Hiển thị các bài đăng có nhãn Rừng vẫn chưa xanh lá. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Rừng vẫn chưa xanh lá. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, ngày 19 tháng 2 năm 2012

Không nên ăn thịt thú rừng, vì sao ? (2)

Khác với gia súc gia cầm, thú rừng sống trong môi trường khác với môi trường sống của con người, ăn không ít những thực vật và độc vật độc hại với cơ thể con người, do đó thịt của chúng ăn vào có thể sinh nhiều bệnh rất khó chữa.

Mắc nhiều bệnh khó chữa

Ăn thịt thú rừng và sử dụng các bộ phận của thú rừng tốt cho sức khỏe ở đâu thì chưa ai thấy rõ, nhưng tác hại của nó đối với cơ thể con người là điều chắc chắn. Các bậc chân y thời xưa đã chỉ rõ điều đó sau một quá trình lâu dài theo dõi, khảo nghiệm và đúc kết.

Sách “Nguyễn Phúc tộc dược minh y kính” chỉ rõ rằng, chỉ có thịt của những con vật được con người thuần dưỡng lâu đời ăn vào mới tốt cho cơ thể, vì chúng sống trong môi trường sống của con người, ăn những thứ quen thuộc với con người. Còn thú rừng thì sống trong môi trường có nhiều dị biệt, chúng ăn những giống thực vật và động vật mà con người không biết, trong đó có không ít những cây lá hoa củ và côn trùng độc, dị ứng với trạng thái sinh học của cơ thể con người.

Chẳng hạn, heo rừng và nhím thường ăn nấm độc. Cơ thể của chúng thích nghi với các chất độc đó, nhưng thịt của chúng người ăn vào sẽ sinh chứng thần kinh bất ổn, ăn thường xuyên có thể bị rối loạn hành vi hoặc trở nên hung hãn.

Nai, hoẵng… ăn nhiều thứ lá độc, nên người ăn nhiều thịt nai thịt hoẵng có thể sinh chứng “lãng lãng lơ lơ” như người mất trí.

Hổ, báo, beo, trăn, rắn … có vô số những bọ, ve, rận ngoài da và các ký sinh lạ trong cơ thể, trong đó có những loài ký sinh rất bé mắt thường không nhìn thấy, những ký sinh này tiết ra nhiều độc tố trong thịt và sống được trong nhiệt độ rất cao, nên thịt của những con này người ăn vào sẽ bị tổn hại mạch máu, bị các bệnh ngoài da và phong ngứa rất khó chữa trị.

Những bọ, ve, rận và các loại ký sinh chồng chất lên nhau dày đặc trong da rắn, khi ngâm rượu những ký sinh này không chết, chúng sẽ theo rượu mà chui vào cơ thể người. Các độc tố sẽ tích tụ lại, biến thành các bệnh nan y khiến thầy thuốc phải bó tay.

Chồn, cheo… cũng ăn nhiều loại côn trùng độc, nên thịt của chúng đàn ông ăn vào có thể rối loạn cương dương, phụ nữ ăn vào sẽ mắc bệnh phụ khoa.

Mật gấu, tuy có thể chữa được một số bệnh, trong đó có bệnh đau mắt, làm tan máu bầm… Tuy nhiên trong mật gấu có nhiều chất dị ứng với cơ thể người. Cần biết, đã là mật thì mật gì cũng có thể làm tan máu bầm, không cứ là mật gấu. Bởi vậy, đối với các chứng dùng mật gấu, nên thay bằng mật dê và mật heo là tốt nhất. Mật dê không những hoàn toàn thay thế được mật gấu mà còn có tác dụng trị liệu nổi trội hơn mật gấu trong việc chữa các bệnh về mắt (các chứng cườm nước, mây mọng thịt). Riêng mật heo, còn nổi trội hơn mật gấu trong việc chữa chứng nẻ gót chân. Khi gót chân bị nẻ (có khi nẻ tới xương), bôi mật gấu vào có thể chữa được nhưng sẽ gây biến chứng rất nguy hiểm, trong khi dùng mật heo hấp chín pha với nước cơm (nước lấy từ nồi cơm nấu sôi) bôi vào một thời gian ngắn sẽ lành, không có tác dụng phụ gì cả. Mật heo cũng trị được các bệnh về mắt, bệnh thoái hóa da và sừng hóa bàn tay bàn chân. Tóm lại theo các tài liệu đông y chân truyền thì mật dê, mật heo có giá trị chữa bệnh tốt hơn nhiều so với mật gấu, lại là các sản phẩm dễ kiếm nhất và hầu như không tốn tiền, trong khi mật gấu thì rất đắt.

Ngà voi, có thể làm làm thuốc chữa được một số bệnh quan trọng, tuy nhiên, chỉ có ngà lấy từ con voi chết già mới có giá trị y dược, ngà voi lấy từ voi sống hoàn toàn không có giá trị gì.

Đối với răng hổ cũng vậy, lấy từ những con hổ chết già có thể chữa được một số bệnh, nhưng giết hổ sống để lấy răng thì cái răng đó cũng vô giá trị. Còn xương hổ thì về y lý chẳng có gì khác biệt so với xương heo xương bò.

Đối với gạc nai, gạc hươu, tuy tốt cho cơ thể người và khi cắt đi chúng có thể tái sinh, nhưng nói chung là không nên dùng, vì hoàn toàn có thể thay thế bằng những thứ đơn giản rẻ tiền hơn. Ví dụ, nấm mối và nấm khoang có giá trị dinh dưỡng và dược lý không những không thua kém mà còn tốt hơn rất nhiều so với gạc nai, gạc hươu.

Đối với loài tê giác đã bị tuyệt diệt ở nước ta, thảm họa này xuất phát từ sự ngộ nhận về tác dụng của chiếc sừng của nó, chúng tôi sẽ có bài phân tích riêng.

Bởi vậy mà tổ tiên ta từ khi định canh định cư làm lúa nước và thuần dưỡng các vật nuôi để làm thực phẩm, hàng ngàn năm qua đã dứt khoát nói “không” với thịt thú rừng.

Rừng thiêng thú hoang tương tác nhau mà tồn tại. Từng nhóm từng nhóm quyện sinh với nhau thành một quần thể, dung dưỡng cái tốt, chế ước cái xấu, tạo ra thế cân bằng, mỗi giống mỗi loài đều có vị trí, thiên nhiên không sinh ra bất cứ thứ gì thừa thãi. Chẳng hạn, gấu, heo rừng và gà rừng bao giờ cũng là “hàng xóm” tốt của nhau. Chỗ nào có gấu, chỗ ấy có heo rừng, gà rừng và ngược lại. Gấu là con vật không sợ cọp, nhưng khi gấu ăn mật ong sẽ bị say, trạng thái như bị thôi miên dễ bị cọp xơi, nếu lúc đó có cọp đến thì gà rừng sẽ báo động. Gà sẽ ăn những thức ăn thừa của gấu (ấu trùng ong), vừa đủ dinh dưỡng vừa không bao giờ bị dịch. Gấu là con vật không biết đánh hơi trong khi khả năng này ở heo rừng lại rất tốt, vì vậy heo rừng biết cách bới tìm các củ, rễ, nấm ăn được, gấu sẽ ăn theo heo rừng. Heo rừng lại rất sợ cọp và trăn, nên gấu sẽ bảo vệ heo rừng khi có cọp hoặc trăn xuất hiện. Phân gấu, phân heo vừa làm cây cối xung quanh tươi tốt vừa làm sạch môi trường, ngăn ngừa được mọi thứ dịch bệnh cho cả các động vật thực vật xung quanh. Trong rừng thiêng có vô số những nhóm quyện sinh như vậy, tạo thành một hệ sinh thái cân bằng vững chắc. Chính hệ sinh thái cân bằng vững chắc này bao đời nay đã bao bọc, nuôi dưỡng môi trường sống của con người.

Giữa con người cùng vườn tược gia súc gia cầm với rừng thiêng thú hoang từ lâu đã xác định ranh giới “nước sông không động đến nước giếng”. Nhưng con người chỉ được “nhận” mà không thấy “cho”. Không những không “cho” bất cứ thứ gì mà còn vô ơn bạc nghĩa. Chớ nghĩ “cọp ăn thịt người” mà cho cọp là “ác thú”, chẳng qua chúng buộc phải “tự vệ chính đáng” mà thôi. Nhưng cứ mỗi một người bị cọp ăn là có hàng vạn con cọp bị con người giết lấy xương nấu cao hổ cốt. Và chớ nghĩ “rắn cắn người” mà cho rắn là “đồ ác độc”. Rắn độc vốn không sinh ra để cắn người, người ta tính cứ 4000 lần con người chạm vào con rắn chỉ có 1 lần bị rắn cắn và cứ 1 người bị rắn cắn thì có hàng triệu con rắn bị con người đem ngâm rượu.

Những đạo lý trên đây các nhà bảo vệ môi trường đã gào rát họng nhưng chẳng ai nghe. Bởi vậy qua bài này chúng tôi muốn gửi một thông báo thực dụng nhất : Dù quý vị không quan tâm đến đạo lý đi chăng nữa cũng chớ có ăn thịt thú rừng, vì ăn chúng quý vị chắc chắn sẽ mắc nhiều bệnh nan y không thể chữa khỏi !

HOÀNG HẢI VÂN

Bài đăng trên Thanh Niên, 19-2-2012

Kỳ trước : Thủ phạm của thảm họa sinh thái

Thứ Bảy, ngày 18 tháng 2 năm 2012

Không nên ăn thịt thú rừng, vì sao ? (1)

Đây không phải là khuyến nghị đạo lý, mà là một cảnh báo “thực dụng” nhất : Ăn thịt thú rừng không những chắc chắn sẽ bị ung thư do thịt bị ngâm tẩm các hóa chất độc hại để giữ “tươi”giả tạo khi vận chuyển về thành phố, mà ngay cả thịt thú rừng tươi nguyên chất không ngâm tẩm gì cũng rất nguy hiểm cho sức khỏe.

Thủ phạm của thảm họa sinh thái

Trong khi không có một công trình khoa học nghiêm túc nào nói thịt thú rừng có lợi cho sức khỏe hơn thịt gia súc gia cầm thì các tài liệu đông y trôi nổi và “lang băm” các loại lại đề cập một cách vô căn cứ những tác dụng chữa bệnh của thịt và các bộ phận của cơ thể thú rừng.

