Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà nước mạnh Nhà nước yếu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà nước mạnh Nhà nước yếu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2009

Chiến sĩ bảo vệ tự do


Mấy hôm nay giá vàng ở Việt Nam tăng thẳng đứng và hôm nay đang nằm ở đỉnh cao chót vót : 2.145.000 đồng/lượng SJC. Vàng thế giới cũng đã thẳng tiến lên trên 980 USD/ounce. Các chuyên gia quốc tế và trong nước đều thống nhất dự báo : vàng sẽ tiếp tục tăng, sẽ phá kỷ lục 1.033,9 USD (17-3-2008) và sẽ lập tiếp những kỷ lục mới, dù nó sẽ “thăng” theo chiều răng cưa (tìm được những “răng cưa” này sẽ là cơ hội cho các nhà đầu tư lướt sóng).


Giá vàng tăng trong những ngày này có nhiều nguyên nhân : đồng đô la Mỹ suy yếu, giá dầu tăng, Bắc Triều Tiên thử hạt nhân và một loạt những động thái của giới tài chính và chính trị…


Nguyên nhân bao quát là do “hiệu quả” của hàng nghìn tỷ đô la từ các “gói kích cầu” mà chính phủ Mỹ và chính phủ các nước đã bơm vào các nền kinh tế để đối phó với khủng hoảng. Cái này các nhà kinh tế trường phái Austrian gọi là bốc thuốc an thần cho con bệnh, theo sách thuốc của thầy Keynes.


Theo lẽ thông thường mà ai cũng hiểu, của cải ở đời đều do những cá nhân làm ra bằng mồ hôi, bằng trí não của họ. Với chức trách của mình, Nhà nước không làm ra của cải, nó chỉ thu một khoản tiền của những người làm ra của cải ở một mức hoặc một tỷ lệ nhất định, gọi là thuế. Khoản tiền này dung để trang trải những hoạt động của nhà nước khi nó đảm nhiệm những công việc mà xã hội giao phó, thoạt kỳ thủy đó là những việc ích nước lợi nhà mà từng cá nhân riêng lẻ không thể làm được.


Của cải làm ra phải đem trao đổi, thô sơ là hàng đổi hàng, khi của cải dồi dào rồi thì trao đổi bằng tiền. Là phương tiện thanh toán, nên lượng tiền lưu thông trong xã hội bao nhiêu thì phải có một lượng của cải tương ứng bấy nhiêu. Cho nên tiền là sự “cách điệu” của của cải. Nhưng người ta không thể đo được lượng của cải để phát hành tiền tương ứng được, vì nó quá phức tạp, nên phải tính theo một cách khác. Lấy bạc hoặc vàng để bảo đảm giá trị. Ngay cả Nhà nước phong kiến, quyền của vua chúa không ai kiểm soát, cũng phải lấy thứ kim loại qúy là bạc hoặc vàng để làm phương tiện thanh toán hoặc phương tiện bảo đảm giá trị đồng tiền. Khi xem phim Tàu ta thấy các nhân vật khi mua bán hoặc chi cho ai thường rút ra một xấp giấy gọi là “ngân lượng”, đó chính là những “chứng chỉ” trả tiền được bảo đảm bằng bạc. Tiền giấy của các nhà nước phong kiến cổ đại đều là những “chứng chỉ” có bạc hoặc vàng bảo đảm cả. Những bậc “con trời” cũng không dám tùy tiện in tiền.


Từ năm 1914 trở về trước, nhất là trong thế kỷ 19, ở các nước theo thể chế thị trường mà người ta gọi là chủ nghĩa tư bản, để đồng tiền không mất giá, người ta lấy vàng (song song với bạc) ra bảo đảm giá trị, gọi là bản vị vàng hoặc kim bản vị. Lượng tiền lưu hành trong một nước bao nhiêu nhất định phải có một lượng vàng tương ứng nằm trong kho. Hồi đó lượng vàng thường chạy qua chạy lại từ kho vàng của ngân hàng quốc gia nước này sang ngân hàng quốc gia nước khác theo sự thăng trầm của hoạt động buôn bán từng nước. Kinh tế học phát triển cùng với sự ra đời của một loạt những “cách điệu” khác và các công cụ tính toán ngày càng tinh vi, nhưng đều xuất phát từ đạo lý : đồng tiền không thể được in ấn bừa bãi.


Do được bảo đảm bằng vàng, suốt hơn 1 thế kỷ thế giới không hề biết đến lạm phát. Từ đầu thế kỷ 19 đến trước Đại chiến I, trong 113 năm đồng đô la Mỹ và nhiều đồng tiền châu Âu lạm phát bằng 0, giá tiêu dùng biến động không đáng kể. Đối với nước Anh, trong suốt 250 năm trước Đại chiến I, trừ khoảng thời gian lạm phát ngắn do chiến tranh với Napoleon, sức mua của đồng bảng Anh không những không giảm mà còn tăng. Lịch sử coi đây là thời hoàng kim của kinh tế thị trường. Sự thịnh vượng kinh tế đã giúp nước Anh thống trị ¼ thế giới.


Chính laissez-faire tạo ra sự thịnh vượng của châu Âu và Hoa kỳ vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Sự thịnh vượng đó đi liền với những Nhà nước “bé”. Nhà nước muốn to ra để đảm nhận nhiều “sứ mệnh” tự phong cho mình mà thực chất là những tham vọng quyền lực, thì phải có nhiều tiền, muốn có nhiều tiền thì phải có vàng bảo đảm. Nên chính vàng đã ngăn cản tham vọng quyền lực của Nhà nước. Nhà nước bé thì con người được tự do, nên người ta cũng gọi vàng là chiến sĩ bảo vệ tự do.


Nhưng tham vọng quyền lực của Nhà nước vốn vô hạn độ, dù đó là Nhà nước dân chủ, Nhà nước do dân bầu. Tham vọng vô hạn độ đó luôn luôn khiến Nhà nước có xu hướng phình to ra. Khi trong nước hết việc để làm, tức là không có lý do để phình to ra, các Nhà nước lại tính chuyện đi gây gổ. Đi gây gổ với nước khác bao giờ cũng trương ra lý do bảo vệ quyền lợi dân tộc. Chiến tranh nổ ra. Chiến tranh nổ ra thì cần rất nhiều tiền. Dưới bản vị vàng, Nhà nước cần thêm tiền thì phải tăng thuế. Nhưng tăng thuế thì dân không ủng hộ.


Do đó, từ năm 1914, các nhà nước đã phải xóa bỏ bản vị vàng để in tiền tài trợ cho chiến tranh, đầu tiên là nước Anh. Đại chiến I khiến thế giới điêu tàn, từ đây mở đường cho sự lộng hành của các nhà nước. Và sau cuộc điêu tàn của Đại chiến II, sự lộng hành trở nên vô biên không thuốc chữa.


Viết đến đây thì giá vàng thế giới đã lên 987,6 USD/ounce, vàng SJC trong nước đã lên 21.6300.000đồng/lượng rồi (16h33, 1-6-2009), bà con lướt sóng vàng đừng vội chốt lãi nhé, hehe…

(Lúc nào rảnh viết tiếp)


Những bài liên quan :

Hòa bình và khoan dung

"Qùy hoa bảo điển"

150 năm không lạm phát

Alan Greenspan nói về bản vị vàng

Từ những núi nợ của nước Mỹ

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu

Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2009

Chúa Sãi và laissez-faire

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (6)

(tiếp theo)


Từ đầu thế kỷ trước (1918), Sài Gòn đã được thế giới vinh danh là “Hòn Ngọc viễn đông”, mức độ giàu có thịnh vượng của nó vượt xa Hồng Kông. Hãy gác một bên các thể chế chính trị, sự thịnh vượng của Sài Gòn có thể nói thời nào cũng xuất phát từ một nguyên nhân căn bản : tự do thương mại. Tư tưởng tự do thương mại, từ đó dẫn đến sự thịnh vượng của Sài Gòn, khởi nguồn từ tầm vóc của một con người vĩ đại : Chúa Sãi.


Chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên – 1563-1635) để lại nhiều di sản đồ sộ cho dân tộc, trong đó có 3 di sản bất diệt mà hễ ai là người Việt Nam đều không được phép quên : Đem Sài Gòn và Nam bộ về cho Tổ Quốc một cách hòa bình, xác lập và thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa-Trường Sa (cùng các quần đảo khác trên biển Đông) và đặt nền móng đầu tiên cho một nền kinh tế thị trường.


Lâu rồi tôi có đọc ở đâu đó một câu chuyện thú vị về Đào Duy Từ. Xem lịch sử mọi người đều biết Đào Duy Từ xuất thân từ gia đình một “con hát” ở Đàng Ngoài. Do xã hội Đàng Ngoài của chúa Trịnh duy trì những giá trị Nho giáo bảo thủ, trong đó có quan niệm “xướng ca vô loài” nên với cái lý lịch thành phần “con hát”, họ Đào không được thi cử. Với tài năng và chí khí của mình, họ Đào không yên phận, ông đã “vượt biên” vào Nam theo chúa Nguyễn. Đào Duy Từ không chỉ học rộng hiểu nhiều mà còn có tài kinh bang tế thế. Chúa Sãi không những trọng dụng ông mà còn tôn ông làm quân sư, tức là làm thầy mình. Họ Đào đã có công rất lớn giúp chúa Nguyễn mở nước an dân, không có việc gì ông không giỏi. Nhưng có một điều ông không hiểu, không tán thành với Chúa Sãi mà vẫn canh cánh nhiều năm không tiện nói. Đó là việc Chúa Sãi cho tàu buôn nước ngoài tự do đi lại và tỏ ra vô cùng trọng thị các thương nhân (đến mức gả luôn con gái cho một nhà buôn Nhật Bản). Đến cuối đời, ông đã đem tâm sự đó nói ra. Chúa Sãi không trả lời ông mà đưa cho ông xem bảng cân đối ngân sách quốc gia. Nhìn thấy phần lớn ngân sách là từ các khoản thuế thu từ các tàu buôn đó, Đào Duy Từ ngửa mặt lên trời than : “Ta không bằng Chúa Sãi”.


