kê một số quyền trong Hiến pháp không có nghĩa là phủ nhận hay hạ thấp những quyền khác của người dân). Đây là một trong 10 Tu chính án thuộc Tuyên ngôn nhân quyền của Hiến pháp Mỹ.

Nói dài dòng nguyên lý trên để trở lại chuyện tiền bạc. Tiền bạc là thứ tài sản thuộc hàng quan trọng nhất của con người. Theo lập luận trên đây thì sở hữu tiền bạc mặc nhiên là “quyền tự nhiên” của người dân, quyền đó không ai được phép xâm phạm.

Và như đã nói ở phần trước, để bảo vệ hữu hiệu quyền sở hữu tiền bạc của người dân, các nhà nước phương tây thế kỷ 19 đã đồng loạt áp dụng một phương thức tối ưu là dùng đồng tiền vàng (bạc) hoặc áp dụng bản vị vàng khi phát hành tiền giấy. Tất nhiên nhà nước còn phải bảo vệ tiền bạc cho người dân bằng việc ngăn chặn, trừng phạt bọn trộm cướp, bọn lừa đảo và quan tham. Nhưng biện pháp làm cho đồng tiền không mất giá trị là quan trọng nhất. Đó là một trong những biện pháp tối quan trọng mà Nhà nước phải làm để bảo vệ tự do cho công dân. Đạo lý căn bản đó đã bị các “bảo điển” của các học thuyết kinh tế chính thống của thế kỷ 20 dìm trong quên lãng.

Trở lại giai đoạn lịch sử liên quan của nước Mỹ. Tổng thống Mỹ Thomas Jefferson coi Ngân hàng trung ương nguy hiểm hơn kẻ thù. Còn Tổng thống Mỹ Andrew Jackson thì thề quyết tử với Ngân hàng trung ương, ông căm thù nó đến mức trước khi chết còn đề nghị ghi trên mộ ông một dòng chữ “I killed the Bank” (Tôi đã giết chết ngân hàng). Đừng vội quy kết hai vị tiền bối này là bảo thủ, hai vị căm thù ngân hàng trung ương là căm thù “chức năng” tạo ra tiền từ không khí và tước đoạt tài sản của người dân bằng việc tạo ra lạm phát.

Như đã nói ở phần trước, Tổng thống Andrew Jackson sau khi phủ quyết đạo luật gia hạn thời gian hoạt động của Ngân hàng Hoa Kỳ, rồi ra lệnh rút toàn bộ tiền gửi của chính phủ liên bang ra khỏi ngân hàng này, ông đã phải trả giá một lần nữa. Để trả thù hành động của tổng thống, các thế lực tài phiệt quốc tế trong Ngân hàng Hoa kỳ đã đột ngột thu hồi các khoản cho vay và thu hẹp tín dụng, rút tiền kim loại ra khỏi nước Mỹ, châm ngòi cho cuộc suy thoái kinh tế trên toàn quốc từ năm 1837.

Quốc hội và dân chúng coi Jackson là thủ phạm gây ra nỗi thống khổ của người dân. Một Nghị quyết của Thượng viện khiển trách tổng thống được thông qua và Andrew Jackson là tổng thống Mỹ đầu tiên bị Quốc hội khiển trách. Nhưng cuối cùng lẽ phải đã chiến thắng khi những người trong cuộc đã lên tiếng trước công chúng về âm mưu của Ngân hàng, khiến Thượng viện phải ra Nghị quyết rút lại việc khiển trách tổng thống. Ngân hàng Hoa Kỳ chấm dứt hoạt động đúng thời hạn vào năm 1836. Nhiều mưu toan tái lập sau đó đã bị thất bại. Các tổng thống Martin Van Buren, Willam Henry Harrison, John Tyler đều từ chối việc tái lập Ngân hàng trung ương; riêng John Tyler vì phủ quyết việc tái lập ngân hàng này mà bị Đảng Whig của ông khai trừ ra khỏi Đảng khi ông đang làm tổng thống.

May mắn là vào năm 1848, việc phát hiện một số mỏ vàng lớn đã giúp nước Mỹ thoát khỏi sự khống chế của các thế lực tài phiệt và thoát khỏi khủng hoảng. Kinh tế Mỹ bước vào một thời kỳ hoàng kim, đủ sức mạnh để vượt qua một cách dễ dàng một cuộc suy thoái nữa- cuộc suy thoái năm 1857.

Cho đến cuộc nội chiến 1861-1865, một cuộc chiến tranh tàn khốc nhất trong lịch sử nước Mỹ. Muốn tiến hành chiến tranh thì phải có tiền, muốn có tiền thì hoặc là tăng thuế, hoặc phải vay tiền. Tăng thuế thì vi phạm Hiến pháp. Còn vay tiền thì lúc này Ngân hàng trung ương đã cáo chung, các ngân hàng “địa phương” thì không có khả năng đáp ứng, muốn vay thì phải vay ngân hàng nước ngoài với lãi suất cắt cổ. Tổng thống Lincoln đã chọn con đường khác : ra một Pháp lệnh (do Quốc Hội ban hành năm 1862) giao cho Bộ Tài chính tự phát hành tiền để khỏi phụ thuộc vào vay mượn hay thuế khóa. Đó là đồng “tiền xanh” (greenback). Tuy nhiên, việc phát hành tiền pháp định greenback vẫn không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của chiến tranh, nên Lincoln buộc phải nhường bước các nhà tài phiệt, tái lập ngân hàng trung ương, dưới cái tên mới “National Bank”, với bản Hiến chương có nhiều sửa đổi. Ngân hàng này đảm nhiệm việc phát hành tiền tệ được giới hạn bằng các trái phiếu của Chính phủ, tức là biến nợ Chính phủ thành tiền. Song, do nguồn vàng dự trữ lớn, suốt 4 năm chiến tranh lạm phát ở miền Bắc chỉ ở mức gấp đôi, trong khi ở miền Nam các máy in tiền “chạy hết công suất” và có rất ít vàng nên lạm phát lên đến … 9100%.