Sự cường điệu về tác dụng của sừng tê giác đã khiến cho tê giác ở Việt Nam tuyệt chủng. Sự cường điều về tác dụng của cao hổ cốt đã khiến cho loài hổ sắp bị diệt vong. Các loài gấu, chồn cáo, các loài rắn và vô số các loài động vật hoang dã khác cũng đang chịu chung số phận, bất chấp sách đỏ, bất chấp các đạo luật, bất chấp các biện pháp ngăn cấm, bất chấp tiếng kêu vô vọng của các nhà bảo vệ môi trường.

Càng ngăn cấm, thú rừng các đắt giá, thú rừng càng đắt giá chúng càng mau bị tuyệt diệt. Chưa nói đến sự hủy diệt rừng cũng đang diễn ra cực kỳ nghiêm trọng, chỉ riêng việc hủy diệt thú rừng không thôi cũng đủ cho nước ta rơi vào một thảm họa sinh thái.

Chính các tài liệu đông y trôi nổi và các “lang băm” nói trên là thủ phạm của thảm họa sinh thái này. Điều lạ lùng là trong khi Nhà nước cũng như các tổ chức xã hội dùng bao nhiêu luật, dùng bao nhiêu cuộc vận động đạo lý để kêu gọi bảo vệ động vật hoang dã, thì những tài liệu nói trên vẫn được lưu hành hợp pháp, thậm chí còn được đem ra giảng dạy ở các trường y.

Bởi vậy, để bảo vệ thú rừng, trước hết phải “lật tẩy” sự vô căn cứ của các sách vở đông y trôi nổi. Chúng tôi gọi “sách vở đông y trôi nổi”, vì chúng không có nguồn gốc rõ ràng.

Ngay cả những cuốn như “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” được cho là của danh y Lê Hữu Trác cũng có nhiều chi tiết đáng ngờ, nhất là phần lấy các bộ phận của động vật hoang dã làm thuốc, trong đó có tới 36 loài thứ rừng hầu hết đều nằm trong Sách đỏ (chưa kể các loài chim). Sở dĩ nó “đáng ngờ” vì Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác sống vào thế kỷ 18 (1720-1791), thời kỳ này không hề có chuyện sách vở bị ngoại xâm lấy đi hoặc tiêu hủy, nhưng mãi 100 năm sau khi ông mất, vào năm 1890 (thời vua Thành Thái), người ta mới phát hiện ra sách này và nói nó là của Hải Thượng Lãn Ông. Một trong những lý do để người ta tin ngay đó là sách của Hải Thượng Lãn Ông mà không cần có nhiều khảo cứu là bởi nó được phát hiện trong một ngôi chùa (ở Bắc Ninh). Chùa thì ít khi cho ra đồ giả, nhưng “ít khi” không có nghĩa là hoàn toàn không. Ngày nay người ta đã bắt đầu phát hiện trong cuốn sách này có nhiều bài thuốc rất phi lý, nhưng chưa ai đặt vấn đề khảo sát để gạn đục khơi trong cuốn sách đó. Có thể nhiều bài thuốc trong cuốn sách là của Hải Thượng Lãn Ông được ghi lại, nhưng có nhiều khả năng người ta thêm vào nhiều thứ khác nữa và gán luôn cho ông.

Còn cuốn “Nam dược thần hiệu” đang lưu hành (cũng có đề cập đến việc lấy các bộ phận cơ thể thú rừng làm thuốc) được gán cho Tuệ Tĩnh thì không thể tin được. Tuệ Tĩnh là một thiền sư, dù các thiền sư thời Trần có thể “uống rượu ăn thịt” phóng khoáng không câu nệ, nhưng không lý gì một thiền sư như Tuệ Tĩnh lại “phóng khoáng” tới mức khuyên người ta cầm dao mổ thú rừng để làm thuốc.

Hãy lùi về xa về nguồn cội. Cuốn sách y dược cổ nhất ngày nay chúng ta còn biết là cuốn “Thần Nông bản thảo”. Đây là cuốn sách nền tảng của cả nền y dược phương Đông. Sách này như tên gọi của nó (“bản thảo”), chỉ có thảo dược, hoàn toàn không có dược liệu từ thú rừng. Những sách y dược chân truyền các đời sau cũng vẫn vắng bóng thú rừng, trừ những bộ phận do chính động vật tự loại bỏ như xác ve, xác rắn hoặc bộ phận có thể tái sinh như gạc hươu gạc nai… Sách thuốc chân truyền cho đến thời nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống, dù có bổ sung thêm rất nhiều loại dược liệu nhưng vẫn giữ nguyên tắc của “Thần nông bản thảo”, là không dùng các bộ phận của thú rừng. Những loại “thuốc” từ sừng tê giác, mật gấu, xương hổ … mãi đến thời nhà Minh, nhà Thanh người ta mới biết qua các sách gọi là cổ nhưng không rõ nguồn gốc hoặc được thêm thắt rồi gán cho các danh y như trường hợp sách của Hải Thượng Lãn Ông và Tuệ Tĩnh ở ta.

Hiện nay bộ sách “Nguyễn Phúc tộc dược minh y kính” của nhà Nguyễn còn truyền trong gia tộc, là tổng hợp những di sản chân truyền của người xưa cùng những khảo nghiệm công phu của các bậc chân y triều Nguyễn. Sách này ngoài thảo mộc, còn có sử dụng động vật làm thuốc nhưng chỉ sử dụng gia súc gia cầm và động vật xung quanh chân ruộng, hoàn toàn không sử dụng các bộ phận của thú rừng, trừ những bộ phận bị loại bỏ một cách tự nhiên hoặc có thể tái sinh như đã nói.

Chúng ta phải ngưỡng mộ và học hỏi các vua chúa nhà Nguyễn, bởi các vị không những không dùng các bộ phận thú rừng để chữa bệnh mà trong thực đơn của các vị cũng không bao giờ có thịt thú rừng. Cái gọi là “nem công chả phượng” trong món ăn cung đình Huế chỉ là sự tưởng tượng bịa đặt của ai đó. Ngay cả những con nai con hoẵng đi săn được, các vua Nguyễn cũng không ăn, nếu có thì chọn những con bị bắn nhưng không chết đem nuôi dưỡng bằng những cây cỏ quen thuộc với con người một thời gian dài mới đem ăn được.

Ngày nay các quán thịt rừng đang mọc lên như nấm, khắp nơi khắp chốn, từ thành thị tới thôn quê. Sừng tê giác, cao hổ cốt, mật gấu, rắn ngâm rượu … được mua bán cho tặng tràn lan, từ các “đại gia” doanh nhân đến giới quan chức, từ trí thức tới bình dân. Đó là điều chưa từng xảy ra trong lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc. Nhìn mà hổ thẹn với tổ tiên, hổ thẹn với bạn bè quốc tế.

Rất tiếc là khi cho in ấn lưu hành những sách cổ của tiền nhân, các nhà nghiên cứu đã không có sự khảo sát, xác minh nghiêm túc dẫn đến ngày nay chúng ta không biết đâu là thật đâu là giả. Chẳng hạn như một số sách địa lý phong thủy được gán cho Cao Biền, nhưng nếu khảo sát các tài liệu cổ của Trung Quốc thời nhà Đường thì không tìm ra bất cứ cuốn sách địa lý nào của Cao Biền cả. Hoặc như cuốn “Binh thư yếu lược” được sưu tầm và in ấn, cho là của Trần Hưng Đạo, nhưng một số phần trong cuốn sách đó lại giống hệt sách “Hổ trướng khu cơ”của Đào Duy Từ được viết sau mấy trăm năm. Cuốn “Binh thư yếu lược” kia chắc chắn là giả mạo, bởi trong đó có nhiều chi tiết chỉ ở thời của Đào Duy Từ mới có. Những sách địa lý, binh thư là giả hay thật cũng chưa trực tiếp ảnh hưởng đến mạng sống con người (dù vẫn gây tác hại ở những lĩnh vực khác), nhưng sách thuốc thì liên quan đến mạng sống, không thể cẩu thả “giỡn chơi” với nó được.

(còn tiếp)

HOÀNG HẢI VÂN

Bài đăng trên Thanh Niên, 18-2-2012

Kỳ sau : Mắc nhiều bệnh khó chữa

Thứ Tư, ngày 04 tháng 2 năm 2009

Biển sẽ dâng thêm 1 mét, đừng để nước đến chân...


Gần đây các phương tiện thông tin đại chúng trong và ngoài nước liên tục phát đi những dự báo về mực nước biển sẽ dâng trên 1 mét (và có những "kịch bản" nước biển dâng 3 mét, 5 mét) trong thế kỷ này, do biển đổi khí hậu. Các nhà khoa học dự báo Việt Nam sẽ là 1 trong 5 nước bị ảnh hưởng nặng nhất. 3/4 diện tích đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu long sẽ chìm trong nước, hàng triệu gia đình sẽ mất nhà cửa, hàng triệu người sẽ mất công ăn việc làm, thảm họa sẽ xảy ra đối với dân chúng dọc bờ biển miền trung…


Đây cũng là vấn đề ông Hoàng Đình Bá đặc biệt quan tâm trong kế sách mà ông sắp đề xuất. Ông Bá bảo vấn đề nước biển dâng không phải gần đây mới biết mà đã được báo động từ giữa thế kỷ trước, tại Hội nghị quốc tế về môi trường năm 1953 ở Thụy Điển. Những dự báo sau này liên tục thay đổi theo hướng ngày càng xấu, dự báo gần đây nhất là nước biển có thể dâng 1 mét trong 20 năm nữa do tác động mạnh của hiện tượng băng tan. Dù theo “kịch bản” nào đi nữa thì nước biển chắn chắn sẽ dâng cao.


Đối với khu vực Quảng Nam Đà Nẵng, ông cho rằng dọc bờ biển và sông Thu Bồn hiện tại chiều cao khoảng 1,5 mét so với mực nước biển, những chỗ thấp hơn không nhiều, nhưng phải tính toán kỹ. Liên Chiểu (Đà Nẵng) là vùng thấp; Quảng Nam từ Điện Ngọc trở vào cũng bị ảnh hưởng, huyện Thăng Bình có một số chỗ thấp hơn mực nước biển; dọc bờ sông Trường Giang chỉ cao hơn mặt biển 0,5 mét… Đó là những khu vực bị ảnh hưởng, cần phải xử lý. Theo ông Bá, phải tiến hành đo đạc dọc bờ biển và các con sông lớn. Thời gian đo đạc mất khoảng nửa năm. Sau khi đo đạc sẽ tiến hành thiết kế một hệ thống theo 3 tuyến : tuyến sát bờ biển, tuyến cách bờ biển 50 mét và tuyến cách bờ biển 100 mét. Nhất thiết phải một vành đai cây phòng hộ 3 mét để chống sóng. Khoảng 100 mét cách bờ biển đó phải tạo ra một bãi lài, để bảo đảm an toàn khi nước biển dâng 1 mét và sóng đánh cao 3 mét. Nếu tạo một bãi lài thì sóng đánh vào sẽ rút ra, nếu tạo một bờ dựng đứng thì sóng sẽ đánh ngã ngay lập tức. Khảo sát sóng thần ở Thái Lan vừa qua người ta biết chỗ nào nhiều người chết nhất : đó là chỗ có chiều cao dựng đứng.