Lê Quý Đôn, người ở “phía bên kia” (Đàng Ngoài), vẫn phải nhận xét : “Đoan quận công (Chúa Sãi) … chính sự khoan hòa, việc gì cũng thường làm ơn cho dân, phép tắc công bằng…; thuyền ngoại quốc đến buôn bán, việc giao dịch phân minh, ai cũng cố gắng, toàn cõi nhân dân an cư lạc nghiệp” (theo Phủ biên tạp lục). Nhân dân mến đức Nguyễn Phúc Nguyên nên gọi ông là Chúa Sãi hay Phật Chúa. Xét trên quan điểm ngày nay, “chính sự khoan hòa”, “phép tắc công bằng” không có gì khác hơn là việc để cho dân tự do làm ăn buôn bán, không lạm thu thuế má, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.


Thời Nguyễn Phúc Nguyên, Hội An đã biến thành thương cảng nổi tiếng thế giới. Trong cuốn sách "Xứ Đàng Trong năm 1621", Christoforo Borri, một giáo sĩ Dòng Tên người Ý đến sống ở nước ta vào thời đó đã nhận xét : “Chúa Đàng Trong không đóng cửa trước một quốc gia nào, ngài để cho tự do và mở cửa cho tất cả người ngoại quốc, người Hà Lan cũng tới như những người khác, cùng với tàu chở rất nhiều hàng hóa của họ” (lời của Borri và Lê Quý Đôn trích từ "Nguyễn Phúc Nguyên : vị chúa của những kỳ công mở cõi đầu thế kỷ 17" - tham luận của gs Nguyễn Quang Ngọc tại Hội thảo Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn, 10-2008). Chuyện lạ lùng, cũng là chuyện vô tiền khoáng hậu trong lịch sử, là Nguyễn Phúc Nguyên đã không áp đặt sự cai trị của mình, ông đã để Nhà nước của ông lùi xa ra để cho các khu phố được tự trị, để họ sống theo tập quán, luật lệ riêng.


Nói lan man chuyện Chúa Sãi để thấy rằng, Việt Nam đã từng thiết lập một xã hội tự do kinh tế từ rất sớm, đầu thế kỷ 17, mặc dù Nhà nước lúc đó không phải là Nhà nước dân chủ. Bởi vậy có thể nói nước ta cũng có truyền thống laissez-faire hàng trăm năm. Qua những cuộc bể dâu của lịch sử, truyền thống đó đã len lỏi, dịch chuyển, chòi đạp để tự bảo tồn và phát triển. “Hòn ngọc viễn đông” Sài Gòn là kết quả của sự phát triển đó.


Ngày xưa Hồng Kông, Singapore, Seoul, Bangkok… “không là gì” đối với Sài Gòn cả, nhưng nay thì Sài Gòn – TPHCM không còn là “Hòn ngọc viễn đông” nữa, nó đã thua xa những nơi đó, đến nỗi người ta tính với tốc độ như hiện nay thì phải mất hàng chục năm chúng ta mới đuổi kịp, thậm chí có người còn tính phải mất …197 năm nữa Việt Nam mới đuổi kịp Singapore (?!). Tôi không tán thành cách tính khập khiểng đó, dù dùng bất cứ tham số nào, cái khoảng cách này chỉ nói lên sự lạc hậu mà các đơn thuốc hiện tại không thể chữa nổi mà thôi.


Dĩ nhiên nếu so sánh nó với chính nó thì quy mô kinh tế của Sài Gòn-TPHCM lớn hơn nhiều lần so với khi nó là “Hòn ngọc viễn đông”. Nhưng sự phát triển đó không có ý nghĩa, vì quá chậm để cho những khu vực từng lạc hậu hơn vượt lên quá xa. Điều này ai cũng hiểu. Sự tụt hậu quá xa đó chỉ có thể nói là do thị trường tự do bị phế bỏ trong một thời gian dài.


Vấn đề là, so với tương quan trong nước, tức là trong cùng một mặt bằng kìm hãm của cơ chế kế hoạch tập trung quan liêu cũng như khi cơ chế này từ từ bị tháo bỏ trong Đổi Mới, Sài Gòn-TPHCM vẫn có sức chòi đạp để "xé rào" và đã bứt phá nhanh hơn, thịnh vượng nhanh hơn. Cái gì làm nên sự bứt phá đó ? Đó chính là truyền thống laissez-faire, truyền thống này đã thành tập quán, tồn tại âm ỉ, không bị thủ tiêu trong gọng kiềm kế hoạch hóa, như những hạt mầm ủ sẵn trong lòng đất, phát quang đến đâu sinh sôi đến đó.


Có thể khẳng định, mức độ thịnh vượng của Sài Gòn – TPHCM kể từ khi Đổi Mới đến nay là kết quả sự trỗi dậy của truyền thống tự do kinh doanh trừ đi phần tiêu hao do sự kìm hãm của quản lý Nhà nước mặc dù đã “đổi mới” song vẫn còn đầy những biện pháp phi thị trường.


Nói chuyện trong nước để trở lại chuyện của thế giới. Theo Alan Greenspan, trong hai thế kỷ qua mặc dù dân số trái đất tăng gấp 6 lần nhưng thu nhập bình quân đầu người vẫn tăng 10 lần, tuổi thọ con người tăng gấp đôi. Đó là kết quả của laissez-faire.


Nhưng cần phân biệt sự khác nhau giữa hai thế kỷ. Thế kỷ 19 gần như thông suốt với laissez-faire. Thế kỷ 20 ách tắc với chiến tranh, kế hoạch hóa và chủ nghĩa can thiệp, tóm lại là ách tắc với “big government” các loại. Nếu bộ máy Nhà nước không phình to ra “đè đầu cưỡi cổ” thị trường thì thế kỷ 20 đã thịnh vượng đến mức nào ? Không ai tính được, và nhân loại không có ý định tính, dĩ nhiên rồi, vì lịch sử không có chữ “nếu”…


(còn tiếp)

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2009

Người Mỹ vẫn dị ứng với "Big Government"

Đó là kết quả thăm dò của Viện Gallup về ý kiến của người Mỹ liên quan đến "Big Government". Xem chi tiết tại đây :
Big Gov't. Still Viewed as Greater Threat Than Big Business

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2009

110 năm ngày sinh Friedrich Hayek


Hôm nay đúng 110 năm ngày sinh của Friedrich August von Hayek (8.5.1899 - 23.3.1992), người mà Milton Friedman gọi là triết gia tự do vĩ đại nhất của thế kỷ 20.


Cách đây không lâu, Nhà xuất bản Tri Thức, Hà Nội đã ra mắt cuốn sách Đường về nô lệ (The road to serfdom), cuốn sách đầu tiên của Hayek dịch ra tiếng Việt được phát hành ở Việt Nam. Trước đó Nhà xuất bản này cũng đã cho ra mắt hai cuốn viết về ông : Friedrich Hayek : cuộc đời và sự nghiệp (2007); Chủ nghĩa tự do của Hayek (2008).


M. Friedman nói về The road to serfdom


Cuốn sách này đã trở thành tác phẩm kinh điển thực sự : đây là tác phẩm dành cho tất cả những ai quan tâm đến chính trị một cách rộng rãi nhất và ít thiên lệch nhất của từ này, thông điệp chính của nó sẽ sống mãi với thời gian và có thể áp dụng cho vô vàn hoàn cảnh cụ thể khác nhau. Hiện nay trong chừng mực nào đó nó còn liên quan đến Hoa Kỳ nhiều hơn cả khi được công bố lần đầu vào năm 1944 và đã gây chấn động dư luận vào lúc đó.


Gần một phần tư thế kỷ trước (năm 1971) tôi đã viết lời giới thiệu cho lần xuất bản cuốn Đường về nô lệ bằng tiếng Đức nhằm minh họa tính vĩnh cửu của thông điệp mà Hayek đã gửi tới cho chúng ta. Lời giới thiệu đó cũng có thể được áp dụng cho lần xuất bản kỷ niệm năm mươi năm ra đời của tác phẩm kinh điển này của Hayek. Để khỏi phải đạo văn của chính mình, tôi xin trích dẫn toàn bộ bài viết trước khi đưa thêm vào một vài lời bình luận :

....

“Người ta thích tin rằng các tệ nạn xã hội là do những người xấu gây ra còn nếu những người tốt (giống như chúng ta, dĩ nhiên rồi) nắm được quyền lực thì mọi việc sẽ tốt. Quan điểm này chỉ đòi hỏi cảm tính và thói tự mãn, những thứ vừa dễ kiếm vừa dễ thỏa mãn. Để hiểu tại sao những người “tốt” khi có quyền lực lại làm những điều ác trong khi những người bình thường, không có quyền lực, nhưng có khả năng hợp tác một cách tự nguyện với những người xung quanh lại làm được nhiều việc thiện, đòi hỏi phải phân tích và tự duy, đặt cảm tính xuống dưới lý trí...


“Trong thế giới thực tiễn, năm 1945 những ai trong chúng ta từng bị phân tích của Hayek thuyết phục đều chẳng nhìn thấy gì khác hơn là sự phát triển một cách đều đặn vai trò của nhà nước lấn át vai trò của cá nhân, là việc thay thế dần sáng kiến và kế hoạch cá nhân bằng sáng kiến và kế hoạch của nhà nước. Nhưng trên thực tế phong trào này đã chẳng tiến được mấy, cả ở Anh, ở Pháp cũng như ở Mỹ. Còn ở Đức đã diễn ra những phản ứng quyết liệt nhằm thoát khỏi việc kiểm soát thời quốc xã và một bước tiến vượt bậc về phía chính sách tự do trong lĩnh vực kinh tế...”


