Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang Tử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang Tử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, ngày 07 tháng 3 năm 2012

Mon men theo Trang Tử (2)

"Ngô sinh dã hữu nhai, nhi tri dã vô nhai; dĩ hữu nhai tùy vô nhai, đãi dĩ ! Dĩ nhi vi tri giả, đãi nhi dĩ hĩ ! Vi thiện vô cận danh, vi ác vô cận hình, duyên đốc dĩ vi kinh, khả dĩ bảo thân, khả dĩ toàn sinh, khả dĩ dưỡng thân, khả dĩ tận niên".
(吾生也有涯,而知也無涯。以有涯隨無涯,殆已!已而為知者,殆而已矣!為善無近名,為惡無近刑,緣督以為經,可以保身,可以全生,可以養親,可以盡年)
Tạm dịch :
"Đời ta có hạn mà tri thức thì không bờ. Lấy cái có hạn mà đuổi theo cái không bờ thì nguy. Đã biết nguy mà còn đuổi theo thì càng nguy hơn. Làm điều thiện không gần danh, làm điều ác không gần hình phạt, duyên đốc dĩ vi kinh, có thể giữ được thân mình, có thể bảo toàn được sinh mệnh, có thể phụng dưỡng được mẹ cha, có thể sống trọn tuổi trời".
Riêng 5 chữ "duyên đốc dĩ vi kinh", theo tôi thì không thể dịch được, mặc dù đã có nhiều người dịch.
Ông Nhượng Tống dịch là "dựa theo sống lưng để làm đường dọc", đọc nghe sượng trân, không ai hiểu ý của câu này là gì.
Ông Nguyễn Hiến Lê dịch "chỉ người nào giữ cái đạo trung", dù phía dưới ông có chua thêm : "duyên đốc" là "theo mạch đốc", có nghĩa là giữ đạo trung, không thiên lệch, không thái quá. Dịch như vậy đọc cũng không hiểu. Nếu vậy thì tại sao Trang Tử không nói luôn là "giữ đạo trung" cho dễ hiểu mà phải nói "theo mạch đốc" cho rắc rối ?
Ông Nguyễn Duy Cần thì dịch "theo con đường giữa mà đi", phía dưới ông có chua thêm : Duyên đốc: Duyên có nghĩa là thuận; đốc là giữa. Muốn giữ được Đạo dưỡng sinh, cần ăn ở mực thước, đừng có cái gì thái quá. No quá, đói quá không nên; vui quá, buồn quá cũng không nên. Dịch như vậy cũng na ná như ông Nguyễn Hiến Lê dịch, lời chua cũng không làm người ta hiểu thêm được điều gì.
Tóm lại, 5 chữ đó không dịch ra tiếng Việt được. Nó cũng là một thứ "vô nhai". Tôi hoàn toàn không có ý nói tiếng Việt ta là “hữu nhai”, không đuổi kịp 5 chữ Hán “vô nhai” kia. Tôi dám chắc rằng hơn hai ngàn năm nay, bất kỳ văn nhân học giả nào, dù là người Hán hay Việt, khi đọc đến 5 chữ trên đều ngắc ngứ.
Trang Tử biết rõ hơn ai hết sự giới hạn của ngôn ngữ. Ông đã phải sử dụng “tam ngôn” – ngụ ngôn, trùng ngôn, chi ngôn – để có thể diễn đạt một cách tối đa những gì ông muốn nói. Nhưng giữa ngổn ngang những ngụ ngôn trùng ngôn chi ngôn của Trang Tử, bạn phải nhìn cho ra những chỗ nhiếp dẫn và mon men theo đó mà dòm vào chỗ “vô ngôn” và những mật ngữ.
Trong 5 chữ trên, 2 chữ “Đốc” và “Kinh” là những mật ngữ. Dòm thấy rồi, nhưng để hiểu thì bạn nhất định phải đi tìm một bậc chân y theo học nghề thầy thuốc để biết bắt mạch. Học nghề thầy thuốc không thể học qua sách vở, vì sách vở đông y trôi nổi trên thị trường không thể tin được, thầy thuốc không do chân truyền cũng không thể tin. Học từ sách ấy, từ thầy ấy bạn có thể bị tẩu hỏa nhập ma.Chân y thời nay có thể có vài người, trong vài người đó tôi biết một người. Đó là ông Nguyễn Phúc Ưng Viên. Nhưng ông Ưng Viên bảo rằng nghề thầy thuốc ngay cả cha truyền cho con, ông truyền cho cháu, đứa nào thông minh cũng phải mất 15 năm mới biết được 8 trong số 24 mạch danh căn bản mà một thầy thuốc cần biết.
Phải biết rõ 24 mạch danh thì mới hiểu được Trang Tử muốn nói gì qua 5 chữ “Duyên đốc dĩ vi kinh”, tức là từ khi dòm thấy hai chữ “Đốc” và “Kinh” đến khi hiểu “Duyên đốc dĩ vi kinh” bạn phải mất ít nhất 45 năm, nếu bạn là một người thông minh.
Chỉ nghĩ đến số năm thôi, đã thấy hơi bị tổn thọ rồi, trong khi Nam Hoa Kinh vốn không phải là cuốn sách đọc để mà tổn thọ. Tạm stop câu chuyện tổn thọ này tại đây để đọc lại mấy câu thơ lô hỏa thuần thanh của Bùi Giáng cho vui vẻ trường thọ :
Phật ngồi dưới gốc bồ đề
Tiên nương dừng bước tóc thề chấm vai