Đối với vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, theo ông phải xử lý theo hai hướng. Thứ nhất là dùng đê bao. Vấn đề này chúng ta có bài học kinh nghiệm thực tế từ Hà Lan, hơn một nửa nước này thấp hơn mặt nước biển 3-7 mét. Thứ hai, trong điều kiện nước ta không thể xử lý tất cả như Hà Lan, nên phải có cách nghĩ khác, phải biết cách chung sống với nước : làm nhà ở trên nước, sinh sống trên nước, tận dụng lợi thế của nước để làm ăn (nuôi trồng thủy sản, rong tảo…).


Đầu tháng 3 năm ngoái, cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã phát biểu trên báo Thanh Niên về những lo ngại của ông đối với vấn đề nước biển dâng và đề xuất ý tưởng đối phó cho ĐBSCL (xem Lo cho đồng bằng sông Cửu Long). Ông Võ Văn Kiệt cũng đã đề cập kinh nghiệm của Hà Lan : “Tôi được đọc nhiều tài liệu về đê, đập của Hà Lan, có dịp gặp gỡ các chuyên gia Hà Lan, được nghe về kinh nghiệm ngăn đê chống ngập của họ. Mặc dù là một đất nước nằm dưới mực nước biển nhưng Hà Lan vẫn có những phương án hiệu quả để tồn tại và phát triển, nổi tiếng thế giới về sản xuất nông nghiệp và nhiều lĩnh vực khác. ĐBSCL trong tương lai có thể sẽ chung hoàn cảnh như thế. Các kinh nghiệm của Hà Lan có thể giúp ích cho chúng ta. Tôi đã có dịp nêu ý kiến nhiều lần về vấn đề này nhưng mức độ quan tâm về biến đổi khí hậu, diễn biến thiên tai tại vùng này vẫn chưa được các cấp đặc biệt quan tâm”.


Theo ông Bá, chúng ta phải triển khai một chiến lược 30 năm cho vấn đề này, một chiến lược khả thi đồng bộ và phải sớm bắt tay vào thực hiện, nếu để “nước đến chân mới nhảy” thì “nhảy” làm sao kịp nữa !


Bài liên quan :

"Tôi cam đoan giải quyết triệt để vấn đề lũ lụt"

Rừng vẫn chưa xanh lá

Thảm cảnh cây xanh

Thứ Ba, ngày 03 tháng 2 năm 2009

Thảm cảnh cây xanh


Mấy ngày qua về Đà Nẵng tiễn biệt thầy Vĩnh Linh.

Gặp Hoàng Đình Bá. Ông già 80 tuổi này lại say sưa về cây rừng. Tôi có cảm giác ông đang đem hết sức tàn ra chống chọi với sự vô trách nhiệm của số đông để cứu vớt môi trường sống. Bảo vệ rừng, mấy chục năm trước ông bị kết tội là "tù binh của giai cấp tư sản", nay thì không ít người bảo ông "khùng".

Đà Nẵng nay khang trang đẹp đẽ hơn xưa rất nhiều, nhưng cây cối thì vô cùng thảm hại. Ông Bá bảo trước năm 2000, thành phố (nội đô) cây vốn đã ít, chỉ ở mức 0,90 m2/người, sau khi "chỉnh trang đô thị" đã chặt 8000 cây xanh đường phố, trong đó có 2000 cây cổ thụ, khiến cho chỉ số này giảm xuống còn khoảng 0,35 - 0,40 m2/người, thấp xa chỉ số tương ứng của Hà Nội : 2,40 - 4,00; của TP.Hồ Chí Minh : 3,30; của Hải Phòng : 2,00; của Huế : 3,50; của Nam Định : 1,50. Những chỉ số này cũng quá bé nhỏ so với thế giới như Nam Kinh (Trung Quốc) : 22,00; Moskva (Nga): 26,00; Washington DC (Mỹ) : 40,00...

Đô thị là vậy. Nông thôn, miền núi cũng không khá hơn. Ông nói nếu cộng tất cả các con số báo cáo về trồng rừng từ sau 1975 đến nay thì diện tích rừng trồng phải lớn gấp đôi diện tích Quảng Nam Đà Nẵng, nghĩa là phải trồng luôn sang bên ... Lào. Nhưng thực tế rừng ngày càng trọc đi, độ che phủ ngày càng giảm xuống. Theo thống kê thì trong vòng 25 năm (từ 1980 đến 2005) đã có hơn 380 ngàn hecta rừng bị hủy diệt, độ che phủ giảm từ 73,9% xuống còn 43,4% (Quảng Nam 42%, Đà Nẵng 38%). Năm 1977 Chính phủ đã quyết định xếp Sơn Trà là 1 trong 10 khu rừng cấm quốc gia, nhưng rừng Sơn Trà nay đã bị phá gần hết, nhìn vẫn thấy màu xanh nhưng chủ yếu là dây leo và bụi rậm.

Ông bảo ông biết chắc có một dự án thiết kế trồng 30 ha rừng, nhưng thực tế chỉ trồng 6 ha và quyết toán đến 70 ha. Không chỉ có một sự án như vậy và tình trạng đó không chỉ có ở Quảng Nam Đà Nẵng.

Có nhiều thành phần tham gia tàn phá rừng : Quốc doanh thì khai thác rừng không đi đôi với chăm sóc, đáng lẽ trồng 10 mới chặt 1 thì chặt đến đâu mất rừng luôn đến đó; "lâm tặc" thì chặt 1 cây phá luôn 10 cây; người dân thì "tự do" lấy củi, đốt than, đào cây cảnh, đào cây thuốc... vô tội vạ. Nếu tính chất lượng rừng bị suy giảm, vốn tài sản bị tổn thất thì chúng ta đã làm mất đi 50% giá trị mà thiên nhiên ban tặng. Sự trả đũa của thiên nhiên thì ai cũng biết rồi, không lũ lụt không hạn hán mới là chuyện lạ...
(còn tiếp)

Bài liên quan :
"Tôi cam đoan giải quyết triệt để vấn đề lũ lụt"
Rừng vẫn chưa xanh lá





Thứ Năm, ngày 29 tháng 1 năm 2009

"Tôi cam đoan giải quyết triệt để vấn đề lũ lụt"


Mồng ba, gọi điện thoại chúc tết Hoàng Đình Bá. Ông không chúc tụng mà hào hứng nói luôn “chuyện quan trọng”. Đối với ông Bá, cái gì liên quan đến rừng đều là chuyện quan trọng. Tôi còn nhớ có lần mồng một tết đến nhà ông, vừa nói chuyện mấy câu ông đã đem luôn bản đồ thổ nhưỡng ra rồi say sưa câu chuyện về rừng, quên luôn khách đến là để chúc tết. Tôi đã gặp nhiều người già miền quê Quảng Nam gọi Hoàng Đình Bá là ông thần rừng. Ông đúng là ông thần rừng thứ thiệt.


Hôm nay ông bảo hai tháng nữa ông sẽ trình với các cơ quan có thẩm quyền toàn bộ hồ sơ về một chương trình khoa học và hành động liên quan đến rừng (vì nói chuyện qua điện thoại nên tôi không nhớ tên gọi của chương trình, chỉ nhớ hai nội dung là : An ninh sinh thái tự nhiên và An sinh sinh thái xã hội nhân văn).


Thật ra hơn 20 năm trước tôi đã nghe ông trình bày ý tưởng về một dự án lập một vòng cung từ Sơn Trà qua Hải Vân làm “Vườn quốc gia”. Chính tai tôi nghe giáo sư Trần Quốc Vượng phát biểu sau khi nghe ý tưởng của ông : “Nếu có sự kết hợp hài hòa nhất giữa tự nhiên và xã hội thì sự kết hợp đó chính là Hoàng Đình Bá”.


Nay nghe chương trình này tôi hỏi nó có khả thi không, ông nói : “Khả thi chứ”. Mấy chục năm nay lúc nào ông cũng nói vậy, cả khi bị người ta đánh cho tả tơi xác mướp ông vẫn ngây thơ tin vào thiện chí của con người. Và tôi lại bị ông thuyết phục.


Ông là “kiến trúc sư” của chương trình này, nhưng theo ông nó là kết quả của tâm huyết và trí tuệ của hàng trăm nhà khoa học bắt đầu từ sau trận lụt lịch sử ở miền trung năm 1964, trong đó có giáo sư Tạ Quang Bửu.


“Sản phẩm” của chương trình sẽ là sự phục hồi, tôn tạo một Khu sinh quyển 1 triệu ha, trong đó có một Vườn vạn vật 200 ngàn ha, tại Quảng Nam-Đà Nẵng. Đây sẽ là Khu sinh quyển (gồm các yếu tố đất, nước, sinh vật, khí hậu) và Vườn vạn vật tầm thế giới, là “bách khoa toàn thư” về gen thực vật và “một số động vật”.


Hiện thực vật tại Vườn Bách Thảo (Hà Nội) chỉ có 30 loài, Thảo Cầm viên (TP.HCM) chỉ khoảng 100 loài. Trong khi thực vật nước ta có trên 1 vạn loài, thục vật nước ngoài đã vào Việt Nam khoảng 200 loài. Ta chỉ cần có 500 loài từ nước ngoài là đủ các loài thực vật trên hành tinh. Sau khi so sánh, đối chiếu, ông bảo chỉ có Quảng Nam Đà Nẵng là đủ điều kiện dung trú tất cả các loại cây trên hành tinh nên cho phép có một Vườn Vạn vật như vậy. Phạm vi của nó là rừng cấm – rừng phòng hộ được nối liền lại với nhau, trải ra trên các sườn núi cao. Nó sẽ bao hàm 37 đỉnh núi trên dãy Trường Sơn có độ cao từ 1000 mét trở lên, cao nhất là núi Ngọc Linh 2600 mét (chỉ đứng sau độ cao của Hoàng Liên Sơn). Đó sẽ là những địa điểm dung trú được các loài cây xứ lạnh. Trong Vườn vạn vật cũng sẽ có một Vườn thuốc quốc gia. Theo ông thì Việt Nam có khoảng 1500 loại cây thuốc chưa được biết và sử dụng. Cây thuốc của chúng ta có thể trị được 950 bệnh khác nhau. Vườn thuốc sẽ nằm dưới chân núi Ngọc Linh.