Trong khi người ta nói về thị trường tự do và quyền tư hữu – hiện nay chuyện này được tôn trọng hơn là việc bảo vệ nền kinh tế ở gần mức laissez-faire cách đây vài thập niên – phần lớn giới trí thức vẫn gần như tự động ủng hộ sự mở rộng quyền lực của chính phủ nếu nó được quảng bá như là biện pháp bảo vệ các cá nhân khỏi bị ảnh hưởng của các công ty lớn xấu xa, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường hay thúc đẩy “bình đẳng”. Cuộc thảo luận về chương trình chăm sóc sức khỏe quốc dân là một thí dụ điển hình. Các nhà trí thức có thể học thuộc lời nhưng không biết hát.


Ngay từ đầu tôi đã nói rằng hiện nay “trong chừng mực nào đó" thông điệp của cuốn sách “còn liên quan đến Hoa Kỳ nhiều hơn cả khi đã gây chấn động dư luận… hơn nửa thế kỷ trước". Giới trí thức lúc đó có thái độ thù địch với chủ đề của cuốn sách hơn là hiện nay, nhưng thực tiễn lúc đó là phù hợp với nó hơn là hiện nay. Chính phủ sau Chiến tranh thế giới II nhỏ hơn và ít chỉ đạo hơn hiện nay. Chương trình Xã hội mở rộng của chính quyền Tổng thống Johnson, bao gồm Chăm sóc y tế và Hỗ trợ y tế, có các đạo luật Không khí trong lành và chương trình Người Mỹ tàn tật của chính quyền Tổng thống Bush vẫn còn ở phía trước, chưa nói đến biết bao vụ bành trướng khác của chính phủ mà Reagan, trong tám năm cầm quyền, chỉ có thể làm chậm lại chứ không thể dảo ngược được. Chi tiêu của chính phủ Mỹ, cả trung ương lẫn địa phương, đã tăng từ 25% tổng sản phẩm quốc dân năm 1950 lên thành 45% vào năm 1993.


Ở Anh tình hình cũng gần như vậy, theo một nghĩa nào đó thì còn kịch tính hơn... Dưới thời Margaret Thacher, đã thành công trong việc giảm thiểu quy mô sở hữu và điều hành chính phủ. Nhưng Thatcher đã không thể kêu gọi sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng cho các giá trị tự do...Và trong khi diễn ra quá trình “tư nhân hóa” nhiều doanh nghiệp nhà nước thì phần thu nhập quốc dân bị chính phủ sử dụng đã tăng lên và chính phủ cũng đưa ra nhiều chỉ thị hơn so với hồi nưm 1950...


MILTON FRIEDMAN

(Nhà kinh tế đoạt giải Nobel 1976. Trích lời giới thiệu cho nhân dịp 50 năm xuất bản The Road to Serfdom)


Hayek nói :


Thế hệ chúng ta có nguy cơ quên rằng các tiêu chuẩn đạo đức nhất định phải gắn bó mật thiết với các hành vi mang tính cá nhân cũng như chúng chỉ có hiệu lực khi cá nhân được tự do quyết định và tự nguyện hy sinh các quyền lợi cá nhân nhằm thực thi các quy tắc đạo đức. Bên ngoài lĩnh vực trách nhiệm cá nhân thì không còn khái niệm tốt xấu nữa, không còn cơ hội thể hiện các giá trị đạo đức cũng chẳng thể chứng minh được niềm tin của mình bằng cách hy sinh ham muốn cá nhân cho những điều mà mình cho là đúng nữa. Chỉ khi chúng ta hoàn toàn chịu trách nhiệm về quyền lợi của mình và được tự do khi hy sinh các quyền lợi đó thì quyết định của chúng ta mới có giá trị đạo đức. Chúng ta sẽ chẳng thể được coi là vị tha khi hy sinh quyền lợi của người khác hoặc chẳng được vinh danh khi trở nên vị tha nếu như ta không có quyền lựa chọn. Những thành viên của một xã hội mà trong bất cứ lĩnh vực nào cũng buộc phải làm điều tốt thì cũng chẳng có gì phải ca ngợi...


Tự do hành động ngay trong lĩnh vực mà hoàn cảnh vật chất buộc chúng ta phải lựa chọn và chịu trách nhiệm khi tổ chức cuộc sống phù hợp với lương tâm của mình chính là những điều kiện cần thiết để ý thức về đạo đức có thể phát triển và những giá trị đạo đức được tái tạo hàng ngày thông qua những quyết định tự do của từng cá nhân. Trách nhiệm không phải trước cấp trên mà trước lương tâm của mình, ý thức về trách nhiệm không phải do cưỡng bức mà có, cốt lõi của việc coi cái gì đó có giá trị là phải dám hy sinh những cái khác, và sẵn sàng chấp nhận hậu quả của những quyết định do mình đưa ra, tất cả những điều đó chính là bản chất của đức hạnh, theo nghĩa đúng nhất của từ này.


Những đức tính tốt như là tự lập, tực lực cánh sinh, sẵn sàng mạo hiểm, sẵn sàng bảo vệ ý kiến của mình dù trái ngược với đa số và tinh thần sẵn sàng hợp tác với tha nhân là những đức tính tối quan trọng của xã hội cá nhân chủ nghĩa thì nay không còn được đánh giá cao và ít được thực hành hơn trước. Chủ nghĩa tập thể không thể thay thế được những đức tính đó và trong khi phá hủy chúng, chủ nghĩa tập thể đã để lại một chân không đạo được được lấp đầy bằng yêu cầu duy nhất là phục tùng và sự cưỡng bức cá nhân phải làm điều mà tập thể quyết định là tốt...


Vì các quy tắc hành xử của cá nhân chính là cội nguồn đức hạnh của các hành động chính trị tập thể, cho nên quả là chuyện lạ nếu tiêu chuẩn đạo đức cá nhân giảm lại đi kèm với sự gia tăng các tiêu chuẩn của hành động xã hội. Những thay đổi to lớn trong lĩnh vực này là rất rõ ràng. Dĩ nhiên các thế hệ sau sẽ coi một số giá trị là cao hơn, một số thấp hơn so với các thế hệ đi trước. Nhưng xin hãy tự hỏi : những mục tiêu nào đang bị coi là thấp và giá trị nào có thể phải hy sinh nếu chúng xung đột với các giá trị khác ? Trong các họa phẩm vẽ về tương lai mà các văn sĩ và diễn giả đưa ra cho chúng ta thì những giá trị nào có vị trí mờ nhạt hơn so với những bức tranh từng hiện diện trong những giấc mơ và niềm hy vọng của cha ông chúng ta ?


Chắc chắn là tiện nghi vật chất, nâng cao mức sống và bảo đảm một vị trí xã hội nhất định không thể chiếm các vị trí thấp trên thang giá trị của chúng ta. Liệu có văn sĩ hay diễn giả nào dám đề nghị quần chúng nhân danh những lý tưởng cao cả mà chấp nhận hy sinh các triển vọng vật chất của họ hay không ? Có phải trên thực tế mọi việc đang diễn ra hoàn toàn ngược lại hay không ? Chẳng phải là càng ngày chúng ta càng được dạy rằng tất cả các giá trị đạo đức như tự do và độc lập, sự thật và tính trung thực tri thức, hòa bình và dân chủ và sự tôn trọng cá nhân như là một con người chứ không phải là thành viên của một tổ chức, đều là “những ngộ nhận của thế kỷ IX” hay sao ?


Những giá trị nào được coi là trụ cột không thể xâm phạm, không một nhà cải cách nào dám động vào vì chúng được coi là những giá trị thiêng liêng trong bất cứ kế hoạch nào cho tương lai ? Đấy không còn là quyền tự do cá nhân, không phải là quyền tự do đi lại và cũng không phải là quyền tự do ngôn luận nữa. Đấy là đặc quyền đặc lợi của nhóm người này hay nhóm người kia, đấy là “quyền” không cung cấp cho những đồng bào của họ những thứ mà những người kia cần. Việc phân biệt đối xử với những thành viên và không phải thành viên của các nhóm khép kín, đấy là chưa nói tới những kiều dân thuộc các quốc gia khác, càng ngày càng được coi là vấn đề đương nhiên. Những bất công do chính phủ gây ra cho các cá nhân khi nó hành động nhằm bảo vệ quyền lợi của một nhóm nào đó bị người ta lờ đi với thái độ bàng quang có thể sánh ngang với sự tàn nhẫn. Những vụ vi phạm trắng trợn quyền cơ bản của con người, thí dụ như ép buộc di dân hàng loạt được ngay cả những người tự nhận là theo trường phái tự do ủng hộ.


Tất cả những điều này chứng tỏ rằng ý thức đạo đức của chúng ta đã cùn mòn đi chứ không phải là sắc bén thêm. Khi chúng ta được nhắc nhở một cách thường xuyên rằng muốn có món trứng rán thì phải đập trứng, nhưng trứng ở đây lại thường là những giá trị mà mới cách đây một hai thế hệ vẫn được coi là cơ sở thiết yếu của đời sống văn minh. Có tội ác nào của chính quyền mà những người gọi là “tự do” của chúng ta khi đã tỏ ra cảm tình với nguyên lý của nó, không sẵn sàng tha thứ ?

...