Thưa rằng Phật thật là tài

Thấy mà như chẳng tự ngoài vào trong
(còn tiếp)

Thứ Bảy, ngày 11 tháng 2 năm 2012

Mon men theo Trang Tử (1)

Trâu ngựa có bốn chân, ấy là Trời
Khớp đầu ngựa xỏ mũi trâu, ấy là Người
(Trang Tử)
Trang Tử chỉ để lại một Nam Hoa Kinh vỏn vẹn mười vạn chữ, nhưng gần hai ngàn rưỡi năm nay thiên hạ đã phải dùng tới thiên kinh vạn quyển để mổ xẻ mười vạn chữ đó, mà nào có mổ xẻ xong đâu.
Mười vạn chữ mà “bao la vạn khoảnh, biến hóa khôn lường” (lời Lỗ Tấn).
Có người còn nói nếu như mọi sách vở cổ kim của Trung Quốc buộc phải biến mất khỏi mặt đất, chỉ cho phép để lại một cuốn duy nhất thôi thì cuốn đó phải là Nam Hoa Kinh.
Điều kỳ dị của cuốn Nam Hoa Kinh là ở chỗ không ai có thể tự cho mình hiểu hết được nó, càng cố hiểu càng thấy rối mù. Ngay cả việc cuốn sách ấy phần nào do chính Trang Tử viết, phần nào do người đời sau viết, cũng khó mà xác định. Nhiều thế hệ học giả Trung Quốc đã dày công so sánh, đối chiếu, loại suy và xác định được 7 thiên thuộc phần Nội thiên là do chính Trang Tử viết, còn phần Ngoại thiên và Tạp thiên nhiều khả năng do người đời sau viết thêm vào. Nhưng ông Bùi Giáng của chúng ta thì bảo chưa chắc, biết đâu Trang Tử đã dùng lối nghịch hành.
Tư Mã Thiên nói các bậc vương công không ai biết nổi Trang Tử là người như thế nào. Mà đâu chỉ có các vương công, các văn nhân học giả cũng vậy thôi, đâu có mấy người biết nổi. Phải lấy Trang Tử mà giải thích Trang Tử, tuyệt đối không nghe sự giải thích của bất kỳ ai và đừng bắt ai phải theo Trang Tử, đó là lời khuyên của các bậc túc học “biết biển biết rừng” thời xưa ở Trung Quốc.
Việt Nam hiện có 4 bản dịch Nam Hoa Kinh, của Nhượng Tống, của Nguyễn Hiến Lê, của Nguyễn Duy Cần và của Nguyễn Tôn Nhan. Đọc mỗi bản dịch kèm theo lời bình giải, bạn sẽ hiểu Trang Tử theo mỗi cách khác nhau. Ông Nguyễn Hiến Lê soạn sách công phu nhất, nhưng đọc sách của Nguyễn Hiến Lê người ta thấy cái công phu của Nguyễn Hiến Lê thì nhiều mà thấy Trang Tử thì ít nhất. Nhưng nếu đọc những trang ngao du cà rỡn của Bùi Giáng về Trang Tử, bạn lại thấy Trang Tử nhiều hơn bất cứ chỗ nào.
Để mon men theo Trang Tử thật không biết phải đi đường nào, bởi mọi “con đường” đều không đến được ông. “Đạo” của Trang Tử không phải là một “con đường”, mà ở mọi vật mọi chốn mọi nơi, mênh mông bát ngát. Ông phất ống tay áo lên là biến thành tấm lưới lồng lộng thâu tóm luôn hai ngàn rưỡi năm dâu bể.