Nhưng sau chiến tranh, Quốc hội đã thu hồi tiền pháp định, khôi phục lại chế độ bản vị vàng. Từ đó cho đến trước chiến tranh thế giới thứ nhất, tuy các thế lực tài phiệt thông qua National Bank tiếp tục dùng trò phù thủy tiền tệ gây ra một số cuộc suy thoái kinh tế vào các năm 1873, 1893 và 1907, song những cuộc suy thoái đó không cản được con đường thịnh vượng của nước Mỹ.

Nói chung, nợ nần và lạm phát của nước Mỹ suốt thế kỷ 19 đến trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất là không đáng kể. Những nỗ lực phi thường của các vị tiền bối trong việc bảo vệ tự do cho người dân đã kéo theo một thành quả 150 năm không lạm phát.

Nhìn biểu đồ biến động giá tiêu dùng của nước Mỹ ở đầu bài có thể thấy : từ năm 1800, tuy lạm phát có gia tăng vào thời gian chiến tranh 1812 và nội chiến 1861-1865, nhưng mức giá vào năm 1913 vẫn thấp hơn mức giá của 1800. Một thời gian sau khi xóa bỏ bản vị vàng vào năm 1933, do hậu quả của nó, giá cả bắt đầu tthăng thiên từ năm 1971 khi đồng đô la hoàn toàn thoát khỏi vàng cùng với sự cáo chung của hệ thống Bretton Woods. Đó là sự thật lịch sử.

(lúc nào rảnh viết tiếp)

Những bài liên quan :
Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu


Chủ Nhật, ngày 14 tháng 6 năm 2009

"Quỳ hoa bảo điển"

Tiếp theo 2 phần trước :  
Hòa bình và khoan dung
Chiến sĩ bảo vệ tự do

I believe that banking instutions are more dangerous to our liberties than standing armies
THOMAS JEFFERSON,tác giả bản Tuyên ngôn Độc lập,thổng thống thứ 3 của Hoa Kỳ

Ai đọc Tiếu ngạo giang hồ của Kim Dung đều biết “Quỳ hoa bảo điển” (và biến thái của nó là “Tịch tà kiếm phổ”) là một bí kíp võ công siêu phàm kỳ dị, nếu luyện được có thể làm những chuyện kinh thiên động địa, trở thành thiên hạ vô địch. Nhưng muốn luyện được nó, phải trả một cái giá ngặt nghèo : tự cung (tự thiến mình). Nó là sản phẩm của các kỳ nhân say mê võ học, những người này biết nó sẽ đem đại họa cho giang hồ nên cẩn thận giấu kín không cho ai biết. Nhưng mọi chuyện trên đời hễ cái gì quý hiếm thì dù giấu kín đến đâu, chỉ cần có tin tức mong manh, thiên hạ sẽ biết cách tìm ra.Cuối cùng trên giang hồ cũng có 3 người luyện được. Đó là Đông Phương Bất Bại, Nhạc Bất Quần và Lâm Bình Chi. Nhạc Bất Quần tham vọng quyền lực vô biên che giấu dưới cái vỏ quân tử, là kẻ nguy hiểm nhất. Đông Phương Bất Bại cũng tham vọng quyền lực nhưng không ngụy quân tử, nên ít nguy hiểm hơn. Còn Lâm Bình Chi, vì trả thù cho cha mẹ, nên tuy “bảo điển” biến anh ta thành người xấu nhưng là kẻ đáng thương.Đem câu chuyện này liên hệ với những vấn đề về lịch sử và kinh tế quả là khiên cưỡng. Nhưng xin các bạn học rộng tài cao thứ lỗi, tôi chỉ mượn cái tứ của nó để dẫn chuyện thôi. Quỳ hoa bảo điển, cũng như công nghệ hạch tâm, vốn là sản phẩm của tri thức. Nó không chính không tà. Tà hay chính là do người sử dụng.

Trở lại câu chuyện vàng. Hiến pháp Hoa Kỳ tuy có 2 khoản thể hiện việc cấm nhà cầm quyền in tiền giấy, nhưng điều 1, mục 8, khoản 1 lại giao quyền cho Quốc hội : “Vay tiền tín dụng cho Hoa Kỳ” (to borrow money on the credit of the United State). Điều khoản này chính là “gót chân Achilles” trong Hiến pháp Mỹ. Như đã nói, Hiến pháp không cho phép Quốc hội in và phát hành tiền giấy, nhưng Hiến pháp lại không có điều khoản nào cấm ngân hàng làm chuyện này. Đó là chỗ sơ hở để nhà cầm quyền có thể lợi dụng phát hành tiền giấy thông qua ngân hàng, dưới hình thức hợp hiến là vay tiền.
Hiến pháp cũng không đề cập đến việc có cho phép lập Ngân hàng trung ương hay không, nên mới có cuộc đấu tranh gay gắt diễn ra giữa các chính trị gia về vấn đề này. Kết quả cuối cùng là một quyết định thỏa hiệp, theo đó Ngân hàng trung ương với tên gọi là Ngân hàng Hoa Kỳ (the Bank of the United State) được thành lập vào năm 1791, giới hạn thời gian hoạt động là 22 năm, mặc dù tác giả bản Tuyên ngôn độc lập – Thomas Jefferson là một trong những người phản đối quyết liệt.Với những gì đã diễn ra trong lịch sử, có thể nói sự thỏa hiệp này là mầm mống của “bom tấn” trong thế kỷ 19 và biến thành “bom hạt nhân” dội vào thế kỷ 20.Ngân hàng Hoa Kỳ thực chất là một “công ty cổ phần”, vốn Chính phủ chỉ có một phần nhỏ, phần lớn là của các nhà đầu tư do các thế lực tài phiệt khống chế. Mặc dù Quốc hội yêu cầu Ngân hàng Hoa Kỳ phải có vàng và bạc để bảo đảm các khoản tiền gửi, nhưng do sự lắt léo trong bản Hiến chương nên yêu cầu này không khả thi và thực tế không được tuân thủ. Từ đây, nhiệm vụ thực chất chủ yếu của Ngân hàng Hoa Kỳ là phát hành tiền cho Chính phủ, nó nhận các phiếu nợ (của Chính phủ) rồi tung tiền ra cho Chính phủ tiêu xài, một công việc gần giống như FED ngày nay, tuy còn sơ khai. Cũng từ đây, Chính phủ Mỹ bắt đầu lâm vào cảnh nợ nần. Lạm phát chấm dứt từ khi có Hiến pháp, lúc này do lượng tiền bơm vào lưu thông quá nhiều so với mức bảo đảm bằng vàng, mà bảo đảm từ những phiếu nợ của Chính phủ, nên lạm phát chóng mặt.