Có một khía cạnh trong sự biến dịch các giá trị đạo đức, mà sự lấn tới của chủ nghĩa tập thể đã gây ra, rất đáng được suy ngẫm vào lúc này. Đấy là những đức tính càng ngày càng ít được coi trọng và vì vậy càng ngày càng trở thành hiếm hoi hơn, nhưng trước đây các đức tính này từng là niềm tự hào của người Anglo-Saxon và họ cũng được mọi người thừa nhận là xuất sắc về mặt đó. Những đức tính mà các dân tộc này sở hữu là tính độc lập và tự lực cánh sinh, sáng kiến cá nhân và trách nhiệm khu vực, biết dựa vào các hoạt động tình nguyện, không can thiệp vào công việc của tha nhân và khoan dung với những người khác mình cũng như những người kỳ quặc, tôn trọng tập quán và truyền thống, có thái độ nghi ngờ lành mạnh đối với chính quyền và nhà chức trách. Gần như tất cả các truyền thống và thiết chế, trong đó tinh thần đạo đức dân chủ được thể hiện một cách đặc trưng nhất và đến lượt nó, lại hun đúc nên tinh thần dân tộc và toàn bộ bầu không khí đạo đức của nước Anh và nước Mỹ lại đang bị chủ nghĩa tập thể và các xu hướng tập quyền gắn liền với nó phá hủy...


HAYEK (trích chương XIV Đường về nô lệ)


Bài liên quan :

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (1)

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (2)

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (3)

Nhà nước vú em

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (4)

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (5)

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2009

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (5)

(tiếp theo)

"Công bằng xã hội" : sứ mệnh hay sự giả dối ?

Trong toàn bộ tư tưởng triết học và kinh tế của mình, Hayek không bao giờ đề xuất xây dựng các thiết chế quản lý xã hội, không đề xuất giải pháp “nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế” hay những chuyện đại loại như vậy. Giải pháp của ông đơn giản là : giảm thiểu, loại bỏ sự can thiệp của Nhà nước. Nhà nước càng tránh xa catallaxie (trật tự tự phát) bao nhiêu tốt bấy nhiêu, dù trong bất kỳ tình huống nào.

Nếu đem những tư tưởng của Hayek ra “phản biện”, lấy số đông đè số ít như cách thức thời thượng hiện nay thì ông thua là cái chắc.

Câu chuyện tiến sĩ Ludwig Erhard “lén lút” xóa bỏ những quy định kiểm soát giá cả làm hồi sinh nước Đức (đề cập ở phần trước) trở thành một “điểm nhấn” của lịch sử. Vừa mới nhận nhiệm vụ, Erhard đã nhìn thấy một chỗ sơ hở và lợi dụng nó ngay. Theo “quân pháp”, bất cứ sự thay đổi quy định nào cũng phải được sự phê duyệt của quân Đồng minh, đứng đầu là tướng Mỹ Lucius Clay, nhưng cũng không có sự “chế tài” nào nếu những quy định đó đã bị xóa bỏ trong thực tế. Sau đây là một đoạn đối thoại nổi tiếng giữa tướng Clay và Erhard. Tướng Clay bực dọc : “Ông Erhard, các cố vấn của tôi đã nói với tôi rằng điều mà ông đang làm là một sai lầm tệ hại”. Erhard : “Thưa tướng quân, mặc kệ nó. Các cố vấn của tôi cũng nói như vậy”. Câu chuyện này do Erhard kể lại với Hayek. Hayek đánh giá rất cao Erhard, ông cho rằng thành tựu đó “gần như của chỉ một người”, là Erhard. Ông bình luận : “Hẳn không bao giờ có thể đạt được những gì mà ông (Erhard) đã làm nếu phải chịu những ràng buộc quan liêu hay dân chủ. Một khoảnh khắc may mắn khi một con người thích hợp ở vào một địa vị thích hợp được tự do làm những gì mà anh ta coi là đúng, cho dù anh ta có thể chưa bao giờ từng thuyết phục được bất kỳ ai khác rằng điều đó là đúng”.

Cũng bắt đầu từ việc tháo bỏ rào cản thị trường trong nông nghiệp, mới chỉ cho phép người nông dân được mua bán một phần sản phẩm do họ làm ra thôi, đã là một cú hích vĩ đại để Đặng Tiểu Bình làm thay đổi nước Trung Hoa…

Cũng từ việc “khoán chui” của ông Kim Ngọc và hiệu quả của việc lén lút xóa bỏ ngăn sông cấm chợ, dù thị trường chỉ được khai thông một chút xíu thôi, cũng đủ làm Việt Nam thức tỉnh để bước vào Đổi Mới. Cần biết rằng, vào thế kỷ 16, nhà Mạc ở nước ta đã xóa bỏ ngăn sông cấm chợ, nhưng đầu những năm 80 của thế kỷ 20 tình trạng ngăn sông cấm chợ lại nặng nề đến mức chính ông Võ Văn Kiệt khi “bật đèn xanh” cho bà Ba Thi “xé rào” mua gạo từ đồng bằng sông Cửu Long về cho dân thành phố đang thiếu lương thực đã thốt lên một câu nổi tiếng “Nếu chị ở tù, tôi sẽ đem cơm”.

Lịch sử cho thấy : sự thịnh vượng gắn liền với sự giải thể của chủ nghĩa can thiệp, mức độ thịnh vượng tỉ lệ thuận với khoảng cách tránh xa của Nhà nước đối với thị trường. Chưa bao giờ xảy ra điều ngược lại.

Nhưng Hayek không phải là người tự do vô chính phủ. Theo ông, nhiệm vụ của Nhà nước chung quy lại có mấy việc : Tạo khuôn khổ pháp lý để đảm bảo cho catallaxie vận hành theo trật tự của chính nó (đương nhiên bản thân Nhà nước cũng phải hoạt động trong khuôn khổ pháp lý đó). Nhà nước có quyền cưỡng bức để không ai xâm phạm tự do của người khác. Đó là độc quyền hợp lý duy nhất của Nhà nước và quyền này càng ít sử dụng càng tốt, vì chỉ riêng việc Nhà nước có quyền này cũng đủ để răn đe những kẻ muốn ức hiếp người khác rồi. Dĩ nhiên, Nhà nước còn có nhiệm vụ phòng chống kẻ thù bên ngoài và bảo vệ môi trường sống. Để đảm trách những việc người dân không thể làm được đó, Nhà nước phải thu thuế, thu thuế trong chừng mực đủ để đảm trách những công việc hợp lý này.

Nhà nước cũng có nhiệm vụ cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ công cộng, mà do sự đặc thù của chúng trong những hoàn cảnh nhất định, các lực lượng thị trường không làm được. Tuy nhiên, ngay cả việc cung cấp những dịch vụ đó cũng phải được tiến hành theo một phương thức cạnh tranh : nghĩa là đến khi nào các lực lượng thị trường có thể làm được dịch vụ nào thì Nhà nước phải “rút lui” đối với những dịch vụ đó và trong lúc Nhà nước và thị trường vẫn còn “cùng làm” một dịch vụ thì dứt khoát các dịch vụ đó phải mang tính cạnh tranh.

Nhiều người đã phê phán rằng Hayek muốn bỏ mặc cho “cá lớn nuốt cá bé” khi ông thẳng tay vạch trần sự giả dối của những tuyên bố “công bằng xã hội” – những tuyên bố dẫn đến việc thiết lập các chính sách “an sinh xã hội” và điều tiết thu nhập của Nhà nước “vú em”.

Người giàu, trong phạm vi catallaxie - tức là không phải giàu do dùng các lợi thế chính trị hoặc quyền lực để tước đoạt, chèn ép người khác - thường là những người sáng tạo, những người có ý tưởng và biết khai thác tốt nhất các nguồn lực để làm ra nhiều của cải. Chính họ tạo ra thịnh vượng và thúc đẩy nền văn minh. Tước một phần thu nhập của họ để chia cho người khác vốn đã không công bằng, huống hồ chính sách điều tiết thu nhập thực chất là tước đoạt của người giàu nhưng phần lớn của cải “tước đoạt” được lại không nhằm để giúp đỡ những người bất hạnh nhất. Hayek phản đối điều đó và đề nghị Nhà nước có trách nhiệm đối với những người khốn khó bằng cách thiết lập một mức thu nhập tối thiểu để đảm bảo cuộc sống cho những người tàn tật, những người bất hạnh không có sức lao động và không nơi nương tựa. Đó mới là sự phòng vệ hoàn toàn chính đáng.

Hệ thống phúc lợi đồ sộ và khó hiểu của các nhà nước hiện đại từ lâu đã vượt quá và đi chệch khỏi chức năng bảo vệ người yếu thế. Nó chủ yếu nhằm đáp ứng yêu sách của tầng lớp trung lưu vốn đố kỵ với những người thành đạt nhưng lại mong muốn một cuộc sống khá giả hơn những gì mà tầng lớp này tạo ra. Hơn ai hết, chính tầng lớp này là tác giả của các yêu sách “công bằng xã hội”. Điều nguy hiểm là, cũng chính họ là tầng lớp điều khiển nền dân chủ. Bởi vậy mà theo Hayek, dân chủ chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để bảo đảm cho một xã hội tự do, vì dân chủ cũng có thể xâm phạm đến tự do.

Chỉ riêng việc nhân danh “công bằng xã hội” thôi, bộ máy của một Nhà nước đã có lý do phình to ra rồi. Tiền thuế đáng lý ra chỉ dùng để đảm trách những công việc hợp lý “dân không làm được” như đã nói, Nhà nước lại tự gán cho mình vô số những sứ mệnh “công bằng xã hội”, kéo theo là một bộ máy thực thi những sứ mệnh đó. Lại phải cần thêm tiền để nuôi bộ máy luôn có khuynh hướng phình to ra này. Ngân sách gia tăng, chi tiêu vô tội vạ...

(còn tiếp)

Thứ Ba, 21 tháng 4, 2009

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (4)

(tiếp theo)


Thế kỷ 20 là thế kỷ bùng nhùng giữa rối ren chết chóc và sự thịnh vượng. Nhân loại vẫn chưa biết chắc những gì là phù du cần gác lại phía sau và những gì cần làm hành trang đi tới.