Ông quả quyết : “Thực hiện chương trình này tôi cam đoan giải quyết triệt để vấn đề lũ lụt”. Vấn đề hạn hán cũng được giải quyết tương tự. Đừng vội cho Hoàng Đình Bá là kẻ ngông cuồng ảo tưởng. Ngày xưa đất nước này không có lũ lụt kinh hoàng như mấy chục năm gần đây. Trước năm 1945, Hội An chưa bao giờ ngập lụt, nước lên cao lắm chỉ ngập đến đường Bạch Đằng thôi. Nguyên nhân lũ lụt là rừng bị tàn phá. Nếu trồng lại được rừng thì giải quyết được lũ lụt, giải quyết được hạn hán. Trước đây rừng của ta có các loại cây có bộ rễ sâu hơn 30 mét, nay các loài cây này đã mất sạch hết rồi. “Nếu khu sinh quyển phục hồi được 4% cây có bộ rễ sâu thì sẽ phục hồi lại toàn bộ hệ thống nước ngầm bằng mức trước năm 1936”. Một trong 3 công trình quan trọng tại khu sinh quyển sẽ là hồ chứa nước tại Hòn Kẽm Đá Dừng. Đây vừa là đập thủy điện, vừa là nơi điều chỉnh lũ, vừa phục vụ giao thông (“đường nước”). Ông cho biết ông Vũ Quốc Thúc (chuyên gia kinh tế nổi tiếng của chính quyền Sài Gòn cũ) trước đây đã gợi ý về cái đập nước này. Và chính ông Vũ Quốc Thúc từ nước ngoài đã gửi về nước những hạt giống cây có bộ rễ sâu 30 mét, đó là cây zozoba.


Chương trình cũng bao gồm các giải pháp đối phó với sự biến đổi khí hậu toàn cầu như vấn đề nước biển dâng và chuyện “nóng chết người”. Riêng vấn đề “nóng chết người”, ông nói ông đã nghiên cứu thử nghiệm tại bán đảo Sơn Trà để tạo ra những khu vực dù thời tiết khí hậu ở bất kỳ tình huống nào thì nhiệt độ ở đó cũng không vượt quá 35 độ C. Với kết quả đó, ông nói : “Chiến lược của chúng ta là không để xảy ra tình trạng khí hậu biến đổi gây nóng chết người, nếu có xảy ra thì cũng có đủ chỗ cho con người cư trú, không để xảy ra tình trạng nóng chết người hàng loạt như ở Ấn Độ và một số nước khác".


Có lẽ ông đang nghĩ rằng ý thức của người dân là yếu tố quyết định cho tính khả thi của chương trình. “Thân thiện với thiên nhiên là đạo làm người”, ông Bá nói. Ông cho rằng, nếu mỗi người dân, mỗi anh bộ đội, mỗi em học sinh tự nguyện trồng 1 cây mang tên mình trong Vườn vạn vật thì coi như chương trình đã thành công rồi. 28 cuộc thăm dò cũng đã cho thấy chương trình được sự hưởng ứng rộng rãi. Điều thú vị là đã thăm dò chính những “lâm tặc”, những người này nói nếu có một chương trình như vậy đối với rừng thì giới lâm tặc sẽ xin giải nghệ, không phá rừng nữa. Ông Bá nói ông tin vào “lời hứa” của lâm tặc. Tôi cũng tin luôn. Nhưng nếu nói rằng chương trình này sẽ khởi động khi ông còn sống thì tôi không dám tin, vì tôi biết chắc không có bất cứ kẻ quan liêu nào ủng hộ những người như Hoàng Đình Bá.


Nghe qua điện thoại tiếng được tiếng mất, viết vội vàng không mạch lạc. Sẽ trở lại chuyện này khi có trong tay tài liệu.


Bài liên quan :

Rừng vẫn chưa xanh lá

Thứ Năm, ngày 13 tháng 11 năm 2008

Rừng vẫn chưa xanh lá


Tuần rồi Háu tặng cuốn sách "SỤP ĐỔ" của Jared Diamond và bảo : "Đọc đi, Háu biết bố sẽ thích". Đọc cuốn sách bỗng nhớ đến Hoàng Đình Bá. Thật thú vị, tư tưởng của ông này gần với ông Bá quá. 20 năm trước tui có viết một bút ký về Hoàng Đình Bá đăng trên tạp chí Đất Quảng do ông Thanh Quế làm Tổng biên tập. Ông Bá đã có ảnh hưởng rất lớn đến tui, giống như tướng Phạm Xuân Ẩn, thiền sư Lê Mạnh Thát, nhà thơ Thanh Thảo sau này và linh mục Nguyễn Ngọc Lan, nhà thơ Phan Duy Nhân trước đó.
Hai năm trước, khi Thu Uyên làm chương trình Tại sao không ?, tui có đưa Thu Uyên đến gặp Hoàng Đình Bá. Thật vui mừng khi thấy ông xuất hiện một đoạn trong "
Thuận với thiên nhiên", với tiếng Quảng Nam "nguyên chất", được phát trên VTV. Có lẽ con Háu hóng hớt, suy diễn mối liên quan nào đó nên biết "bố sẽ thích" cuốn sách của ông Diamond.
Vừa đọc cuốn sách vừa đọc lại bài bút ký của mình 20 năm trước, thấy vẫn không dở (hehe), tuy có một số quan niệm bây giờ tui đã nghĩ khác. Hồi đó tui lấy cái tiêu đề này là do bị ảnh hưởng bởi cuốn sách của linh mục Nguyễn Ngọc Lan "Cho cây rừng còn xanh lá".

HUỲNH KIM SÁNH
Rừng vẫn chưa xanh lá
Bút ký

1.

Gần đây, bên cạnh những thông tin về “cải tổ” và tình hình hòa hoãn giữa các siêu cường, trên sách báo liên tiếp xuất hiện những thông tin về sự khủng hoảng hệ sinh thái : một khu rừng nào đó bên Nam Mỹ sắp biến thành sa mạc, những đàn hươu ở một vùng nọ tận Sibir đang còm cõi dần, một loạt các giống thú có nguy cơ tuyệt chủng, người ta tính cứ mỗi phút trôi qua lại có một hecta rừng nhiệt đới bị hủy diệt … Dường như con người đã biết điều với nhau hơn, nhưng với thiên nhiên thì con người chưa hề tỏ ra khiêm tốn. Sự trả đũa của hạn hán, của bão lụt, của các nguồn nước cạn kiệt, của môi trường sống ngày càng bị hủy hoại, lẽ nào chưa đủ khốc liệt để khiến cho nhân loại phải thức tỉnh ?


Bao nhiêu vấn đề to lớn tưởng như viễn vông trên đây thực sự trở thành một nỗi ám ảnh trong tâm trí khi tôi được tiếp xúc với HOÀNG ĐÌNH BÁ, nguyên Trưởng ty Lâm nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng. Đó là một nhà khoa học và là người quản lý ngành rừng có tiếng tăm của một tỉnh tám mươi phần trăm đất đai là đồi núi, đã bị kỷ luật cách chức và bị khai trừ ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam cách đây mười hai năm.


Cuộc sống thường trớ trêu. Hồi ấy, trong niềm tin và lòng tự hào của tôi, không bao giờ có một quyết định sai từ một nơi trang nghiêm như cơ quan Tỉnh ủy. Do đó tôi đã đồ chừng rằng cái ông Bá ghê gớm kia hẳn phải mắc những tội lỗi tày đình. Nhưng dần dần, trong suy nghĩ của tôi, tôi lại bị chinh phục bởi những giai thoại lạ lùng về Hoàng Đình Bá, những giai thoại mà mới chỉ nghe không thôi cũng đã khiến ta tin là có thật.


Người ta kể, ông là kẻ chẳng biết chăm lo gì đến vợ con mà thường mất hút trong những cánh rừng, hình như suốt ngày bận tìm kiếm một thứ cây nào đó. Có người thấy ông nhiều bữa có mặt tại núi cấm Sơn Trà từ 4 giờ sáng đến 12 giờ đêm chẳng biết để làm gì, e chỉ làm cái việc đếm người đốn củi. Ai đó bảo, ông đã từng báo trước rằng tỉnh Khánh Hòa năm mươi năm nữa sẽ không còn nước ngọt trong lòng đất nếu ngay bây giờ không chấm dứt việc phá rừng. Kẻ khác nhắc, hồi chiến tranh ông suýt nữa bị cách mạng bắt vì đã cả gan báo trước tình trạng vượt biên sau giải phóng. Nghe nói ông đã đề ra một kế hoạch gì mà kỳ dị đến mức nếu cho thực hiện thì huyện nọ nhiệt độ sẽ giảm xuống một độ C còn kinh tế thì bảy lần tăng trưởng. Thỉnh thoảng trong các cuộc mạn đàm không chính thức, có kẻ lại chậc lưỡi tiếc rằng việc này việc khác nếu trước đây làm theo ông thì nay hẳn đã không phải sửa sai … Tôi không hiểu được tường tận độ chính xác của các tin đồn đó, nhưng chúng vẫn mê hoặc tôi, như những lời tiên tri, rằng con người kỳ dị này chẳng cần một thứ chức vụ nào hết nhưng sẽ không bao giờ lụi tắt như bao người khác khi rời khỏi chiếc ghế quyền hành.


Và không có ai, kể cả những người đã quyết định kỷ luật Hoàng Đình Bá, lại nói về anh dù chỉ một điều xấu.


2.


Nhiều năm sau vụ kỷ luật, tôi mới may mắn gặp anh. Đó là một người bình dị, trong đôi mắt bao giờ cũng ánh lên vẻ tin cậy thiện chí đến mức ngây thơ. Tôi không hiểu vì sao một người đã bị chính đồng chí mình vu oan hắt hủi lại vẫn cứ giữ được ánh mắt ngây thơ dường ấy !