Thomas Jeferrson là người kiên quyết không chịu sống chung với nợ. Là một vĩ nhân của nước Mỹ và là người theo chủ nghĩa tự do lớn nhất của thế kỷ 19, ông là một trong số hiếm hoi các nhà chính trị không “tư duy theo nhiệm kỳ”, ông rất sòng phẳng với tương lai. Ông cho rằng mỗi một thế hệ là một dân tộc riêng biệt, thế hệ này không được quyền để thế hệ sau kế thừa di sản nợ nần (xem các trích dẫn lời Thomas Jefferson ở cuối bài).
Cần biết, chủ nghĩa tự do - liberalism thế kỷ 19 hoàn toàn khác với liberalism nghĩa Mỹ bây giờ, từ liberalism đã bị F.D. Roosevelt cưỡng đọat và ngày nay người Mỹ dùng nó để gọi chủ nghĩa can thiệp.

Năm 1801, Jefferson trúng cử Tổng thống. Một trong những quyết tâm của ông là phế bỏ Ngân hàng Hoa Kỳ, nhưng điều đó không dễ và trong suốt hai nhiệm kỳ làm tổng thống (1801 – 1809), con người vĩ đại này vẫn không làm được. Mãi đến khi Ngân hàng Hoa Kỳ hết thời hạn hoạt động (1811), lại diễn ra một cuộc chiến cam go. Hạ viện và Thượng viện đều chia thành hai phe nghiêng ngửa, một bên muốn gia hạn hoạt động cho ngân hàng này, một bên muốn loại bỏ nó. Sau những tranh cãi nảy lửa, các chính trị gia ủng hộ quan điểm của Jefferson thắng sát nút 1 phiếu trong Hạ viện và nhờ lá phiếu phủ quyết của Phó Tổng thống trong Thượng viện, Quốc Hội thông qua quyết định đóng cửa Ngân hàng Hoa Kỳ, bất chấp những lời đe dọa của các thế lực tài phiệt đang khống chế nền tài chính Mỹ và thế giới.


Và nước Mỹ đã phải trả giá, trả giá bằng máu hẳn hoi. Không phải ngẫu nhiên mà chỉ mấy tháng sau khi giải tán Ngân hàng Hoa Kỳ, một cuộc chiến tranh đã nổ ra : chiến tranh Anh – Mỹ năm 1812. Các sử gia cho rằng đây là cuộc chiến tranh lạ lùng và vô nghĩa nhất trong lịch sử thế giới. Nguyên nhân chính được biết đến là việc nước Anh đặt ra luật lệ ngăn cản Hoa Kỳ quan hệ buôn bán với Pháp trong khi Anh và Pháp đánh nhau, kế đó Anh bắt giữ các tàu Mỹ trên đường đến Pháp và buộc các thủy thủ của các tàu này phục vụ cho Hải quân Anh đánh với Napoleon. Nhưng sự thật là trước khi xảy ra cuộc chiến, nước Anh đã bãi bỏ luật lệ ngăn cản buôn bán và bỏ việc bắt các thủy thủ Mỹ tham gia Hải quân Anh, có nghĩa là nguyên nhân của chiến tranh đã bị loại. Thế nhưng chiến tranh vẫn cứ nổ ra. Có người bảo vì lúc đó chưa có điện tín nên quyết định của Anh đã không thông báo kịp cho Mỹ, nhưng lập luận này không có sức thuyết phục. Điều lạ lùng nữa là, khi kết thúc cuộc chiến (sau gần 3 năm) hai bên đều tuyên bố chiến thắng và Hiệp ước hòa bình cũng không đả động gì đến nguyên nhân chiến tranh. Nhiều nghiên cứu sau này chỉ ra rằng cuộc chiến có nguyên nhân sâu xa từ việc giải thể Ngân hàng Hoa Kỳ, là mưu đồ thâm độc của các nhà tài phiệt nhằm cảnh cáo nước Mỹ.


Cần biết nước Mỹ được xây dựng trên nền tảng tự do, trung lập và hòa bình. Những tư tưởng này không chỉ thể hiện ở những tuyên bố mà nằm ngay trong Hiến pháp và các định chế quốc gia. Ngay cả việc trả nợ, Hiến pháp cũng ghi một cách tử tế là phải trả bằng đồng tiền vàng và bạc, tức là không chỉ không cho phép xù nợ mà còn không cho phép dùng ma thuật bớt xén. Những giá trị nói trên về căn bản được duy trì suốt thế kỷ 19, chiến tranh 1812 là một ngoại lệ.


Chiến tranh đã khiến cho nợ nần của nước Mỹ chất cao như núi, đó là mục đích của các nhà tài phiệt. Dưới bản vị vàng, muốn tiến hành chiến tranh phải tăng mạnh thuế má. Nhưng cuộc chiến này không được người dân ủng hộ, việc tăng thuế là không thể. Lúc này Ngân hàng Hoa Kỳ đã giải thể. Chính phủ buộc phải phát hành trái phiếu chiến tranh thông qua các ngân hàng “địa phương”. Trong gần 3 năm chiến tranh, nợ quốc gia tăng gần 3 lần, lạm phát cũng lên tương ứng. Hậu quả là nước Mỹ phải đầu hàng các nhà tài phiệt bằng việc tái lập Ngân hàng Hoa Kỳ vào năm 1816 với thời hạn hoạt động 20 năm. Từ đây, Ngân hàng trung ương bắt đầu dùng trò phù thủy khi thì nới lỏng khi thì thắt chặt việc bơm tiền để tạo ra các chu kỳ kinh tế theo ý muốn của các thế lực tài phiệt. Sự can thiệp của Chính phủ và sự lũng đoạn của các thế lực tài phiệt dẫn đến chu kỳ bùng nổ - phá sản đầu tiên được biết đến ở nước Mỹ.