Nếu không bị những thiên kiến làm mờ mắt, người ta vẫn cảm nhận được “bàn tay vô hình” của Adam Smith luồn lách trong mớ bòng bong rối rắm của lịch sử. Dưới góc độ nào cũng có thể thấy, chỉ có laissez-faire mới làm nên thịnh vượng.


Sau Đại chiến 2, học thuyết Keynes chính thức được áp dụng tại Hoa Kỳ và Anh Quốc. Tại Anh, Công Đảng cầm quyền đưa Clement Attlee lên làm Thủ tướng, thực hiện “kế hoạch hóa” nền kinh tế, quốc hữu hóa hầu hết những ngành kinh tế then chốt. Những “Tổng Công ty Nhà nước” lớn ra đời, nói theo ngôn ngữ của chúng ta ngày nay thì nó cũng “đóng vai trò chủ đạo” trong nền kinh tế. Những tập đoàn quốc doanh này không những chỉ có Than, Điện lực, Luyện kim, Dầu khí, Viễn thông… mà còn có cả các ngành phục vụ công cộng, chẳng hạn như hãng BBC (vẫn là hãng quốc doanh cho đến bây giờ). Thất nghiệp chấm dứt (cuối những năm 1940 chỉ còn 1,3% so với 12% những năm 1930), y tế, giáo dục, hưu trí… được Nhà nước bảo đảm. Trong những năm khó khăn, lương thực và hàng tiêu dùng thiết yếu thực hiện theo chế độ phân phối, ngay cả hoàng gia Anh cũng có “sổ gạo” cho đến đầu những năm 1950. “Nhà nước phúc lợi” đầu tiên ra đời ở Anh sau đó được áp dụng phổ biến ở châu Âu.


Sau chiến tranh, trong các nước đồng minh, Mỹ là nước ít bị thiệt hại nhất, nền kinh tế lại được chiến tranh tiếp sức, nên trở thành cường quốc hùng mạnh, trong khi châu Âu bị chìm trong đống tro tàn đổ nát. Như đã đề cập, New Deal của tổng thống F.D. Roosevelt dù để lại hậu quả nặng nề sau này, nhưng một mặt nền kinh tế Mỹ được lợi lớn từ công nghiệp phục vụ chiến tranh, mặt khác – và đây là điều quan trọng hơn, là những tư tưởng về tự do kinh doanh được các nhà lập quốc đưa thành nền tảng trong Hiến pháp, nên dù bị New Deal kìm hãm, tinh thần laissez-faire vẫn không bị phế bỏ và đây là yếu tố chủ yếu khiến cho nền kinh tế Mỹ có khả năng tự điều chỉnh. Không phải ngẫu nhiên mà Tối cao pháp viện Mỹ đã bác bỏ hàng loạt các định chế của F.D. Roosevelt và không phải ngẫu nhiên mà F.D. Roosevelt đã tìm cách mở rộng cơ quan tư pháp này nhằm đưa “người của mình” vào đó, nhưng nỗ lực của ông bị thất bại. Chính tinh thần laissez-faire bất khả xâm phạm trong Hiến pháp Mỹ đã giúp nước Mỹ không bị “liệt kháng”.


Một kế hoạch tái thiết đồ sộ nhất trong lịch sử được triển khai tại châu Âu – kế hoạch Marshall, với tổng giá trị lên tới 17 tỷ USD (một số tiền rất lớn lúc bấy giờ), do Mỹ tài trợ. Các sử gia đã và đang tranh cãi về hiệu quả, tác động cũng như “mặt phải mặt trái” của kế hoạch Marshall. Dưới góc độ kinh tế, nhờ khoản tiền viện trợ khổng lồ này mà châu Âu có điều kiện nhanh chóng phục hồi nền kinh tế. Nhưng sự thật thì, như Alan Greenspan viết : “Kế hoạch Marshall đã giúp châu Âu, nhưng chỉ đóng góp một phần nhỏ vào sự phục hồi kinh tế mạnh mẽ thời hậu chiến. Tôi coi chính sách tự do hóa thị trường hàng hóa và tài chính Tây Đức do Ludwig Erhard đưa ra năm 1948 là đóng vai trò quan trọng hơn rất nhiều trong việc thúc đẩy khôi phục kinh tế thời hậu chiến của Tây Đức. Tất nhiên là Tây Đức đã trở thành một cường quốc kinh tế nổi bật ở khu vực”.


Ludwig Erhard (Thủ tướng Cộng hòa liên bang Đức từ 1963-1966) cũng là một nhân vật kỳ lạ. Xuất thân là một nhân viên bán vải trong cửa hàng của gia đình, có bằng tiến sĩ kinh tế, rồi làm chuyên viên nghiên cứu tiếp thị. Do bị thương trong Đại chiến 1 nên không tham gia quân đội quốc xã, trong đại chiến 2 ông vẫn làm nghiên cứu thị trường, bị mất việc năm 1942, nhưng ông vẫn tự mình tiếp tục công việc mà ông yêu thích. Sau chiến tranh có thời gian ngắn ông làm Bộ trưởng Kinh tế, sau đó làm chuyên gia kinh tế trong khu vực Mỹ và Anh chiếm đóng. Một cách ngẫu nhiên, khi giám đốc Ủy ban Kinh tế Bizonia (khu vực do Mỹ và Anh chiếm đóng) bị tướng Lucius Clay, tư lệnh quân đội Mỹ chiếm đóng Tây Đức lúc đó, cách chức do ông này "hỗn láo" với người Mỹ, Erhard đã được Clay chọn thay thế. Là người bẩm sinh am hiểu thị trường, Erhard đã khôn khéo qua mặt tướng Clay, trong một đêm đã xóa bỏ hầu hết các quy định về phân phối và kiểm soát giá cả đang kiềm chế nặng nề nền kinh tế vừa thoát khỏi chiến tranh. Sự khôn khéo đó làm cho kinh tế Đức trở nên sinh động bất ngờ, chợ đen biến mất, hàng hóa lưu thông bình thường. Khi CHLB Đức được thành lập năm 1949, Erhard làm Bộ trường kinh tế và sau này làm Thủ tướng. Chính đường hướng thị trường tự do của Erhard, tất nhiên còn bị giới hạn bởi sự áp đặt của lực lượng chiếm đóng, đã đưa nền kinh tế Tây Đức trỗi dậy thần kỳ.


Nhưng các nước khác thì không như vậy. Tiền Mỹ đổ vào châu Âu, kéo theo đó là mô hình kinh tế-xã hội Mỹ-Anh được áp dụng. Học thuyết Keynes trở thành học thuyết kinh tế chính thống của “bên này”, vừa phỏng theo vừa làm đối trọng với “bên kia” là hệ thống kinh tế kế hoạch của Liên Xô. Nhà nước đứng ra điều hành nền kinh tế, lo từng “miếng ăn giấc ngủ” cho dân. Laissez-faire bị phế bỏ.


Nhà nước phúc lợi được ca ngợi, nhưng muốn làm được chức năng mà nó được ca ngợi, tức là để “toàn dụng lao động”, để trợ cấp thất nghiệp, để chăm sóc y tế và các dịch vụ miễn phí cho toàn dân, để bù lỗ cho các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thu lỗ, đồng thời để nuôi một bộ máy khổng lồ đảm trách các chức năng đó, Nhà nước phải có nhiều tiền. Muốn có nhiều tiền, Nhà nước phải đánh thuế cao người giàu (thuế thu nhập lũy tiến), bán tài nguyên và vay mượn. Khi nào “bí” quá thì in thêm tiền. Theo Hayek, chính Keynes đã thể chế hóa lạm phát.


Là kẻ “độc hành trên sa mạc”, Friedrich Hayek tiến hành cuộc thánh chiến chống lại chủ nghĩa can thiệp tất cả mọi loại, từ kinh tế kế hoạch tập trung đến Nhà nước phúc lợi Âu-Mỹ.


Hayek nói những điều mà không chỉ các nhà cầm quyền, các quan chức kinh tế không nghe mà cả giới trí thức và số đông dân chúng cũng không chấp nhận được. Ông cho rằng nền kinh tế là không thể kế hoạch hóa, Nhà nước can thiệp vào kinh tế nhiều bao nhiêu hại bấy nhiêu. Ông đề nghị cởi bỏ các luật lệ ràng buộc, tư nhân hóa nền kinh tế, hủy bỏ việc kiểm soát giá cả, giảm thiểu các chương trình an sinh xã hội, giảm các chương trình trợ cấp thất nghiệp, bãi bỏ các chương trình trợ cấp nhà ở và kiểm soát giá thuê nhà, thu hẹp quyền lực của công đoàn…


Trong khi phần lớn những quan điểm triết học về tự do của Hayek bị bỏ ngoài tai thì những tuyên bố xã hội và kinh tế của ông lại gây shock, nhất là khi ông thách thức nhân loại bằng việc bác bỏ “công bằng xã hội” và thách thức các Nhà nước bằng việc đề nghị tư nhân hóa cả tiền tệ…

(còn tiếp)

______________


Khi tìm hiểu về ông Hayek này tôi có đọc Alan Greenspan. Tôi biết Greenspan, “lão phù thủy” tiền tệ theo trường phái tự do kinh doanh của Mỹ, chịu ảnh hưởng bởi Milton Friedman, song không thấy ông nói nhiều đến Hayek. Nhưng tôi phát hiện ra một điều rất thú vị : một trong hai người ảnh hưởng đến Greenspan nhiều nhất là Ayn Rand, một triết gia kiêm văn sĩ, Greenspan coi Rand là người thầy thực sự của mình mặc dù bà Rand không phải là nhà kinh tế. Lần đầu tiên Việt Nam dịch cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Rand, cuốn The Fountainhead (Suối Nguồn). Đọc cuốn sách tôi thấy quá hứng thú, nên đã viết bài giới thiệu trên Báo Thanh Niên cuối năm 2007 : “Số lượng người” không thể thay cho chân lý.