Mười hai tuổi đã đi với cách mạng, tham gia chống Pháp, tập kết ra Bắc, đi học tập và công tác ở nước ngoài, Hoàng Đình Bá trở thành nhà khoa học, thành chuyên gia hàng đầu về lâm nghiệp nước ta, đồng thời có trình độ chuyên sâu về 23 lĩnh vực chuyên môn trên bậc đại học. Cuối những năm 1960, vừa giảng dạy vừa nghiên cứu khoa học, anh là chủ nhiệm công trình điều tra quy hoạch Rừng Quốc gia Cúc Phương và là người chủ trì khoa học của phân viện nghiên cứu rừng nhiệt đới Việt Nam. Rồi vào Nam chiến đấu…


Vào những năm ấy, cuộc chiến tranh chống Mỹ đang vào giai đoạn khốc liệt nhất. Những cánh rừng Khu 5 quê anh, nơi anh biết nó vô cùng phong phú về tài nguyên sinh vật, đang bị chất độc hóa học và bom na-pan quét phá. Vào những năm ấy, khi mà hàng triệu người lo đánh giặc, hầu như chẳng mấy ai để ý đến sự cân bằng của trạng thái môi sinh, thì anh lại đau đáu nghĩ đến nó. Từ biệt thủ đô với tất cả những hứa hẹn công danh, Hoàng Đình Bá xốc ba lô vào chiến trường. Hẳn là trong đoàn quân vượt Trường Sơn năm ấy, người ta thấy một con người thấp bé lẫn giữa bao người khác, ì ạch trên vai chiếc ba lô to quá cỡ, trong đó chứa đầy những tài liệu khoa học và hạt giống cây rừng…


Vào đến căn cứ Khu 5, việc đầu tiên mà Hoàng Đình Bá làm là cùng anh em lập 5 trạm ươm và khảo nghiệm cây quế, bắt đầu bước đi đầu tiên của chương trình nghiên cứu cây rừng miền Trung. Mặc cho bom đạn và chất độc hóa học, mặc cho những cơn sốt và cái đói hành hạ, ngày ngày với nắm cơm vắt mà trong đó ba phần tư là sắn hoặc ngô, anh bước vào cuộc hành trình hàng chục, hàng trăm cây số đến các cánh rừng hiếm hoi còn sót lại… Ngày 26-3-1971, theo đề xuất của anh, toàn Khu 5 tiến hành điều tra cơ bản. Với tư cách trưởng tiểu ban điều tra quy hoạch, anh đã cùng 60 kỹ sư và cán bộ nghiệp vụ lao vào một cuộc khảo sát khoa học gian nan chưa từng thấy. Từng nhóm năm, bảy người rải đi khắp các tỉnh Trung Trung bộ, thọc sâu xuống các vùng bị địch chiếm, vừa thu thập tài liệu, vừa đo đạc, quan sát, sơ thám. Một khối lượng tài liệu khổng lồ đã được xử lý, phân tích, tổng kết giữa bom đạn giặc. Việc phân vùng quy hoạch về tự nhiên, kinh tế và xã hội được hoàn thành, làm cơ sở để đánh giá, dự báo và lập phương án phát triển cho toàn khu cũng như cho từng tỉnh trong và sau chiến tranh.


Anh cho biết, rừng của ta ba phần tư là lâm đặc sản, một phần tư là rừng gỗ. Thế giới thực vật châu Âu chỉ có 250 loài, còn ở đây chỉ tính riêng cây có thể dùng làm thuốc chữa bệnh đã có hàng nghìn loại. Ấy là chưa kể hàng vạn loài cây khác, trong đó có rất nhiều gỗ qúy. Đây cũng là bảo tàng thiên nhiên về các loài chim thú, đặc biệt là các loài qúy hiếm. Rồi khoáng sản, rồi khí hậu nhiệt đới ẩm cũng là tài nguyên thiên nhiên ưu đãi chúng ta. Có thể nói, Khu 5 là rừng và biển. Từ trên không nhìn xuống, rừng núi trông như một mái nhà nghiêng khổng lồ, đồng bằng chỉ là hàng hiên bé nhỏ tiếp giáp với cái sân là biển cả mênh mông. Đó là cái thế, là tiềm lực tự nhiên vô cùng qúy giá.


Nhưng, những trang sử của thiên nhiên diễn biến theo chiều hướng mỗi ngày một thảm hại” - anh nói và chỉ tôi xem diễn biến của các con số trên biểu đồ về tài nguyên được lập lúc đó – “tính từ năm 1900, trong vòng hơn 70 năm, rừng tốt giảm xuống 14 lần, nghĩa là toàn Trung Trung bộ mất đi trên 65.000 cây số vuông. Cũng trong thời gian này, có thêm gần 38.000 cây số vuông đất rừng biến thành đồi trọc, thành hoang mạc sinh học. Lượng nước thấm xuống đất thời điểm này giảm đi 17 tỷ mét khối so với năm đầu thế kỷ, nghĩa là do rừng bị phá mà mỗi năm lượng nước mưa chảy tuột ra biển tăng bình quân trên 10 tỷ khối. Đó là cội nguồn của nạn hồng thủy trong tương lai. Thiên nhiên không tự mình làm cái việc xấu xa ấy. Thủ phạm chính là con người : sự tấn công của nông nghiệp vào rừng rậm, chặt phá, phát rẫy du canh và dĩ nhiên là cả chiến tranh. Chiến tranh ! Ngoài cái việc gây tang tóc cho con người, bom đạn và chất độc hóa học đã hủy diệt hàng chục vạn hecta rừng và đất rừng các loại. Mỹ hủy diệt, đã đành rồi, nhưng còn ta nữa, ta cũng đã phá không ít rừng để tự túc lương thực”.


Anh bảo, hồi ấy anh đau lòng quá khi thấy cả một binh đoàn “773” hồn nhiên thi đua với bom đạn để chặt, đốt hàng ngàn hecta rừng già ở Sa-thầy, ở Plei-me, Plei-cần, Nước Xa, Phước Sơn… để trồng sắn, tỉa bắp. Mà có hiệu quả gì cho cam kia chứ, chỉ mất rừng thôi, còn sản xuất thì không đủ nuôi chính người sản xuất, trong khi từ năm 1973 việc tiếp tế lương thực đã không còn quá khó khăn. Anh đã đề xuất ý kiến không nên làm việc này, nhưng biết làm sao được khi cái cay nghiệt của chiến tranh là vậy !


Nhìn nhưng cánh rừng biến thành đồi trọc, anh khao khát một ngày kia sẽ trả lại màu xanh cho nó. Anh nghĩ đến một chương trình “nông lâm kết hợp” với phương thức quản lý tiên tiến sao cho rừng có thể vừa nuôi người vừa nảy nở sinh sôi. Lúc đó anh đã trình bày với lãnh đạo khu, rằng trong những năm công tác ở miền Bắc, anh thấy hệ thống quản lý có nhiều điều không ổn. Anh tính, bình quân một sự việc, từ lúc đề ra cho đến khi thực hiện phải qua 6 cấp mới đến người làm, tốn hết 38 đơn vị thời gian nhưng chỉ có 13 đơn vị xem ra là cần thiết và hữu ích, còn lại là thừa. Đó là chưa kể đến tình trạng đáng buồn là chỉ số bình quân về năng lực của người lãnh đạo thấp hơn rất nhiều lần năng lực của người bị lãnh đạo. Hệ thống quản lý đó nói chung không đem lại hiệu quả. Riêng về ngành rừng, từ năm 1964, anh đã có ý kiến với Tổng cục Lâm nghiệp, rằng chúng ta chỉ bóc lột thiên nhiên, rừng khai thác đến đâu mất luôn đến đó. Như tỉnh Quảng Ninh, từ 1956 đến 1964, trong 8 năm số diện tích rừng được trồng theo số liệu cộng lại thì hơn diện tích tỉnh, nhưng thực tế đồi trọc vẫn là đồi trọc, trồng rừng không thành rừng. Tình cảnh người lao động nghề rừng ngày một thêm tồi tệ, con cái người làm rừng chẳng mấy ai muốn tiếp tục nghề bố mẹ. Anh đề xuất với lãnh đạo Khu ủy, rằng sau chiến tranh ta phải làm theo cách khác. Chúng ta đi lên từ cái thế là tài nguyên, từ cái lực là lao động, là vốn và từ tri thức. Ba điều kiện ấy chúng ta đều có đủ. Chính sách của Mặt trận dân tộc giải phóng cho phép phát huy mọi tiềm năng sẵn có trong dân, nhất là vốn, mà vốn thì lớn lắm, gồm tài sản ta thu của địch, tài sản của dân, của tư sản dân tộc… Mặt trận chỉ xem tư sản mại bản là kẻ thù thôi. Giúp kháng chiến đã có nhiều thành phần cùng góp sức, thì xây dựng hòa bình lẽ nào lại ít. Tại Đại hội Đảng bộ Khu năm 1974, trong tham luận về kinh tế-xã hội, anh đã phát biểu về việc làm thế nào để sử dụng hợp lý và bảo vệ “chất xám”. Anh phân tích thẳng thắn một số yếu tố chưa hợp lý trong việc tổ chức “đi B” hồi ấy, chỉ ra những cán bộ khoa học được đào tạo tốn bao nhiêu công phu tiền của rồi vào Nam chỉ để làm cái việc trồng sắn, tỉa bắp. Về lực lượng khoa học-kỹ thuật ở miền Nam, anh cho đây là tiềm lực lớn, phải được xem là tài sản quốc gia, là vốn qúy của đất nước sau giải phóng. Do hoàn cảnh lịch sử, hai phần ba trong số họ đã làm việc trong bộ máy ngụy quyền. Ta phải trước sau như một thực hiện chính sách hòa hợp dân tộc, phải trân trọng phát huy những sản phẩm trí tuệ của họ. Nếu không thì nạn chảy máu não, thì tình trạng vượt biên ra nước ngoài sẽ khó lòng tránh khỏi. Đó là quy luật “nước chảy về chỗ trũng”. Lúc đó, vì điều dự báo này mà suýt nữa anh đã bị bắt nếu không có sự can thiệp của đồng chí Bí thư Khu ủy.


Năm 1975, miền Nam được giải phóng… Không ngờ nghệch lúng túng như bao người khác, anh đem hết tài năng, nhiệt tâm và niềm tin của mình để thực hiện những dự định mà anh nung nấu.


Và anh đã phải trả giá.


3.


Nghị quyết khai trừ Trưởng ty Lâm nghiệp Hoàng Đình Bá khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam ký ngày 2-11-1978 ghi rõ “tội trạng” lớn nhất của anh như sau : “Trong việc ký hợp đồng với chủ thầu khoán để xây dựng hai công trình cho Ty, đồng chí Hoàng Đình Bá thiếu trách nhiệm để cho chủ thầu lấy vật liệu của Nhà nước bán cho Ty một cách phi pháp, khi kiểm tra phát hiện lại tìm cách bày mưu cho chủ thầu dựng chứng từ giả đế thanh toán và lậu thuế, làm thiệt hại cho Nhà nước 60.000 đồng”.