Tuy nhiên, lực lượng ủng hộ Jefferson còn khá mạnh trong chính giới Hoa Kỳ, người kiên định nhất là Andrew Jackson, trúng cử tổng thống vào năm 1828. (Xin mở ngoặc nói thêm một chút về nhân vật này. Jackson là tổng thống Mỹ đầu tiên đặt vấn đề quan hệ với Việt Nam bằng việc gửi một bức thư cho vua Minh Mạng năm 1832 với lời lẽ chân thành hòa hiếu, năm 1836 ông lại gửi một phái đoàn sang Việt Nam với mong muốn ký một hiệp ước thương mại. Tiếc rằng mong muốn đó đã không thành, không phải do vua Minh Mạng, mà do đám quần thần quan liêu ngăn cản). Sauk hi trúng cử tổng thống, Jackson lao vào cuộc chiến đấu cam go. Ông chưa thể giải tán Ngân hàng Hoa Kỳ do thời gian họat động theo luật định của nó chưa hết, nhưng ông bắt đầu “sát thương” nó bằng cách sa thải 2000 “cán bộ công nhân viên” làm việc cho Chính phủ liên bang có liên quan đến Ngân hàng này (cần biết bộ máy Chính phủ liên bang hồi đó rất bé, chỉ khoảng 11 ngàn nhân viên).


Các nhà tài phiệt biết rõ mục đích của Jackson, nên họ tấn công trước. Theo luật, thời hạn hoạt động 20 năm của Ngân hàng Hoa Kỳ sẽ chấm dứt vào năm 1836, tức là chấm dứt trong nhiệm kỳ thứ 2 của Jackson nếu ông tái cử tổng thống, thời điểm đó không hy vọng được Jackson đồng ý gia hạn. Bởi vậy họ rat ay trước, phải tìm cách thông qua một đạo luật kéo dài thời gian họat động của Ngân hàng trước khị Jackson bước vào nhiệm kỳ 2. Thời điểm lý tưởng là năm 1832, lúc Jackson sắp hết nhiệm kỳ thứ nhất, bước vào tranh cử nhiệm kỳ 2. Đây là thời điểm nếu được Quốc Hội thông qua thì Jackson rất khó phủ quyết, vì nếu phủ quyết thì coi như ông chống lại Quốc Hội và gián tiếp chống lại cử tri, do đó rất khó mà tái cử. Đúng như kịch bản, Quốc Hội đã thông qua dự
luật. Nhưng Jackson là người đầy bản lĩnh, ông đã phủ quyết đạo luật, bất chấp tất cả. Tất nhiên phủ quyết dự luật này chưa thể cáo chung được Ngân hàng Hoa Kỳ. Và ngoài dự tính của các nhà tài phiệt, Jackson đã tái cử. Ông thề : “Còn Ngân hàng thì không có Jackson, có Jackson thì không có Ngân hàng”.Ngay sau khi tái cử Tổng thống, Jackson không đợi đến thời hạn chấm dứt hoạt động của Ngân hàng, ông tiếp tục tấn công nó bằng đòn chí mạng qua một quyết định vô tiền khoáng hậu : Ra lệnh cho Bộ trưởng Tài chính rút toàn bộ tiền gửi của Chính phủ liên bang ra khỏi Ngân hàng Hoa Kỳ, mang tiền đó đem gửi ở các ngân hàng địa phương (các bang). Bộ trưởng tài chính khi ấy không tán thành quan điểm của Jackson, ông ta kháng lệnh nhưng không từ chức. Jackson không hề do dự và không cần thông qua các thủ tục của Hiến pháp, “đình chỉ công tác” Bộ trưởng Tài chính và chuyển toàn bộ tiền gửi ra khỏi Ngân hàng Hoa Kỳ.

Kết quả là đến đầu năm 1835, nước Mỹ đã trả xong tất cả các món nợ quốc gia, hơn nữa ngân sách liên bang còn thặng dư mà không cần vay mượn. Đây là lần duy nhất nước Mỹ không chung sống với nợ nần.
Vì bảo vệ nền tự do cho nước Mỹ, Jackson đã phải trả giá. Cũng trong năm 1835, khi đến dự đám tang một nghị sĩ, ông bị ám sát. Andrew Jackson là tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên bị ám sát, nhưng ông đã may mắn thoát chết trong đường tơ kẻ tóc nhờ ngẫu nhiên những viên đạn bắn ông bị lép. Nguyên nhân và kẻ chủ mưu thực sự của tất các các vụ ám sát tổng thống Mỹ trong lịch sử đều được thông tin một cách mù mờ, chưa có trường hợp nào được xác định rõ đến nơi đến chốn. Trong trường hợp của Jackson, có 3 “đường link” : ông thề quyết tử với các thế lực tài phiệt lũng đoạn nước Mỹ; việc rút toàn bộ tiền gửi liêng bang ra khỏi Ngân hàng Hoa Kỳ; và năm 1836 (tức 1 năm sau vụ ám sát) Ngân hàng Hoa Kỳ phải chấm dứt hoạt động. Nhưng cái giá mà Jackson phải trả chưa dừng lại ở đó.
Món “Quỳ hoa bảo điển” đến lúc này mới đang manh nha chưa ghi thành bí kíp.