Bà Rand với ông Hayek không biết có quen biết nhau không, nhưng tư tưởng của họ rất giống nhau.

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2009

Nhà nước vú em


Bổ sung một số hình ảnh khá thú vị cho bài "Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (3)". New Deal của F.D Roosevelt là nền tảng của một "Nhà nước mạnh", từ đây phát triển thành Nhà nước phúc lợi, để sau này người Mỹ còn gọi nó là Nanny State (Nhà nước vú em).

Sự phát triển của "Nhà nước vú em" ở Mỹ trong thế kỷ 20 làm mất dần tự do. Trong hình : thời kỳ Laissez-faire (thị trường tự do) tượng nữ thần tự do còn nguyên vẹn. 18th Amendement (tu chính án thứ 18, thông qua năm 1921 và bãi bỏ năm 1933, tức luật cấm rượu : sản xuất, mua bán, chuyên chở, xuất nhập khẩu rượu đều bị cấm) khiến nữ thần tự do mất cánh tay. New Deal làm bức tượng mất luôn cái đầu. Chính sách Great Society thời tổng thống Johnson làm bức tượng mất luôn hai vai. Nanny State thay tượng nữ thần tự do bằng một bà vú. Quá hay ! Nguồn : karendecoster.com

Sự thật về New Deal : Trước chiến tranh, F.D Roosevelt
chưa bao giờ đưa thất nghiệp xuống dưới 20%. Nguồn : heritage.org.

Một bức tranh sinh động mô tả F.D Roosevelt gia tăng thuế
để giải quyết việc làm. Nguồn : flichr.com

Một hý họa về Nhà nước vú em. Nguồn: cartoonstock.com


Các phương thuốc chống thất nghiệp
và chống khủng hoảng kinh tế của F.D. Roosevelt. Nguồn : wordpress.com

(xem tiếp Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (4) hôm sau)

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2009

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (3)


Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (1)
Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (2)

(tiếp theo)

Từ những phân tích của mình, Hayek cho những biến động chu kỳ trong kinh tế là không thể tránh, cho nên không thể tránh khủng hoảng. Khi khủng hoảng nổ ra, theo Hayek, giải pháp đối phó với khủng hoảng là “không làm gì hết”, tức là không cần can thiệp. Khủng hoảng sẽ cho phép loại trừ các yếu tố mất cân bằng sinh ra trong giai đoạn hưng phấn của nền kinh tế trước đó và chính nó là cơ chế phân bố lại các nguồn lực.

Như đã nói, dù bắt đầu từ bất cứ lý do gì thì, theo Hayek, nguyên nhân khủng hoảng truy cho cùng đều do “mụ phù thủy” tiền tệ.

Bởi vậy mà Hayek trước sau vẫn ủng hộ hệ thống bản vị vàng (hoặc hệ thống tiền tệ tương tự, sẽ nói sau). Hệ thống bản vị vàng chính là cái phanh kìm hãm có hiệu quả việc tùy tiện phát hành tiền tệ. Tuy nhiên, trong và sau Đại chiến I, hàng loạt các nước đã từ bỏ bản vị vàng để dễ dàng phát hành tiền tài trợ cho chiến tranh và bồi thường chiến tranh. Bỏ hệ thống bản vị vàng đồng nghĩa với việc trao quá nhiều quyền cho các nhà chính trị và các ngân hàng trung ương thao túng chính sách tiền tệ. Điều này, theo Hayek, là nguyên nhân sâu xa dẫn đến Đại khủng hoảng.

Đối với Hayek, đối phó với khủng hoảng trước hết là chống chủ nghĩa can thiệp, là rút Nhà nước ra khỏi sự vận hành của thị trường. Muốn vậy, phải đặt vấn đề ở một tầm nhìn dài hạn. Hayek cho rằng sự can thiệp có thể giải quyết vấn đề trong ngắn hạn nhưng sẽ làm cho những vấn đề đó trầm trọng thêm trong tương lai, kể cả vấn đề thất nghiệp.

Ngặt nỗi các chính trị gia lại không nghĩ đến tương lai. Phần lớn trong số họ đều “tư duy theo nhiệm kỳ”. Và chính Keynes cũng từng tuyên bố “trong dài hạn tất cả chúng ta đều chết”.

Keynes cùng những người đồng quan điểm, sau này được gọi chung là keynesian, không thừa nhận “bàn tay vô hình” của Adam Smith. Họ cho rằng thị trường vốn hàm chứa sự bất ổn mà bản thân nó không thể tự điều chỉnh được. Sự bất ổn đó dẫn đến suy sụp đầu tư và giảm tiêu dùng, theo Keynes, đó là nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng. Giải pháp có thể nói ngắn gọn là “kích cầu” (từ ngữ thời thượng bây giờ trên báo chí, có nguồn gốc từ học thuyết của Keynes). Theo Keynes, Nhà nước phải bơm tiền vào nền kinh tế bằng cách tăng đầu tư công (bổ sung cho sự thiếu hụt của đầu tư tư nhân) và mở rộng tín dụng để “toàn dụng lao động”, giải quyết thất nghiệp, nâng sức mua cho dân chúng. Đại để là Keynes xúi nhà nước dùng những khoản tiền lớn mà bản thân nhà nước không có để đem lại ấm no thịnh vượng. Keynes cảnh báo, thị trường tự do với hai khuyết điểm cố hữu : thất nghiệp quá cao và bất bình đẳng lớn trong thu nhập có nguy cơ làm sụp đổ chủ nghĩa tư bản, “lót đường cho cách mạng”.

Dân chúng thì cần việc làm, cần có một cuộc sống được đảm bảo chắc chắn, nhưng trong thời kỳ khủng hoảng thất nghiệp và nghèo đói tràn lan, cuộc sống bất bênh vô định, do đó họ cần đến bàn tay cứu rỗi của Nhà nước. Các chính trị gia đương nhiên phải đáp ứng ngay những nhu cầu đó, nếu không muốn mất quyền hành. Ví dụ điển hình là Thủ tướng Anh Winston Churchill, đã mất chức Thủ tướng ngay trước khi Đại chiến 2 kết thúc, vì Đảng của ông đã không chìa bàn tay cứu rỗi ra cho dân chúng như Công Đảng, mặc dù Churchill là anh hùng cứu nước Anh khỏi họa phát xít, là vĩ nhân của nước Anh và thế giới. Cần biết thêm, năm 1925, Churchill lúc đó là Bộ trưởng Tài chính, đã đưa nước Anh trở lại hệ thống bản vị vàng, sự kiện này đã bị Keynes chỉ trích gay gắt.

Các giải pháp của Keynes đưa ra đúng lúc, đáp ứng được sự mong muốn của các chính trị gia. Học thuyết keynesian được phát triển thành kinh tế học vĩ mô hiện đại với hệ thống các công cụ mô hình hóa, trở thành học thuyết chính thống của hệ thống kinh tế tư bản. Keynes coi nền kinh tế là môt tổng thể có thể đo lường, có thể “kế hoạch hóa” và quản lý được. Những từ ngữ được dùng phổ biến ngày nay như “tái thiết đất nước”, “tăng trưởng kinh tế”, “thu nhập bình quân đầu người”, “tỉ lệ lạm phát”, “tỉ lệ thất nghiệp”, “hệ thống tài khoản quốc gia”, “ổn định kinh tế vĩ mô”… là sáng tạo của Keynes và những người keynesian. Những khái niệm “trợ cấp hưu trí”, “trợ cấp thất nghiệp”, “bảo hiểm y tế”, “an sinh xã hội”, “phúc lợi công cộng”… gắn liền với các loại Nhà nước mạnh hoặc Nhà nước phúc lợi theo mô hình keynesian. Và như đã biết, nó đã thành công đến hơn 30 năm. Đến đoạn cuối của chủ nghĩa can thiệp tại Mỹ, tổng thống Nixon vẫn tuyên bố : “Giờ đây tất cả chúng ta đều là keynesian”.

Vì sao học thuyết của Keynes lại có thể thống trị thế giới tư bản suốt 30 năm (và giờ đây nhiều người đang muốn quay trở lại) ? Đã và đang có rất nhiều tranh cãi về vấn đề này, nhưng nếu nhìn dưới góc độ lịch sử thì có thể thấy : Nó được Đại chiến 2 và “chiến tranh lạnh” tiếp sức.

Hãy nhìn nước Mỹ với “New Deal” (chính sách kinh tế xã hội mới) của tổng thống Franklin D. Roosevelt. Lúc ông mới lên làm tổng thống (1933), nước Mỹ có tới 13 triệu người thất nghiệp (chiếm ¼ lực lượng lao động toàn liên bang). Một chương trình “toàn dụng lao động” để giải quyết thất nghiệp được triển khai khắp nước Mỹ với việc mở ra các dự án khổng lồ tái thiết và phục vụ công cộng. Cơ quan quản lý các công trình công cộng (PWA) và một loạt các cơ quan khác đã ra đời để điều hành các dự án đó.

Về nông nghiệp, năm 1933, Quốc Hội thông qua đạo Luật Điều chỉnh nông nghiệp (AAA) cho phép tăng thu thuế từ các doanh nghiệp chế biến thực phẩm, dùng tiền đó trợ cấp cho nông dân để họ cắt giảm sản lượng nhằm tăng giá nông sản. Luật AAA bị Tối cao pháp viện bãi bỏ năm 1936 vì vi hiến, nhưng đến năm 1938 lại phục hồi do đa số thành viên Tối cao pháp viện ủng hộ New Deal. Cho đến năm 1940, đã có 6 triệu nông dân nhận được trợ cấp của Chính phủ. Một số tiền khổng lồ Nhà nước đã bỏ ra để làm việc đó.