Tôi đã đến gặp người “chủ thầu khoán” ấy. Đó là ông Nguyễn Đăng Thiền, ngụ tại số nhà 150/4 tổ 4 khối phố Tân Ninh B phường Tân Chính thành phố Đà Nẵng. Với thái độ hiếu khách đặc biệt, ông vồn vã tiếp tôi, nhưng khi nghe tôi đề cập đến sự kiện mười hai năm trước, ông trở nên dè dặt, và khuôn mặt chằng chịt nếp nhăn của ông bỗng héo hắt hẳn đi. Ông nói :


- Ngày 25-7-1977,Ty Công an Quảng Nam-Đà Nẵng ra quyết định số 52 khởi tố tôi về tội “lừa đảo để chiếm đọat tài sản xã hội chủ nghĩa”, cái khoản 60.000 đồng mà người ta quy cho ông Bá ấy. Ngày đó tôi bị bắt giam. Đến ngày 9-4-1979, nghĩa là sau 21 tháng ở tù, tôi được tạm tha vì lý do “đã kết thúc cuộc điều tra”. Tạm tha, nên tôi tuy ở nhà nhưng vẫn chưa thoát tù, mỗi tuần phải đi trình diện một lần. Ngày 20-10-1980, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh ra quyết định số 96 miẽn tố tôi vì tôi không can tội chiếm đọat tài sản xã hội chủ nghĩa mà chỉ ghi là can tội trốn thuế 12.300 đồng, buộc tôi phải nộp, nhưng sau đó họ lại ra lệnh miễn thu vì điều tra thấy tôi không can tội trốn thuế. Và mãi đến ngày 25-4-1983 Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh mới ra quyết định số 2 hủy bỏ quyết định trước, công nhận tôi cũng không can tội trốn thuế và phục hồi mọi quyền lợi hợp pháp cho tôi.


Ông đưa cho tôi xem tất cả các văn bản có ký tên đóng dấu. Nó y sì như lời ông nói. Ông đã học thuộc lòng.


- Thế ra ông không có tội gì hết à ?


- Anh này hay thật. Anh chưa đọc hết mấy tờ giấy ấy à ? Tôi không có tội, nhưng người ta nghĩ là tôi có tội, như thế tự nhiên tôi phải ở tù. Sau đó người ta nghĩ lại, tôi thành ra vô tội. Hay thật anh nhỉ, nhưng anh nhớ cho rằng do tôi đã kiện hàng năm trời người ta mới nghĩ ra được như thế đấy !


Nhìn tấm thân bơ phờ sầu não của ông già 73 tuổi này, tôi bỗng thấy đau xót. Số phận hẩm hiu của ông nổi chìm theo năm tháng, theo từng cái quyết định của các cơ quan giám sát và thi hành pháp luật. Hóa ra, cuối cùng ông vẫn chưa hề có tội. Người ta buộc tội cái ông dân thường này chính là để vu khống cho Hoàng Đình Bá. Ông già đáng thương ấy đã vì anh mà phải chịu khổ ải suốt 6 năm trời. Điều đó thật đau lòng, nhưng đau lòng hơn là khi ông đã được minh oan thì cái tội tày đình mà người ta gán cho Hoàng Đình Bá vẫn còn nằm nguyên trên mực đen giấy trắng.


Ông già nhìn tôi bằng cặp mắt mờ đục, như vẫn đang ngơ ngác trước những gì đã xảy ra mà cho đến bây giờ ông chưa kịp hiểu :


- Đáng lẽ ông Bá là người có công, nhưng không hiểu quỷ quái thế nào lại thành ra có tội. Nói thiệt, lúc này người tôi thù nhất là ông Bá nhưng người tôi thương, tôi kính trọng nhất cũng là ông Bá. Ổng đã thuyết phục tôi, ban đầu tôi có chịu đâu, nhưng sau do nể ổng mà tôi đi làm cho cách mạng. Tôi làm chỉ để phục vụ thôi, chứ có lợi lộc gì, rồi khi không lại vào tù ra tội. Anh biết không, tôi đã đóng góp bao nhiêu thứ… nhưng thôi, mà tôi mệt quá, có đòi chắc gì họ đã trả. Tôi cũng định kiện một lần nữa để đòi người ta phục hồi danh dự cho tôi chứ, nhưng anh tính, tôi đã gần đất xa trời rồi, hơn thua nữa để làm gì ! Tội chỉ thương ông Bá, nước mình mà có nhiều ngườiđược như ông thì chắc đã không đến nỗi nào, phải không anh ? Bây giờ nghe đâu lại trần mình ra trồng cây trồng cỏ gì đó bên Sơn Trà. Rồi được cái gì, hay lại mang thêm vạ vào thân ?


Tiễn tôi ra cửa, ông còn nói với theo :


- Này anh, anh có quan hệ rộng, anh hãy nói cho khắp nơi người ta biết, cái nhà mà ông Bá đang ở đó, cũng là của ông già vợ ổng cho đấy nhé, ổng thì có cái cóc khô gì !


Chia tay ông già, tôi cứ nghĩ mãi về cái lý do vì sao ông bị oan ức đến vậy nhưng vẫn thương Hoàng Đình Bá, vẫn thương cái sự nghiệp của anh và chắc hẳn là vẫn tin vào những điều tốt đẹp...


Bản Nghị quyết nói trên còn ghi : “Thậm chí đồng chí Bá còn tự mình ký giấy giới thiệu một tên xấu là cán bộ trung cấp chính trị để được vào bệnh viện C điều trị”. Trước đó, văn bản kết luận của đoàn kiểm tra ngày 26-7-1977 có viết : “Việc theo dõi đôn đốc thực hiện hợp đồng với tổ hợp trong sử dụng kinh tế năm thành phần là khó, nhưng Ty lâm nghiệp(anh Bá) đã sử dụng anh Tuyên, một tư sản lớn phụ trách phần này, thật là khó, vì ví như : khi chưa được thuần hóa, chưa được huấn luyện, nhưng lại hướng dẫn đàn khỉ khác làm trò (!!!)”.


Lục ghi lại những chi tiết này, tôi tự thấy mình thật thiếu tế nhị, nhưng biết làm sao được khi đó là sự thật cần phải làm sáng tỏ, một sự thật đã bị dìm trong quên lãng mười mấy năm nay. Cái “con khỉ chưa được thuần hóa”, tức anh Tuyên, tức “tên xấu” ấy là ai ? Đó là anh Nguyễn Tuyên, một trí thức có trình độ chuyên môn cao, nguyên là tiểu đoàn trưởng bộ đội kháng chiến chống Pháp, sau 1954 là cơ sở cách mạng ở miền Nam, từ Đà Lạt về nhận việc làm tại ty Lâm nghiệp từ tháng 5-1975 theo giấy tiếp nhận của Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Quảng Đà. Cái “tội” của anh Bá là đã ký giấy giới thiệu cho anh Tuyên vào bệnh viện C (nơi dành cho bệnh nhân là cán bộ có mức lương từ 56 đồng trở lên) để nhổ răng vì anh Tuyên bị đau răng cấp tính. Tuy trong giấy giới thiệu anh Bá có thận trọng ghi rõ anh Tuyên “là nhân viên tạm tuyển chưa có lương, chức vụ trước đây là tiểu đoàn trưởng vệ quốc đoàn cách mạng (tương đương cán sự 6)”, nhưng người ta vẫn quy mấy chữ nằm trong cái ngoặc đơn ấy thành “trung cấp chính trị” để kết tội anh, hẳn là do anh khinh suất xem tính mạng con người trọng hơn các thủ tục hành chính. Còn “đàn khỉ làm trò”, tức các tổ hợp tư nhân ấy là gì ? Đó là 500 đơn vị lớn nhỏ gồm 4000 người mà 99% là người lao động, gồm thợ thủ công, nông dân và dân nghèo. Và nhiệm vụ của anh Tuyên là hướng dẫn kỹ thuật làm ván sàn xuất khẩu.


Những chi tiết phi lý như trên còn nhiều nữa, nhưng tôi thấy không cần thiết phải kể thêm vì bài viết này không nhằm mục đích tìm chứng cứ minh oan cho Hoàng Đình Bá. Bản thân các sự việc đã đủ sức mạnh để chứng minh lòng ngay thật của anh.


Bây giờ, những ai biết Hoàng Đình Bá đều hiểu rằng, cái gốc dẫn đến vụ kỷ luật là ở chỗ, ý chí của nhà quản lý và tư duy của nhà khoa học quyện chặt trong con người anh, đưa anh đến những cố gắng thiết lập cho bằng được một hệ thống quản lý tối ưu sao cho những tài nguyên của rừng phải được kinh doanh và bảo vệ có hiệu quả nhất. Những cố gắng của anh đã được người lãnh đạo Đảng cao nhất của tỉnh lúc đó kết luận : “Anh Bá, đây là tù binh của giai cấp tư sản”. Thế là bao nhiêu dự tính tưởng có thể thực hiện được bỗng chốc tan thành mây khói.


4.


Ngay sau giải phóng anh đã từ chối không nhận chức Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp với ý nghĩ sở trường và nhiệt tâm của mình có thể được phát huy cao nhất tại tỉnh này, tỉnh quê hương ruột thịt.


Với cái thế thuận lợi của rừng lâm đặc sản vùng nhiệt đới ẩm cộng với vật tư vốn liếng cùng sức dân có được sau ngày chiến thắng, anh tin rằng ta thừa sức làm nên chuyện. Việc trước hết là xây dựng cơ sở hạ tầng. Anh đề xuất kế hoạch làm một hệ thống giao thông gồm các tuyến đường nhựa nối từ các trục chính qua vùng cát xuyên trung du lên các huyện miền núi phía tây và tuyến đường sắt lâm nghiệp từ Hòa Cầm lên Phước Sơn qua Trà My chạy xuống Tam Kỳ. Công việc lúc ấy nằm trong tầm tay vì vốn và vật tư không thiếu. Nhưng lãnh đạo không chấp nhận. Để lỡ cơ nên bây giờ giao thông khó khăn không khắc phục nổi. Mật độ đường bình quân cả tỉnh nay chỉ mới có một ki-lô-mét rưỡi trên nghìn hecta mà nhu cầu bình quân tối thiểu phải là sáu ki-lô-mét. Đường đã ít, lại quá xấu, chủ yếu là đường đất, sức chịu lực của cầu đường nhỏ hơn trọng tải xe chở gỗ, nên chi phí vận chuyển lớn gấp bảy lần so với đường nhựa, làm cho giá thành lâm sản quá cao. Hàng hóa nhân dân làm ra không lưu thông được, kinh tế miền núi cứ đứng chân tại chỗ. Nay lãnh đạo hiểu ra thì đã quá muộn màng.