(lúc nào rảnh viết tiếp)

______________________

Tham khảo :

THOMAS JEFFERSON NÓI VỀ NỢ NẦN VÀ TIỀN BẠC


"I sincerely believe... that the principle of spending money to be paid by posterity under the name of funding is but swindling futurity on a large scale." --Thomas Jefferson to John Taylor, 1816. ME 15:23
"[With the decline of society] begins, indeed, the bellum omnium in omnia [war of all against all], which some philosophers observing to be so general in this world, have mistaken it for the natural, instead of the abusive state of man. And the fore horse of this frightful team is public debt. Taxation follows that, and in its train wretchedness and oppression." --Thomas Jefferson to Samuel Kercheval, 1816. ME 15:40
The Nation's Credit

"Though much an enemy to the system of borrowing, yet I feel strongly the necessity of preserving the power to borrow. Without this, we might be overwhelmed by another nation, merely by the force of its credit." --Thomas Jefferson to the Commissioners of the Treasury, 1788. ME 6:423"I am anxious about everything which may affect our credit. My wish would be, to possess it in the highest degree, but to use it little. Were we without credit, we might be crushed by a nation of much inferior resources, but possessing higher credit." --Thomas Jefferson to George Washington, 1788. ME 6:453"Though I am an enemy to the using our credit but under absolute necessity, yet the possessing a good credit I consider as indispensable in the present system of carrying on war. The existence of a nation having no credit is always precarious." --Thomas Jefferson to James Madison, 1788. ME 6:455"I wish it were possible to obtain a single amendment to our Constitution. I would be willing to depend on that alone for the reduction of the administration of our government; I mean an additional article taking from the Federal Government the power of borrowing. I now deny their power of making paper money or anything else a legal tender. I know that to pay all proper expenses within the year would, in case of war, be hard on us. But not so hard as ten wars instead of one. For wars could be reduced in that proportion; besides that the State governments would be free to lend their credit in borrowing quotas." --Thomas Jefferson to John Taylor, 1798. ME 10:64

The Limits on Contracting Debt

"The term of redemption must be moderate, and at any rate within the limits of [the government's] rightful powers. But what limits, it will be asked, does this prescribe to their powers? What is to hinder them from creating a perpetual debt? The laws of nature, I answer. The earth belongs to the living, not to the dead. The will and the power of man expire with his life, by nature's law." --Thomas Jefferson to John Wayles Eppes, 1813. ME 13:169
"We acknowledge that our children are born free; that that freedom is the gift of nature, and not of him who begot them; that though under our care during infancy, and therefore of necessity under a duly tempered authority, that care is confided to us to be exercised for the preservation and good of the child only; and his labors during youth are given as a retribution for the charges of infancy. As he was never the property of his father, so when adult he is sui juris, entitled himself to the use of his own limbs and the fruits of his own exertions: so far we are advanced, without mind enough, it seems, to take the whole step." --Thomas Jefferson to John Wayles Eppes, 1813. ME 13:357"Then I say, the earth belongs to each of these generations during its course, fully and in its own right. The second generation receives it clear of the debts and incumbrances of the first, the third of the second, and so on. For if the first could charge it with a debt, then the earth would belong to the dead and not to the living generation. Then, no generation can contract debts greater than may be paid during the course of its own existence." --Thomas Jefferson to James Madison, 1789. ME 7:455, Papers 15:393"[Using], for instance, the table of M. de Buffon, [it can be determined that] the half of those of 21 years and upwards living at any one instant of time will be dead in 18 years, 8 months, or say 19 years as the nearest integral number. Then 19 years is the term beyond which neither the representatives of a nation nor even the whole nation itself assembled can validly extend a debt... With respect to future debts, would it not be wise and just for [a] nation to declare in [its] constitution that neither the legislature nor the nation itself can validly contract more debt than they may pay within their own age, or within the term of 19 years? And that all future contracts shall be deemed void as to what shall remain unpaid at the end of 19 years from their date?" --Thomas Jefferson to James Madison, 1789. Papers 15:394

"The conclusion then, is, that neither the representatives of a nation, nor the whole nation itself assembled, can validly engage debts beyond what they may pay in their own time." --Thomas Jefferson to James Madison, 1789. ME 7:457, Papers 15:398n
"I suppose that the received opinion, that the public debts of one generation devolve on the next, has been suggested by our seeing, habitually, in private life, that he who succeeds to lands is required to pay the debts of his predecessor; without considering that this requisition is municipal only, not moral, flowing from the will of the society, which has found it convenient to appropriate the lands of a decedent on the condition of a payment of his debts; but that between society and society, or generation and generation, there is no municipal obligation, no umpire but the law of nature." --Thomas Jefferson to James Madison, 1789. ME 7:458, Papers 15:395"Funding I consider as limited, rightfully, to a redemption of the debt within the lives of a majority of the generation contracting it; every generation coming equally, by the laws of the Creator of the world, to the free possession of the earth He made for their subsistence, unincumbered by their predecessors, who, like them, were but tenants for life." --Thomas Jefferson to John Taylor, 1816. ME 15:18"[The natural right to be free of the debts of a previous generation is] a salutary curb on the spirit of war and indebtment, which, since the modern theory of the perpetuation of debt, has drenched the earth with blood, and crushed its inhabitants under burdens ever accumulating." --Thomas Jefferson to John Wayles Eppes, 1813. ME 13:272
Saddling Posterity with Debt

"We believe--or we act as if we believed--that although an individual father cannot alienate the labor of his son, the aggregate body of fathers may alienate the labor of all their sons, of their posterity, in the aggregate, and oblige them to pay for all the enterprises, just or unjust, profitable or ruinous, into which our vices, our passions or our personal interests may lead us. But I trust that this proposition needs only to be looked at by an American to be seen in its true point of view, and that we shall all consider ourselves unauthorized to saddle posterity with our debts, and morally bound to pay them ourselves; and consequently within what may be deemed the period of a generation, or the life of the majority." --Thomas Jefferson to John Wayles Eppes, 1813. ME 13:357"It is incumbent on every generation to pay its own debts as it goes. A principle which if acted on would save one-half the wars of the world." --Thomas Jefferson to A. L. C. Destutt de Tracy, 1820. FE 10:175

"Ought not then the right of each successive generation to be guaranteed against the dissipations and corruptions of those preceding, by a fundamental provision in our Constitution? And if that has not been made, does it exist the less, there being between generation and generation as between nation and nation no other law than that of nature? And is it the less dishonest to do what is wrong because not expressly prohibited by written law? Let us hope our moral principles are not yet in that stage of degeneracy, and that in instituting the system of finance to be hereafter pursued we shall adopt the only safe, the only lawful and honest one, of borrowing on such short terms of reimbursement of interest and principal as will fall within the accomplishment of our own lives." --Thomas Jefferson to John Wayles Eppes, 1813. ME 13:360