Cần phải có học cao biết rộng mới tiếp cận được Trang Tử chăng ? Không hẳn. Trang Tử bảo kiến thức sách vở là “đôi dép mục”, là “cặn bã” của tiền nhân. Theo đó thì “lấy Trang Tử mà giải thích Trang Tử” chắc cũng không ổn, vì Nam Hoa Kinh cũng chỉ là “đôi dép mục” mà thôi.
Phải là chính nhân quân tử mới tiếp cận được Trang Tử chăng ? Cũng không luôn. Trang Tử phản đối nhân nghĩa. Theo ông thì dân vốn sống tự nhiên cùng đồng ruộng cây cối chim muông, “dệt mà mặc, cày mà ăn”, “ngậm cơm mà vui, vỗ bụng mà chơi”, “không biết gì là quân tử với tiểu nhân”. Đó là đạo đức thường hằng hồn nhiên như cây cỏ. Chính những kẻ gọi là thánh nhân “cặm cụi làm nhân, tập tễnh làm nghĩa, mà thiên hạ sinh ngờ; lan man làm nhạc, khúm núm làm lễ, mà thiên hạ mới phân chia”. Phải hủy đạo đức mới làm được nhân nghĩa, vì đạo đức không phế thì lấy đâu ra nhân nghĩa ?
Trang Tử lên án cả những “người tốt” lúc chết khiến mọi người thương khóc. Lão Tử chết, “người già khóc như khóc con mình, người trẻ khóc như khóc mẹ mình”, Trang Tử cho rằng người này lúc sống ắt có những chuyện “không cần nói mà nói, không cần khóc mà khóc”, khiến cho thiên hạ nhớ những gì ông ta đã “cho” mà quên đi những gì ông ta đã “nhận”. Đó là “vi thiện cận danh”, ông coi chẳng ra gì. Chủ trương “vi thiện vô cận danh” (làm thiện không gần danh) của ông nghe dễ hiểu mặc dù khó làm, ở một phương trời khác Jésus cũng từng nói : “Tay phải làm điều thiện không được cho tay trái biết”. Nhưng Trang Tử lại bảo “vi ác vô cận hình” (làm ác không gần hình phạt) thì nghe quá choáng, mặc dù nó không khác mấy bài “lách luật” mà ngày nay thiên hạ vẫn thường áp dụng.
Ông “tề vật” một cái là sống chết như nhau, nhỏ to không phân biệt, thiện ác phải quấy san bằng. Cái chiêu “tề vật” của ông có kình lực ghê người, làm rung chuyển hơn hai thiên niên kỷ, khiến cho các công hầu khanh tướng lũ lượt giũ áo từ quan về nấu cơm cho vợ, kéo vua chúa từ ngai vàng xuống đồng rộng và lôi sư sãi ra khỏi chùa chiền “thõng tay vào chợ”. Một nhị tổ Thiền tông Huệ Khả sau khi đại ngộ được truyền y bát hẳn hoi, đã suốt đời lang thang lao động kiếm sống, uống rượu ăn thịt như một phàm phu. Không phải Trang làm cho Phật đảo điên. Phải chăng hội tụ với Trang, Phật trở lại với cái vô biên vốn có của đời thường, “Như lai giả vô sở tùng lai diệc vô sở khứ cố danh Như Lai” ?
(còn tiếp)