Anh cũng tính kỹ các phương án kinh tế lâm nghiệp trên cơ sở tận dụng khả năng tối đa của các thành phần. Theo đó, cái gì cần thiết phải quốc doanh, cái gì cần tập thể hóa, cần hợp doanh liên kết, còn cái gì phải để cho tư nhân, cá thể làm, tất cả đều dựa trên hiệu quả kinh tế. Từ phương án đó, đã xuất hiện ở Quảng Nam – Đà Nẵng lúc bấy giờ 374 đơn vị tư doanh về vườn ươm và trồng rừng, 40 cơ sở tư doanh về khai thác, vận chuyển và chế biến gỗ bên cạnh 26 đơn vị quốc doanh. Các tổ chức này hoàn toàn đủ khả năng phủ xanh toàn bộ vùng cát và đồi bãi hoang trọc trong một thời gian ngắn. Đồng thời, anh đã cùng tập thể cán bộ ngành bắt tay xây dựng các chương trình khôi phục và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Đó là các dự án về vườn quốc gia Quảng Nam – Đà Nẵng, dự án khôi phụ và bảo vệ đầu nguồn sông Thu Bồn, xây dựng khu Dược liệu Trà Linh, chương trình nông lâm kết hợp, chương trình phát triển 4 huyện miền núi, chương trình chống sa mạc hóa vùng Trảng Chuổi Quế Sơn, chương trình hợp tác với nước ngoài, việc xác lập cơ sở khoa học về môn kinh tế sinh thái học… Anh cho biết, công việc của trưởng ty nếu được tổ chức theo phương pháp khoa học, mỗi ngày chỉ mất hai tiếng đồng hồ, thì giờ còn lại sẽ dành cho công tác nghiên cứu.


Nhưng mọi thứ làm đến đâu vướng đến đó. Anh tổ chức lại bộ máy quản lý của Ty theo hướng điều khiển trực tuyến và dựa trên năng lực cán bộ. Theo đó, Ty Lâm nghiệp chỉ cần tối đa là 32 người, thay vì 120 người như quy định. Tưởng dễ, hóa ra lại khó. Anh mang phương án này ra đến Ban Tổ chức và Ban Nông nghiệp Trung ương Đảng. Trung ương cho là hay nhưng không chấp nhận vì vệc này sai thể lệ. Thể lệ đã quy định 120 thì cứ 120 mà làm, làm khác chỉ sinh rắc rối. Riêng anh Hoàng Văn Kiểu, bộ trưởng Lâm nghiệp bảo : “Tuy người ta không tán thành nhưng vì nó đúng, nên anh về cứ làm đi !”. Cứ làm đi sao được, phải xin ý kiến lại tỉnh. Trái thể lệ, tỉnh vẫn không cho. Thật ngán ngẫm. Cái thể lệ ấy không phải anh không biết nó, anh đã chờn nó từ khi còn ở miền Bắc kia, về đây tưởng thoát, nhưng không thoát được. Nó lại níu chân anh.


Phủ xanh 30 vạn hecta đất trọc là việc cấp bách. Nhất thiết phải có sức mạnh toàn dân. Được sự tài trợ lớn của quốc tế. Lãnh đạo khu, lãnh đạo tỉnh nhất trí phương châm dân làm dân hưởng, phong trào phát triển rầm rộ. Nhưng phong trào bị cơ chế bóp nghẹt, đứng khựng lại. Một thời gian dài rừng như không chủ. Dân làm dân hưởng nhưng dân có phải là chủ rừng không, không ai trả lời rành mạch, sinh ra lắm thứ nhiêu khê. Những vườn rừng bạt ngàn phủ trên cát trắng ở Bình Dương, Duy Nghĩa, Duy Hải… đã bị chặt phá tan tành vì không rõ quyền sở hữu, không rõ quyền sử dụng, đến bây giờ việc tranh chấp đã giải quyết xong đâu. Còn điều này nữa : trồng rừng, khai thác, chế biến … ai làm ? Người lao động làm. Đã làm thì phải hưởng xứng đáng với công sức bỏ ra chứ. Ty Lâm nghiệp chủ trương khoán sản phẩm, khoán khối lượng và trả công theo giá trị lao động. Và Trưởng ty đã bị quy kết là “lập trường giai cấp mơ hồ”, là “đã vận dụng quy luật giá trị của chủ nghĩa tư bản”, là “vi phạm nguyên tắc quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa”.


Anh bị đình chỉ công tác, bị kỷ luật giữa lúc cả tỉnh ráo riết tiến hành cải tạo công thương nghiệp và hợp tác hóa nông nghiệp. Tất cả mọi thứ mới nghĩ suy, mới chuẩn bị, mới bắt tay làm thì tai họa ập đến. Các đơn vị kinh tế lâm nghiệp suy thoái, hệ thống tổ chức sản xuất tư doanh tan rã, và điều cay nghiệt là có 27 triệu cây bạch đàn đã ươm, đã trồng phải nhận quyết định hủy diệt (vì cho trồng bạch đàn là mắc mưu của bành trướng Trung Quốc). Một đội ngũ kỹ sư và cán bộ kỹ thuật có tầm cỡ ở nhiều nơi trong nước đã hội tụ về đây làm việc với anh, phải rời khỏi tỉnh này ra đi.


Nhìn lại rừng mà đau. 30 vạn hecta đất trọc, trồng mãi bao nhiêu năm, nay lại trọc lên 40 vạn hecta. Kinh tế rừng thì hái lượm. Đáng lẽ trồng mười mới chặt một, thì chỉ có khai thác và quét sạch luôn, vô tội vạ. Rừng không được bảo vệ nên mỗi năm mất thêm một phần mười diện tích.


Giữa những ngày cuối tháng tư năm nay tôi lại đến thăm Hoàng Đình Bá. Mời tôi một cốc nước chè pha bằng thứ nước máy bị nhiễm mặn, anh chậm rãi nói :

- Đồng chí có biết vì sao chỉ mới bước vào mùa hè mà thành phố Đà Nẵng phải uống thứ nước mặn này không ? Đó là do lượng nước sông Thu Bồn chảy trong mùa khô giảm đến mức khủng khiếp. Lượng nước sông giảm thì nước biển tràn lên. Nước máy cho thành phố lấy tại Cầu Đỏ. Nước biển lên đến Cầu Đỏ thì chúng ta uống nước mặn. Điều này ai cũng biết. Nhưng trước đây không có thế, vậy mới đặt nhà máy nước tại Cầu Đỏ. Cách đây chỉ hai mươi năm, tại vị trí Nông Sơn, sông Thu Bồn chảy trong mùa khô gần 50 mét khối trên một giây, mấy năm nay chỉ còn không đến 15 mét khối. Tác hại của việc phá rừng thật không lường hết được. Nước sông khô cạn, hàng chục trạm bơm không còn tác dụng, lòng sông thuyền bè không đi được. Sông Hương An chết, sông Bà Rén chết, Cửa Đại Chiêm chết kéo theo cái điêu tàn của phố cổ Hội An…


Tôi hỏi :


- Theo anh thì vấn đề nước ngọt cho thành phố phải giải quyết thế nào, chẳng lẽ mùa hè cứ phải dùng nước mặn ?


- Nước cho thành phố có thể có nhiều giải pháp, nhưng cơ bản và lâu dài là phải phục hồi rừng đầu nguồn.


- Còn nước ngọt ở Suối Đá Sơn Trà ?


- Sơn Trà có cả thảy 16 suối nước ngọt với trữ lượng nước mưa 80 triệu m3/năm, nếu sử dụng hết có thể thừa cung cấp cho thành phố và cho cả tàu cập cảng. Nhưng cũng phải phục hồi rừng. Sơn Trà là rừng cấm quốc gia nhưng đã bị phá mất tám mươi phần trăm rồi. Riêng lượng nước chảy ở Suối Đá trong mùa kiệt năm 1975 đo được 250m3/giờ, nay chỉ còn không tới 80 m3. Với cái đà này, không bao nhiêu năm nữa Sơn Trà sẽ chỉ còn đất trọc và chắc chắn những con suối cũng sẽ chết. Khôi phục lại bốn trăm hecta rừng ở khu vực Suối Đá phải mất hàng chục năm, tốn hàng chục tỷ đồng, phải trồng những loại cây có bộ rễ sâu, nhất là phải chọn nhập những loại cây có bộ rễ đặc biệt sâu 30 mét, mới mong giữ được lượng nước như hồi sau giải phóng.


Anh nói tiếp :


- Từ trên máy bay nhìn xuống thân hình quê hương mới thấy đau lòng. Toàn bộ đồng bằng không còn rừng, trung du hoang trọc, miền núi điêu tàn. Cả một thảm thực vật rừng đã và đang bị con người thi nhau cắn xé. Hệ sinh thái bị phá vỡ, môi trường sống trên đà bị hủy diệt. Đó là sự thật. Và thiên nhiên đã trả đũa, bằng tần suất lũ lụt ngày một tăng, bằng hạn hán kéo dài, bằng sự khô kiệt của những dòng chảy, bằng sự bào mòn xói lở làm cho đất đai ong hóa, bạc màu, bằng những cơn gió lốc nóng thiêu cháy…


Tôi bỗng nhớ đến con sông Bà Rén mà cách đây hơn 14 năm chúng tôi đã từng hăm hở tham gia trong đoàn quân đi đào lại. Tôi hỏi anh :


- Anh nghĩ gì về việc đào lại con sông Bà Rén khi ấy ?


- Sông Bà Rén chết, như đồng chí biết, là do không giữ rừng đầu nguồn. Lũ tràn xuống nhiều năm kéo theo bùn cát lấp sông. Đáng lẽ phải giải quyết từ gốc thì người ta chỉ làm cái ngọn. Toàn dân được huy động đi đào sông. Kết quả là chỉ sau một mùa lũ sông bị lấp lại. Bao nhiêu công sức, tiền của đem đổ biển. Hồi ấy giới khoa học đề nghị không nên làm cách đó, nhưng lãnh đạo không nghe.