A Tax for Every Debt

"It is a wise rule and should be fundamental in a government disposed to cherish its credit and at the same time to restrain the use of it within the limits of its faculties, "never to borrow a dollar without laying a tax in the same instant for paying the interest annually and the principal within a given term; and to consider that tax as pledged to the creditors on the public faith." On such a pledge as this, sacredly observed, a government may always command, on a reasonable interest, all the lendable money of their citizens, while the necessity of an equivalent tax is a salutary warning to them and their constituents against oppressions, bankruptcy, and its inevitable consequence, revolution." --Thomas Jefferson to John Wayles Eppes, 1813. ME 13:269 "Our government has not as yet begun to act on the rule of loans and taxation going hand in hand. Had any loan taken place in my time, I should have strongly urged a redeeming tax." --Thomas Jefferson to John Wayles Eppes, 1813. ME 13:273"Of the modes which are within the limits of right, that of raising within the year its whole expenses by taxation, might be beyond the abilities of our citizens to bear. It is, moreover, generally desirable that the public contributions should be as uniform as practicable from year to year, that our habits of industry and of expense may become adapted to them; and that they may be duly digested and incorporated with our annual economy." --Thomas Jefferson to John Wayles Eppes, 1813. ME 13:359"We should now set the example of appropriating some particular tax [for loans made] sufficient to pay the interest annually and the principal within a fixed term, less than nineteen years." --Thomas Jefferson to John Wayles Eppes, 1813. ME 13:273 "Interest, simple or compound, is a compensation for the use of money." --Thomas Jefferson to John Nelson, 1818. ME 18:300

Maintaining Good Credit

"I told... President [Washington] all that was ever necessary to establish our credit was an efficient government and an honest one, declaring it would sacredly pay our debts, laying taxes for this purpose and applying them to it." --Thomas Jefferson: The Anas, 1792. ME 1:319


"The English credit is the first, because they never open a loan without laying and appropriating taxes for the payment of the interest, and there has never been an instance of their failing one day in that payment." --Thomas Jefferson to George Washington, 1788. ME 6:452
"Equal provision for the interest, adding to it a certain prospect for the principal, will give us a preference to all nations, the English not excepted." --Thomas Jefferson to James Madison, 1788. ME 6:456"I deem [this one of] the essential principles of our government and consequently [one] which ought to shape its administration:... The honest payment of our debts and sacred preservation of the public faith. " --Thomas Jefferson: 1st Inaugural, 1801. ME 3:322 "There can never be a fear but that the paper which represents the public debt will be ever sacredly good. The public faith is bound for this, and no change of system will ever be permitted to touch this; but no other paper stands on ground equally sure." --Thomas Jefferson to William Short, 1792. ME 8:317"It is not our desire to pay off... bills [of exchange in paper money] according to the present depreciation, but according to their actual value in hard money at the time they were drawn, with interest. The State having received value, so far as it is just it should be substantially paid. All beyond this would be plunder, made by some person or other." --Thomas Jefferson to the Virginia Delegates in Congress, 1781. ME 4:390, Papers 5:152

"I once thought that in the event of a war we should be obliged to suspend paying the interest of the public debt. But a dozen years more of experience and observation on our people and government have satisfied me it will never be done. The sense of the necessity of public credit is so universal and so deeply rooted that no other necessity will prevail against it." --Thomas Jefferson to William Short, 1814. ME 14:217


Freeing the Nation from Debt

"I consider the fortunes of our republic as depending in an eminent degree on the extinguishment of the public debt before we engage in any war; because that done, we shall have revenue enough to improve our country in peace and defend it in war without recurring either to new taxes or loans. But if the debt should once more be swelled to a formidable size, its entire discharge will be despaired of, and we shall be committed to the English career of debt, corruption and rottenness, closing with revolution. The discharge of public debt, therefore, is vital to the destinies of our government." --Thomas Jefferson to Albert Gallatin, 1809. FE 9:264
"There [is a measure] which if not taken we are undone...[It is] to cease borrowing money and to pay off the national debt. If this cannot be done without dismissing the army and putting the ships out of commission, haul them up high and dry and reduce the army to the lowest point at which it was ever established. There does not exist an engine so corruptive of the government and so demoralizing of the nation as a public debt. It will bring on us more ruin at home than all the enemies from abroad against whom this army and navy are to protect us." --Thomas Jefferson to Nathaniel Macon, 1821. (*) FE 10:193"To preserve [the] independence [of the people,] we must not let our rulers load us with perpetual debt. We must make our election between economy and liberty, or profusion and servitude. If we run into such debts as that we must be taxed in our meat and in our drink, in our necessaries and our comforts, in our labors and our amusements, for our callings and our creeds, as the people of England are, our people, like them, must come to labor sixteen hours in the twenty-four, give the earnings of fifteen of these to the government for their debts and daily expenses, and the sixteenth being insufficient to afford us bread, we must live, as they now do, on oatmeal and potatoes, have no time to think, no means of calling the mismanagers to account, but be glad to obtain subsistence by hiring ourselves to rivet their chains on the necks of our fellow-sufferers." --Thomas Jefferson to Samuel Kercheval, 1816. ME 15:39

"No earthly consideration could induce my consent to contract such a debt as England has by her wars for commerce, to reduce our citizens by taxes to such wretchedness, as that laboring sixteen of the twenty-four hours, they are still unable to afford themselves bread, or barely to earn as much oatmeal or potatoes as will keep soul and body together. And all this to feed the avidity of a few millionary merchants and to keep up one thousand ships of war for the protection of their commercial speculations." --Thomas Jefferson to William H. Crawford, 1816. ME 15:29
"Our distance from the wars of Europe, and our disposition to take no part in them, will, we hope, enable us to keep clear of the debts which they occasion to other powers." --Thomas Jefferson to C. W. F. Dumas, 1790. ME 8:47
(Nguồn : http://etext.virginia.edu/jefferson/quotations/jeff1340.htm)