Cũng trong năm 1933, Quốc Hội thông qua đạo luật Phục hồi Công nghiệp quốc gia (NIRA), kéo theo đó là sự ra đời của Cơ quan Phục hồi Quốc gia (NRA) với sự can thiệp “chưa từng có tiền lệ” vào hoạt động kinh tế của doanh nghiệp với tham vọng điều chỉnh sản lượng, thiết lập giá cả, nâng thu nhập và bảo đảm việc làm, quyền của người lao động và vai trò của công đoàn được đề cao. Năm 1935, cơ quan này cũng bị giải thể vì vi hiến. Quốc hội lại tiếp tục thông qua Luật quan hệ Lao động quốc gia và lập ra Ủy Ban Quan hệ lao động quốc gia (NLRB) nhằm mục đích bảo đảm việc làm. Những chính sách này tuy không đem lại kết quả, nhưng Đảng Dân chủ của F.D Roosevelt vẫn có lợi vì nhận được sự ủng hộ về chính trị của tầng lớp lao động.

New Deal giai đoạn đầu không làm chấm dứt suy thoái kinh tế. Một cuộc suy thoái lớn lại diễn ra vào năm 1937-1938.

Lúc này Keynes đã phát hành cuốn sách “Lý thuyết tổng quát” (1936), cuốn sách nền tảng cho học thuyết của mình. Người Mỹ nhanh chóng tiếp thu tư tưởng của Keynes, bắt đầu từ Trường Đại học Harvard, sau đó được quảng bá rộng rãi. Chỉ trong một thời gian hết sức ngắn, chính quyền F.D.Roosevelt chấp nhận học thuyết này và chính sách tài khóa của Keynes bắt đầu đem ra áp dụng ngay từ năm 1938. Như vậy, New Deal thời gian đầu mang màu sắc dân túy, đã biến thành một hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô có lý luận bài bản.

F.D. Roosevelt tiếp tục áp dụng các “biện pháp mạnh”, thường gọi là New Deal lần thứ hai.

Cơ quan Xúc tiến việc làm (WPA) được thành lập để hỗ trợ Chính phủ. Đạo Luật Bảo hiểm xã hội do Quốc hội ban hành năm 1935 được F.D. Roosevelt coi là “nền tảng của New Deal”, cho phép Chính phủ tạo ra một quỹ phúc lợi để trợ cấp cho người thất nghiêp, người nghèo, người tàn tật và bảo hiểm hưu trí. Tiếp đó là một loạt các đạo luật khác : Luật Thuế thu nhập nhằm tăng thuế đối với người giàu, Luật về các Công ty công ích ra đời nhằm thống nhất các công ty Điện lực thành tập các tập đoàn lớn do Nhà nước chỉ huy, Luật Ngân hàng mở rộng quyền của Cục Dự trữ Liên bang can thiệp các ngân hàng tư nhân… Một tổ hợp Nhà nước khổng lồ đầy tham vọng và chưa có tiền lệ được lập ra để thực hiện chương trình “Điện khí hóa nông thôn”. Một loạt các Ủy ban Nhà nước ra đời để quản lý các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế : Ngoài Ủy ban chứng khoán và ngoại hối, Ủy ban Quan hệ lao động quốc gia, còn có : Ủy ban Hàng không dân dụng, Ủy ban Năng lượng, Ủy ban Truyền thông…

Hằng hà sa số những quy định kinh tế ban hành từ thời đó biến thành các thủ tục vô cùng rườm rà phức tạp ăn sâu vào hệ thống quản lý, thành những “cơ chế” cứng nhắc trong nền kinh tế Mỹ, để lại những di chứng lâu dài. Một ví dụ là ngành Hàng không. Cưu Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Alan Greenspan dẫn lại lời của nhà kinh tế Afred Kahn, người lãnh đạo ngành hàng không thời kỳ Carter phát biểu trước Quốc hội năm 1978, tức 40 năm sau khi Ủy ban Hàng không dân dụng (CAB) được thành lập, về “hàng ngàn những quy định tầm thường” của nó như sau : “Liệu một hãng hàng không có thể sử dụng máy bay năm mươi chỗ ngồi ? Liệu một hãng vận tải phụ có được chở ngựa từ Florida đến một nơi nào đó ở Đông Bắc ? Liệu chúng ta có được để một máy bay theo lịch đón các khách thê bao chuyến và dành cho họ chỗ ngồi mà nếu không cũng bị bỏ trống, theo mức giá thuê bao ?... Liệu một hãng vận tải đưa ra giá vé đặc biệt cho những người trươt tuyết có thể trả lại tiền vé cho họ nếu trời không có tuyết ? Liệu những nhân viên của hai hãng hàng không không liên kết về mặt tài chính có thể mặc đồng phục giống nhau ? … Đây có phải là những băn khoăn tôi tự hỏi mình hàng ngày : Hành động này có cần thiết hay không ? Liệu mẹ tôi nuôi dạy tôi có phải để làm những việc đó ?”. Nhưng bãi bỏ những quy định tồn tại 40 năm này không phải dễ. Theo đề nghị của thượng nghị sĩ Edward Kenedy, một cuộc điều tra về các quy định trong ngành hàng không (và các ngành khác) nhằm cải cách nó, tiếp đó là “một cuộc chiến” diễn ra để xóa những quy định này được tiến hành từ thời tổng thống Ford, nhưng phải kéo dài đến tháng 10-1978, dưới thời Carter, việc xóa bỏ các quy định này mới được luật hóa, và mãi đến năm 1985 CAB mới rút khỏi hoạt động kinh doanh.

Trở lại New Deal của tổng thống F.D. Roosevelt. Nếu không có Đại chiến 2, chính sách này có thành công không ? Có rất nhiều đánh giá khác nhau. Nhưng thực tế thì đến trước chiến tranh, kinh tế Mỹ vẫn không thoát khỏi suy thoái. Tỉ lệ thất nghiệp vẫn trên 20% vào năm 1938. Nói chung suốt 2 giai đoạn của New Deal trước chiến tranh, F.D. Roosevelt chưa bao giờ đưa mức thất nghiệp xuống dưới 20%. Đại chiến 2 đã đẩy 17 triệu thanh niên Mỹ vào quân đội, nền kinh tế chuyển sang thời chiến. Lao động lúc đó mới được “toàn dụng”. Đến năm 1942, tỉ lệ thất nghiệp chỉ còn 2%. Nước Mỹ thoát khỏi khủng hoảng kinh tế. Keynes hí hửng cho rằng có thể chuyển mô hình kinh tế thành công trong thời chiến sang thời bình…

(còn tiếp)

Tham khảo và trích dẫn :
+ Khái quát về lịch sử nước Mỹ - website của ĐSQ Hoa Kỳ tại Việt Nam.
+ Chủ nghĩa tự do của Hayek (sđd).
+ Friedrich Hayek : cuộc đời và sự nghiệp (sđd).
+ Alan Greenspan : Kỷ nguyên hỗn loạn (sđd).
+ Tư tưởng kinh tế kể từ Keynes (sđd).
+ The commanding Heights : The Batte for the World Economy (bản tiếng Việt : Những đỉnh cao chỉ huy, NXB Tri thức, Hà nội 2008).
+ willisms.com, wikipedia...

Thứ Hai, 6 tháng 4, 2009

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (2)

(tiếp theo)

Friedrich Hayek. Ảnh từ Wikipedia

Các học thuyết kinh tế một thế kỷ qua cung cấp cho thiên hạ những tri thức nhiều tầng nhiều nhánh chồng chéo nhau như một mê hồn trận. Mỗi kinh tế gia, giống như một chưởng môn trong truyện Kim Dung, đều có một học thuyết, đều cho học thuyết của mình là chân lý và đều muốn xưng bá võ lâm.


Có lẽ Hayek là cao thủ duy nhất không có “cơ tâm” xưng bá trong kinh tế học, mặc dù sở học của ông đạt đến cảnh giới thượng thừa. Ông là một hiện tượng kỳ lạ. Người ta bảo việc trao giải Nobel kinh tế cho Hayek là một sự kiện hy hữu. Nhưng hy hữu hơn là thái độ của ông đối với giải thưởng danh giá đầy uy lực này. Trong diễn từ khi nhận giải Nobel kinh tế, ông bảo rằng nếu có ai hỏi ý kiến ông khi lập ra giải này thì ông sẽ khuyên là “Không nên”.

“Giải Nobel kinh tế”, không phải được trao theo di chúc của Alfed Nobel mà mới được lập ra sau này (1969) do Ngân hàng hoàng gia Thụy Điển chủ xướng với tên gọi chính xác “Nobel Memorial Prize in Economics” (Giải thưởng khoa học kinh tế tưởng nhớ Nobel). Hầu hết những người nhận giải thưởng này đều hài lòng với sự trọng vọng mà thiên hạ dành cho mình như một đỉnh cao trí tuệ. Nhưng Hayek thì khác, ông bảo sự trọng vọng này sẽ “tạo ra một uy quyền trong kinh tế học mà không ai có quyền có được”. Theo ông : “Không có lý do nào để một người có cống hiến quan trọng trong kinh tế học lại có thẩm quyền toàn diện trên tất cả các vấn đề của xã hội – điều mà báo chí có xu hướng nhận định và cuối cùng tự huyển hoặc mình” (trích từ Chủ nghĩa tự do của Hayek – sách đã dẫn).

Gần suốt cuộc đời mình, Hayek bị đẩy ra bên lề của kinh tế học. Ông không nằm trong dòng chảy chính thống và ông cũng không hề có ý định trở thành chính thống.