- Còn cái dự án về đầu nguồn sông Thu Bồn ?


- Không riêng gì cái dự án ấy mà nhiều việc khác nữa cũng không thực hiện được. Vì sao thì đồng chí biết rồi. Tôi bị cho nghỉ việc, nhiều đồng chí chuyển đi nơi khác, đó chỉ là một phần của lý do. Anh em có tâm huyết còn lại cũng bó tay. Tất thảy bị nhốt vào cái rọ của cơ chế quan liêu.


- Giả dụ như ngay từ sau ngày giải phóng ta có cơ chế quản lý tốt, tận dụng được mọi điều kiện có sẵn lúc đó thì rừng có được bảo vệ tốt không ? Tôi hỏi tiếp.


Anh trả lời một cách tin tưởng, không suy tính :


- Hoàn toàn được. Và có thể kinh doanh để làm giàu nữa.


- Không cần có sự đầu tư của nước ngoài ?


- Đó là vấn đề khác. Hợp tác liên kết với nước ngoài là xu thế tất yếu mà lúc đó chúng tôi cũng đã tính. Nhưng có một thực tế như thế này : số tài sản, vốn liếng vật chất mà ta đã phung phí do sai lầm trong cải tạo, do quản lý không tốt để phá hủy, để hư hỏng, đem tiêu xài… cộng lại chắc chắn lớn hơn rất nhiều lần số vốn mà nước ngoài sẽ đầu tư trong nhiều năm tới. Tôi xin nêu một dẫn chứng nhỏ thôi, để có thể suy ra nhiều thứ. Cái xí nghiệp lâm nghiệp Quế Sơn trước kia là một tổ hợp có sáu chiếc xe bò vàng. Sáu chiếc ấy chỉ chiếm một phần ba tài sản của tổ hợp. Tổ hợp được cải tạo, biến thành xí nghiệp quốc doanh. Bây giờ nếu bán hết tài sản của xí nghiệp này để mua lại xe bò vàng cũng không mua nổi ba chiếc… Đó là thực tế chung của nền kinh tế, không riêng gì lâm nghiệp.


Vâng, điều đó hẳn nhiều người cũng đã biết. Và còn điều này nữa : não bị chảy máu, chất xám bị phung phí, trí tuệ bị khinh rẻ. Đó là tai họa thực sự của đất nước. Hoàng Đình Bá, một nhà khoa học, một trí thức xã hội chủ nghĩa thực sự có tầm cỡ, người được đánh giá là một trong những con chim đầu đàn về lâm nghiệp không chỉ của Việt Nam mà của cả Đông Nam Á, chỉ là một trong những nạn nhân.


5.


Hoàng Đình Bá đã phải kêu lên vô cùng đau đớn trong bản trình bày gửi Đảng và Nhà nước ngày 4-1-1979 : “Tôi rất sốt ruột và chờ đợi mãi, tôi phải tự động đi tìm việc để làm… Kính thưa Đảng ! Tôi không thể chịu đựng được nữa, mà từng phút từng giây chờ đón nhiệm vụ, vị trí chiến đấu của mình”. Anh kêu lên như vậy để xin được làm việc ! Còn về những điều người ta kết tội mình thì anh không phản ứng ồn ào mà chỉ trình bày lại bằng những lời lẽ hết sức nhã nhặn, đủ để cho các cấp có trách nhiệm hiểu rằng, dựa vào tất cả hồ sơ và nhân chứng, trước sau anh chẳng làm điều gì nên tội.


Cuối cùng, sau gần hai năm bị đình chỉ công tác anh mới được đi làm lại, với tư cách là một chuyên viên của Ủy ban Khoa học-kỹ thuật tỉnh. Dĩ nhiên anh không còn được ở trong Đảng. Nhưng anh đã làm mọi thứ có thể làm, không nề hà, không nghỉ ngơi. Anh tiếp tục lao vào nghiên cứu lâm sinh, nghiên cứu kinh tế, làm khoa học xã hội, xây dựng các chương trình dự báo dài hạn ứng dụng khoa học-kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, làm tiếp dự án Vườn Quốc gia, làm thông tin khoa học, tham gia giảng dạy… Giờ đây, anh đang chuẩn bị đề án xây dựng một ngôi nhà chất xám, mà theo anh đó sẽ là “ngân hàng trí tuệ” của Đà Nẵng và khu vực miền Trung.


Cuộc sống của Hoàng Đình Bá chính là công việc. Anh yêu thiên nhiên và hiểu thiên nhiên tường tận đến mức làm nhiều người kinh ngạc, như thể núi rừng sông suối tỉnh này là vườn nhà của anh. Trước khi đê xuất dự án về Vườn Quốc gia, ngoài việc phải có trong tay tất cả các tài liệu liên quan, anh còn tự mình khảo sát hết sức kỹ lưỡng những khu rừng. Chính anh đã tìm ra 16 con suối và 27 con đường mà người ta lên để chặt phá rừng cấm Sơn Trà. Và anh đã kiên nhẫn hàng ngày ngồi đếm người đốn củi ở mỗi tuyến đường, kiên nhẫn đo dòng chảy của từng con suối. Bằng việc làm đó, anh biết được diễn thế rừng và tính được số phận tương lai của nó. Anh bảo, đây là việc làm bình thường của người làm khoa học, ai mà chẳng thế. Tuy đã gần 60 tuổi, nhưng dù bận đến bao nhiêu, mỗi ngày anh vẫn dành ít nhất 4 giờ để đọc sách, để tiếp cận những thông tin khoa học mới nhất. Vợ anh kể, rất nhiều đêm, mãi đến gần sáng chị dậy nấu cơm vẫn thấy anh còn ngồi trên bàn viết. Thư viện cá nhân của anh có hàng chục ngàn đầu sách và vô số tài liệu khoa học qúy giá. Đó là tất cả những gì anh dành dụm tích góp mấy chục năm để phục vụ cho công tác nghiên cứu.

*

* *

Thời gian trôi qua và cuộc sống cứ căng mình trong sự lo toan nghìn nỗi. Có lẽ người ta phải quên đi những gì cần quên như phải nhớ những gì cần nhớ. Hoàng Đình Bá như muốn quên đi những tội danh bị vu cáo và bản kỷ luật thất đức bị gán cho mình. Nhưng chúng vẫn còn đó, trơ trên giấy trắng, thách thức với lương tri.


Mới đây, tôi được anh dẫn lên thăm rừng cấm Sơn Trà. Chúng tôi ở lại đêm chỗ vườn cây của anh, nơi anh dành tất cả thì giờ rảnh rỗi để trồng tỉa, chăm sóc, khảo nghiệm. Vùng này mười năm trước còn là rừng già, nay chung quanh chỉ có trồi trống xương xẩu, lác đác những bụi cây chen trong đá xám. Nằm giữa trời nói chuyện đến gần sáng, trong không khí se lạnh, nhìn lên vầng trăng muộn đang rúc vào mây, anh tâm sự :


- Tôi già rồi, nhưng cần phải sống thêm ít ra là mười bốn năm nữa. Có những việc tôi đang khảo nghiệm, đến mười bốn năm sau mới biết kết quả…


Tiếng suối reo lảnh lót. Tôi nằm im lặng nghe anh nói, trong đầu xốn xang bao nhiêu ý nghĩ. Mỗi năm có hai muơi triệu hecta rừng nhiệt đới trên hành tinh bị tuyệt diệt. Ở cái tỉnh miền Trung của nước Việt Nam nhỏ bé này rồi cũng sẽ không còn rừng. Còn anh, còn những người như anh, đang phải âm thầm và đơn độc chống chọi lại sự ngông cuồng ngạo mạn của số đông, để giữ cho cây rừng xanh lá.


H.K.S

(bài đăng trên Đất Quảng, 1989)

_____________________________________________________

Mấy thông tin cần nói thêm :

1- Chuyện về Hoàng Đình Bá ở Quảng Nam, Đà Nẵng và trong giới khoa học cả nước có nhiều người biết, nhưng trên phương tiện thông tin đại chúng hình như chỉ có bài viết này. Rất tiếc tạp chí văn nghệ Đất Quảng hồi đó phát hành số lượng ít và chưa có internet, nên rốt cuộc câu chuyện này vẫn rơi vào quên lãng.

2- Theo tui biết, ông Võ Chí Công khi còn đương chức nhiều lần có nhắc lãnh đạo Tỉnh ủy Quảng Nam-Đà Nẵng "khôi phục lại toàn bộ vị trí cho anh Bá" (theo lời cô Phương Hiền, con nuôi ông Võ Chí Công kể lại với tui), nhưng lãnh đạo Tỉnh ủy hồi đó thấy không tiện, có lẽ không muốn lật lại chuyện của những người tiền nhiệm.

3- Sau khi Đất Quảng đăng bài này, tui đã gặp người nói "Anh Bá, đây là tù binh của giai cấp tư sản". Ông ấy là nhân vật tôi rất kính trọng, sau này là một trong những người Đổi Mới kiên quyết nhất. Tui nói chuyện ông Bá, ông ấy chỉ hỏi một câu : "Anh Bá bây giờ có khỏe không ?".

4- Mấy năm sau khi ra Hà Nội, tui có gặp ông Đỗ Quang Thắng, lúc đó là Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng. Tui có hỏi ông Thắng vấn đề ông Bá, ông Thắng nói : "Không thấy khiếu nại".

5- Ông Bá không chỉ sống thêm được 14 năm, mà vẫn sống đến bây giờ. Năm nay ông đã 79 tuổi, vẫn hăm hở bảo vệ rừng và đang theo đuổi một số dự án về môi sinh-kinh tế, vẫn tin tưởng vào những điều tốt đẹp. Không chỉ bây giờ ông mới quên hẳn chuyện cũ, mà đã quên từ 20 năm trước. Khi còn tuổi làm việc ông đã không cần khôi phục chức vụ, huống hồ bây giờ ông đã quá già. Nhưng vấn đề là không ai khôi phục danh dự cho ông.

6- Hoàng Đình Bá vẫn là câu chuyện thời sự. Cứ mỗi trận lũ lụt lớn ở miền Trung, miền Bắc, và mới đây nhất là trận lụt chết nhiều người ngay tại thủ đô, tui lại nhớ đến ông và nhớ câu thơ của ai đó mà ông thường đọc : "Hồn Tổ Quốc nằm trong rừng xanh thẳm/Rừng điêu tàn là Tổ Quốc điêu linh".

__________________________

* Tấm hình ông Bá trên đây do anh Lê Văn Thọ (Báo Thanh Niên) vừa chụp gửi cho tui.