___________
Những bài liên quan :
Nhà nước mạnh, Nhà nươc yếu

Chủ Nhật, ngày 07 tháng 6 năm 2009

Hòa bình và khoan dung

-->
Tư tưởng tự do của các triết gia Khai sáng đã trở thành thiết chế xã hội của phương Tây, được hàm chứa trong Hiến pháp nhiều nước, nổi bật nhất là Hiến pháp Hoa Kỳ. “Quyền tự nhiên của con người là quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu” là phát kiến vĩ đại của John Locke, được các nhà lập quốc Hoa Kỳ long trọng đưa vào bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ (với sự mở rộng khái niệm quyền tư hữu thành quyền “mưu cầu hạnh phúc”, được hiểu là bao hàm quyền tư hữu) và đặt thành nền tảng trong Hiến pháp. Tư tưởng vĩ đại đó được cụ Hồ tiếp thu, đưa vào Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam, và tiếp đó, Hiến pháp Việt Nam năm 1946 do cụ Hồ chủ trì soạn thảo lại dành hẳn Điều 12 để ghi : “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”. Để cho những “quyền tự nhiên” đó được thực thi, các nhà lập quốc Hoa Kỳ còn lấy vàng ra bảo đảm, theo đúng nghĩa đen của từ này mà tôi sẽ nói kỹ ở đoạn dưới.

Người bình thường nào cũng biết vàng là thứ kim loại qúy hiếm, tiện ích và đáng tin như thế nào trong thanh toán và cất giữ. Sau hàng ngàn năm làm ăn và suy tưởng, thế giới văn minh đã chọn vàng làm bản vị tiền tệ và áp dụng đồng loạt vào thế kỷ 19.

Ở phương Tây, thế kỷ 19 là thế kỷ thịnh vượng, tự do và hòa bình (tuy vẫn có một số cuộc chiến tranh nhỏ và dĩ nhiên do sự thịnh vượng của phương Tây nên đây cũng là thời kỳ phần lớn các nước trên hành tinh trở thành thuộc địa của nó).

Tiền là tài sản quan trọng nhất của đông đảo người dân, vì vậy tiền của dân cũng phải được bảo đảm, càng phải được bảo đảm. Một trong những bảo đảm quan trọng của tự do là tài sản của cá nhân không bị cướp bóc, không bị tước đoạt.

Giặc đến đốt nhà cướp của, lục lâm thảo khấu chặn đường cướp tiền, kẻ trộm trèo tường mở tủ lấy tiền, cường hào ác bá bức hiếp lấy tiền, kẻ xấu lừa đảo lấy tiền… là những sự cướp bóc tước đoạt dễ thấy. Đối với giặc thì có thể trả thù, đối với kẻ xấu có thể kiện cáo, đối với tham quan ô lại thì có thể đấu tranh (dù cầm chắc phần thua, nhưng cũng có giải pháp), đối với lục lâm trộm cướp thì có thể né tránh. Nhưng trên đời còn có sự cướp bóc tước đoạt khác, kinh khủng hơn, dã man hơn, nhưng tinh vi “mắt thường” không nhìn thấy. Đó là lạm phát.

Dưới chế độ bản vị vàng không những không có lạm phát mà cuộc sống của người dân cũng không phụ thuộc vào chính phủ. Khi không tin vào chính phủ, người dân mang tiền ra đổi thành vàng đem cất giữ, khi nào tin thì mang vàng ra đổi lại thành tiền. Bản vị vàng làm yên dân.

Bản vị vàng còn khiến cho những người cầm quyền trở nên khoan dung, vì không thể in tiền để mở rộng quyền lực. Khi Nhà nước không phải là "bầu vú" để có thể khai thác thì việc "làm quan" sẽ là một nghề bình thường như những nghề khác, các quan chức không thể cậy thế cậy quyền để ức hiếp dân lành và nhất là khó mà tham nhũng.

Bản vị vàng cũng duy trì được hòa bình thế giới, do không thể tùy tiện in tiền để tiến hành chiến tranh nên giữa các nước ít gây gổ với nhau hơn.Người ta bảo Đại chiến I ít khủng khiếp hơn Đại chiến II vì trong Đại chiến I vẫn còn nhiều nước tham chiến chưa thoát hẳn bản vị vàng, còn Đại chiến II không còn bản vị vàng nên có thể chi tiền vô biên. Nếu có bản vị vàng thì chưa chắc chiến tranh Việt Nam đã diễn ra, những bất ổn trên thế giới cũng khó có điều kiện dẫn đến xung đột. Hơn nữa, với bản vị vàng, quan hệ kinh tế giữa các nước là quan hệ giữa các cá nhân hoặc doanh nghiệp, dựa trên sự cạnh tranh bình đẳng, các nhà nước sẽ không có điều kiện dựa vào sức mạnh kinh tế của quốc gia này áp chế quốc gia khác.

Trở lại chuyện của nước Mỹ. Tuy không nói rõ việc áp dụng bản vị vàng, nhưng Hiến pháp Hoa Kỳ quy định rõ quyền hạn của Quốc Hội trong phát hành tiền nong như sau (Điều 1, Mục 8, khoản 5) : “To coin Money, regulate the Value thereof, and of foreign Coin, and fix the Standard of Weights and Measures” (Đúc tiền, điều chỉnh giá trị của nó và tiền nước ngoài, xác định tiêu chuẩn cân đo”. Điều lạ lùng là tại website của Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội, cụm từ “To coin Money” được dịch là “Đúc và in tiền”. Tùy tiện thêm chữ “in tiền” vào đây không đơn giản là việc them chữ, mà làm cho người đọc hiểu sai về bản chất một vấn đề cực kỳ quan trọng trong Hiến pháp và lịch sử nước Mỹ.