Hayek không coi kinh tế học là một khoa học như các khoa học tự nhiên. Ông phản đối kinh tế học vĩ mô, vì ở đó ngự trị chủ nghĩa duy khoa học. Đối tượng của kinh tế học, theo ông, là con người có tự do và ý chí “mà hành vi thì không tiên đoán được”. Đó là hành vi của hàng triệu cá thể khác nhau, không thể dùng toán học dể định lượng, không thể mô hình hóa bằng các phương pháp của khoa học tự nhiên. Phân tích kinh tế phức tạp hơn rất nhiều so với nghiên cứu vật lý học. Ông cho rằng, trái với vật lý học, trong kinh tế học “các khía cạnh của những biến cố được nghiên cứu mà chúng ta có thể thu thập được dữ liệu định lượng tất yếu là giới hạn và có nhiều khả năng không phải là khía cạnh quan trọng nhất”.

Từ quan điểm triết học của mình, nhất là quan niệm về “trật tự tri giác” và “phương pháp luận cá thể”, Hayek tiếp cận những vấn đề kinh tế theo một cách khác.

Theo Hayek, “trật tự thị trường”, mà ông gọi là catallaxie, là trật tự sinh ra bởi sự điều chỉnh lẫn nhau của hàng triệu cá thể kinh tế, những cá thể này vốn rất khác nhau và phân tán trong xã hội. Không người nào hoặc nhóm người nào, dù tài giỏi đến đâu, có thể nắm bắt được những khối lượng thông tin khổng lồ và rất khác nhau tương tác qua lại giữa hàng triệu cá thể. Bởi vậy thị trường là không thể can thiệp được. Hayek kế thừa lý luận “bàn tay vô hình” của Adam Smith, nhưng ông đi xa hơn và triệt để hơn Adam Smith. Adam Smith cho rằng trật tự tự phát của thị trường được điều khiển bằng một “bàn tay vô hình” để cuối cùng đem lại cho cộng đồng một cuộc sống thịnh vượng sung túc, nên ông chấp nhận một ngoại lệ : khi nào mục đích của cá nhân đi trệch ra ngoài lợi ích chung thì Nhà nước cần can thiệp điều tiết, vì vậy thuyết “bàn tay vô hình” vẫn thuộc kinh tế vĩ mô. Nhưng Hayek thì chối từ luôn ngoại lệ đó cũng như ông không chấp nhận kinh tế vĩ mô. Mọi ý định can thiệp vào thị trường, dù xấu hay tốt, đều đem lại hậu quả tồi.

Chủ nghĩa tự do kinh tế của Adam Smith với ẩn dụ nổi tiếng về “bàn tay vô hình” một thời là tư tưởng chủ đạo tạo nên sự phồn thịnh cho nước Anh và châu Âu thế kỷ 19. Theo lý thuyết (của kinh tế học cổ điển), do tính trung lập của tiền tệ nên tổng cung tạo ra chính cầu của nó, do đó nền kinh tế thị trường tự do không thể xảy ra khủng hoảng thừa và thất nghiệp. Nhưng thực tế không phải như vậy.

Giữa mê cung của các lý thuyết kinh tế, Hayek có cái nhìn trong suốt nhất quán về thị trường. Ngay từ những năm 20 của thế kỷ trước, những công trình nghiên cứu đầu tiên của ông, nhất là tác phẩm “Monetary Theory and the Trade Cycle” (Lý thuyết tiền tệ và chu kỳ kinh doanh) như một phát súng nổ vào kinh tế học.

Cũng theo lý thuyết, trạng thái cân bằng của nền kinh tế được đặc trưng bởi việc toàn dụng các nguồn lực và bằng tính linh hoạt hoàn hảo của giá cả. Ở đó tỉ số giữa sản xuất sản phẩm tiêu dùng và sản phẩm đầu tư tương ứng với tỉ số chi tiêu tiêu dùng và mức tiết kiệm do sở thích liên thời gian của các tác nhân quyết định. Lãi suất là một giá thực tế cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư, và do đó bảo đảm cân bằng liên thời gian trong nền kinh tế. Các đại lượng thực tế đặc trưng cho nền kinh tế cũng giống với các đại lượng trong tình thế hàng đổi hàng.

Nhưng theo Hayek, một “thiên đường” như vậy không bao giờ có trong thực tế. Có vô số những nguyên nhân khởi động sự mất cân bằng và luôn luôn có một “mụ phù thủy” đứng ra đối phó. “Mụ phù thủy” chính là tiền tệ. Điều khiển tiền tệ là các chủ ngân hàng và vì nó là sản phẩm “quốc doanh” nên do các nhà chính trị thao túng. Do không bao giờ có thể hiểu được thị trường nên chính sách tiền tệ luôn có xu hướng “bẩm sinh” là bơm tín dụng vào nền kinh tế vượt quá mức cần thiết để duy trì cân bằng. Xu hướng “bẩm sinh” này xuất phát từ mục đích chính trị, từ lòng tham và thiên kiến.

Chính sự gia tăng cung tiền này khiến cho lãi suất tiền tệ xuống dưới mức lãi suất tự nhiên, điều này kéo dài quá trình sản xuất và gây ra mất cân bằng giữa đầu tư và tiết kiệm mong muốn. Sự sụt giảm của lãi suất làm cho việc sản xuất các sản phẩm đầu tư trở nên có lợi hơn là sản xuất các sản phẩm tiêu dùng, kéo theo nguồn lực được chuyển dịch từ khu vực sản xuất sản phẩm tiêu dùng sang các sản phẩm đầu tư khiến cho giá sản phẩm tiêu dùng tăng. Giá tiêu dùng tăng làm giảm tiêu dùng thực tế của cộng đồng, được gọi là “tiết kiệm bắt buộc”, “tiết kiệm bắt buộc” này tài trợ cho đầu tư quá mức. Lúc này tình thế đảo ngược : quá trình sản xuất rút ngắn lại. Hậu quả là thất nghiệp gia tăng. Và khủng hoảng nổ ra khi nguồn tín dụng cạn, vì các ngân hàng không thể cho vay vô tận.

Hayek cho rằng cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 là “do đầu tư quá mức xuất phát từ một chính sách tiền tệ dễ dãi, dựa trên ảo tưởng kích thích nền kinh tế bằng lạm phát”. Cách giải thích của Hayek hoàn toàn trái ngược với cách giải thích của Keynes. Keynes cho rằng cuộc khủng hoảng là do thiếu đầu tư gây nên. Hai cách giải thích trái ngược kéo theo hai giải pháp trái ngược hoàn toàn. Một cuộc “thánh chiến” kéo dài mấy thập kỷ mà phần thắng thuộc về Keynes, không phải vì Hayek sai mà bởi do ông là một trí thức trung thực không xu thời (và giờ đây, ông lại sắp thua một lần nữa).

Trong buổi lễ trao giải Nobel kinh tế cho Hayek năm 1974, Viện Khoa học hoàng gia Thụy Điển nhận xét :

“Những tác phẩm nghiên cứu của ông gồm sách và báo trong những năm 1920 đến 1930 khởi xướng một thảo luận vô cùng sống động. Cụ thể là giả thuyết của ông về chu kì kinh doanh và ảnh hưởng của chính sách tín dụng và tiền tệ đang được khuấy lên. Ông đã cố gắng nhìn thấu sâu hơn vào các mối tương quan phụ thuộc có chu kì so với thường lệ trong thời gian đó bằng cách xem xét các giả thuyết tư bản và cơ cấu trong phân tích. Một phần có lẽ vì phân tích chu kì kinh doanh sâu sắc này, giáo sư Hayek là một trong số ít các nhà kinh tế có thể đoán biết trước nguy cơ của một cuộc khủng hoảng kinh tế lớn trong những năm 1920, sự cảnh báo của giáo sư thực tế đã được đưa ra kịp thời trước khi vụ sụp đổ lớn đó xuất hiện giữa mùa thu năm 1929” (trích từ economy.com.vn).

Trong các bộ tiểu thuyết của Kim Dung, tôi thích nhất Hiệp Khách Hành. Đó là câu chuyện về 24 câu thơ trong bài Hiệp Khách Hành của Lý Bạch được khắc trên vách của 24 gian thạch thất trên một hòn đảo giữa biển khơi với các sơ đồ và những lời chú giải trừu tượng đa nghĩa, ở đó ẩn chứa những bí quyết võ công thượng thừa. Hàng năm chúa đảo phát thiệp mời các cao thủ đứng đầu các môn phái lên đảo “ăn cháo Lạp Bát”. Tất cả những người được mời lên đảo không một ai trở lại nên thiên hạ cho rằng ai lên đó tất cả đều phải chết. Thực ra không ai chết cả, họ không về là họ bị hút vào những sơ đồ trên 24 bức vách. Ai cũng đem hết sở học bình sinh của mình để nghiên cứu các sơ đồ và lời chú giải, những mong tìm ra bí quyết võ công để trở thành thiên hạ vô đích. Nhiều người ở đó lì trên đó suốt 30 năm, trong đó có cả phương trượng chùa Thiếu Lâm danh bất hư truyền, nhưng không ai phát hiện ra thứ gì cả. Cuối cùng, chỉ có Thạch Phá Thiên, một chàng thanh niên không biết chữ do ngẫu nhiên bất đắc dĩ phải làm chưởng môn một phái, lên đảo và nhìn ngay ra các bí quyết võ công. Các cao thủ không nhìn ra vì họ bị cơ tâm chi phối, họ lại bị những lý thuyết in sâu trong đầu óc thành định kiến và nhìn sự vật thông qua lăng kính của những định kiến đó. Còn Thạch Phá Thiên thì trong lòng không có cơ tâm, trong đầu không có định kiến.

Thỉnh thoảng tôi nghĩ đến câu chuyện này và khi tìm hiểu về Hayek tôi lại có chút liên tưởng. Hayek là một triết gia, dĩ nhiên ông không phải là “không biết chữ” như Thạch Phá Thiên, nhưng chắc chắn ông là người không có “cơ tâm”.

(còn tiếp)