Tại Điều 1, Mục 9, khoản 1, Hiến pháp Hoa Kỳ cấm các bang “…coin Money; emit Bills of Credit; make anything but gold and silver Coin a Tender in Payment of Debts…” (đúc tiền, phát hành giấy bạc hoặc dùng bất cứ thứ gì ngoài đồng tiền vàng và bạc để thanh toán các khoản nợ”). Đoạn này cũng được website Đại sứ quán Hoa Kỳ cho người ta hiểu lệch đi bằng cách dịch là “… hoàn toàn không được dùng các đồng tiền vàng và bạc để thanh toán các khoản nợ…).

Những quy định về tiền bạc ghi trong Hiến pháp như vậy là rõ ràng không thể nhầm lẫn được. “Đúc tiền”, chỉ có thể đúc bằng vàng hoặc bằng bạc. Chỉ quy định “đúc tiền” chứ không quy định “in tiền”, không phải nước Mỹ chưa biết đến tiền giấy pháp định, mà nước Mỹ đã có kinh nghiệm xương máu đối với loại tiền này.

Trước khi bản Hiến pháp ra đời (có hiệu lực vào năm 1788), nước Mỹ thời thuộc địa đã từng sử dụng tiền giấy pháp định trong cuộc chiến tranh với Pháp và chiến tranh cách mạng, hậu quả là siêu lạm phát hủy diệt nền kinh tế. Tổng thống Thomas Jefferson có lẽ là người đầu tiên nói trắng ra rằng lạm phát chính là “khoản thuế thực” đánh vào người dân.

Lịch sử cho thấy những nhà lập quốc – những người ký tên trong bản Hiến pháp Hoa Kỳ đã kịch liệt phản đối việc cho phép in tiền pháp định, khi vấn đề này được đưa ra trong bản thảo đầu tiên của Hiến pháp. G. Washington thẳng thừng từ chối nó, James Madison coi nó là “trò gian manh và hành động bất lương”, còn John Langdon thì bảo ông sẵn sang từ chối liên bang hơn là cho phép in tiền pháp định. Vì vậy, với hai nội dung nói trên, bản Hiến pháp Hoa Kỳ đã chỉ rõ : Quyền in tiền không được trao cho liên bang và quyền này bị cấm đối với các bang. Hơn 200 năm qua, những điều khoản này không hề bị sửa đổi, nó vẫn còn giá trị cho đến ngày hôm nay.

Cần biết vào năm 1785, Hoa Kỳ đã sử dụng đồng tiền bạc của Tây Ban Nha làm tiền tệ chính thức. Sau khi Hiến pháp được thông qua, Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua đạo lụật đúc tiền (1792), quy định cụ thể hàm lượng vàng và bạc trong đồng đô la và định tỷ giá giữa tiền vàng và tiền bạc. Điều thú vị là sau khi quy định trọng lượng, độ thuần khiết và chuẩn mực của đồng tiền, việc đúc tiền sẽ được đấu thầu thực hiện. Từ đây cũng mở đường cho tư nhân đúc tiền. Tiền tư nhân đúc ra nếu bảo đảm trọng lượng và độ thuần khiết của vàng hoặc bạc, Nhà nước sẽ đóng dấu xác nhận và sau khi xác nhận, đồng tiền đó sẽ được lưu hành hợp pháp. Việc đúc tiền tự do này kéo dài mãi đến khi luật cấm vàng ra đời năm 1934 vào thời F.D. Roosevelt.

Việc lấy vàng và bạc làm tiền tệ lưu thông đã tạo sự ổn định và phát triển bền vững của nền kinh tế, tạo nền tảng cho sự thịnh vượng của Hoa Kỳ trong suốt thế kỷ 19. Nếu không có sự thịnh vượng bền vững của thế kỷ 19 thì không thể có nước Mỹ ngày nay. Tờ Pennsylvanta Gazette số ra ngày 16-12-1789 viết : “Kể từ khi Hiến pháp liên bang xóa bỏ tất cả mọi nguy hiểm của việc duy trì pháp lệnh tiền giấy, nền thương nghiệp của chúng ta đã tăng lên 50%”(*). Các nhà sử học cũng ghi nhận : “Những năm 1793-1808 là giai đoạn thịnh vượng vô song” (Douglas North), “(Đây là) một trong những giai đoạn vĩ đại nhất trong lịch sử Hoa Kỳ… Xuất khẩu của Hoa Kỳ tăng từ 19 triệu đô la năm 1791 lên 93 triệu đô la vào năm 1801”. Thời gian này thâm hụt tài chính liên bang đã giảm từ mức 28% năm 1792 xuống còn 21% năm 1795 và đến năm 1802 thì số ngân sách thặng dư lên đến mức tương đương với tổng chi ngân sách. (*).

Rất tiếc là điều khoản cực kỳ quan trọng, điều khoản bảo đảm bằng vàng cho tự do của Hiến pháp Hoa kỳ, đã bị vi phạm. Dưới áp lực của các nhà tài chính lũng đoạn, người ta đã huy động một đội ngũ hùng hậu những kinh tế gia, luật gia và phương tiện truyền thông áp đảo để cuối cùng đã đưa được con lạc đà chui qua lỗ kim sơ hở bé tí trong bản Hiến pháp. Kết quả là năm 1933, nước Mỹ xóa bỏ bản vị vàng, hệ quả là một lượng tài sản khổng lồ của công dân Mỹ bị tước đọat, và tiếp đó ra luật cấm toàn dân tàng trữ vàng (trừ đồ trang sức). Và sau khi đồng đô la thoát hẳn khỏi vàng vào năm 1971 cùng với sự cáo chung của hệ thống Bretton Woods, đến đầu năm 1975 lệnh cấm người dân sở hữu vàng mới được bãi bỏ ở nước Mỹ.

Tối cao pháp viện Hoa Kỳ vốn lẫy lừng trong bảo vệ Hiến pháp, nhưng có lẽ chưa bao giờ có đủ 5 đại thẩm phán dấn thân cho tự do...
(lúc nào rảnh viết tiếp).
________________
* Đoạn trích và số liệu lấy từ sách : The Creature from Jekyll Island (Bản dịch tiếng Việt : Những âm mưu từ đảo Jekyll, NXB Tổng hợp TPHCM 2009).
Những bài liên quan :