Hiển thị các bài đăng có nhãn baochi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn baochi. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, ngày 19 tháng 7 năm 2009

Vĩnh biệt một nhà báo chính trực


Ngôi sao truyền hình huyền thoại Mỹ Walter Cronkite vừa qua đời ngày 17-7 ở tuổi 92, trong lòng ngưỡng mộ không tàn phai của nước Mỹ.

Ông là một trong những nhà báo đứng ở trung tâm thời cuộc chứng kiến hầu hết những sự kiện nóng bỏng của thế kỷ 20, kể từ khi bắt đầu Đại chiến thế giới lần thứ hai. Đặc biệt, với tư cách là một nhà báo và người dẫn chương trình thời sự buổi tối của hãng truyền hình CBS trong suốt hai mươi năm (1962-1981), Cronkite trở thành người gần gũi thân thiết với hàng triệu gia đình Mỹ bởi lòng trung thực, thái độ thẳng thắn và giọng nói ấm áp của mình. Mỗi buổi tối, ông đem đến cho công chúng những thông tin khách quan về những sự kiện lớn lao, những điều có ý nghĩa của nước Mỹ và thế giới cùng những thảm họa, những đau thương và những sai lầm, những chuyện xấu xa của nhà cầm quyền, bất chấp những người cầm quyền có thích hay không.

Ông phản đối chính quyền Mỹ leo thang chiến tranh Việt Nam bằng những tường thuật khách quan nóng hổi. Tiếng nói của ông đã góp phần thúc đẩy phong trào phản chiến và đòi hòa bình. Ông đã đến Việt Nam sau sự kiện Mậu Thân năm 1968 để làm phim phóng sự về chiến trường và kêu gọi đàm phán hòa bình. Tiếng nói của Cronkite có sức thuyết phục lớn đối với công chúng, đến nỗi tổng thống Johson khi xem các tường thuật của ông đã phải thốt lên : “Well, if I’ve lost Cronkite, I’ve lost middle America” (Giỏi lắm, nếu tôi để mất Cronkite, tôi mất giới (cử tri) trung lưu nước Mỹ).

Người Mỹ đã bầu chọn ông là “người đàn ông đáng tin cậy nhất nước Mỹ” (1972).

Ngay sau khi Walter Cronkite qua đời, tổng thống Obama đã hết lời ca ngợi ông. “His rich baritone reached millions of living rooms every night, and in an industry of icon, Walter set the standard by which all others have been judged”, ông Obama nói, “But Walter was always more than just an anchor. He was family. He invite us to believe in him, and he never let us down”.


Thông tin liên quan :

Walter Cronkite trên widipedia

Cronkite “never let us down”, Obama says

Bài trên New York Times khi Walter Cronkite qua đời,17-7


Chủ Nhật, ngày 21 tháng 6 năm 2009

Những "nỗ lực" làm nhỏ đất nước


Ngày này năm ngoái, sau khi bị cách chức Tổng thư ký tòa soạn báo Thanh Niên, tôi "bất ngờ" được tặng Giải báo chí quốc gia (giải B) cho loạt bài EURO 2 VÀ CHẤT LƯỢNG XĂNG DẦU : NHỮNG "NỖ LỰC" LÀM NHỎ ĐẤT NƯỚC. Sau khi được giải thưởng này mới bị thu thẻ nhà báo.

Nay đọc lại loạt bài vẫn thấy còn tính thời sự.

Kỳ 1 : Xăng dầu bẩn vẫn tràn ngập bất chấp quyết định của Thủ tướng
Kỳ 2 : Bộ Thương mại ráo riết bảo vệ lợi ích cho ai ?
Kỳ 3 : Chẳng lẽ Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng lọc được dầu ?
Kỳ 4 : Những tác hại và rắc rối nghiêm trọng

Ý kiến và phản hồi :

Không được đem xăng dầu bẩn về đầu độc bầu không khí nước nhà
Bộ trưởng Thương mại nói gì về chất lượng xăng dầu ?

Viết tiếp sau khi có phản hồi của Bộ Thương mại :

Gửi Bộ trưởng Trương Đình Tuyển
Bộ Thương mại làm sao che giấu được sự thật ?

New York Times có đề cập đến lọat bài này (xem tại đây)

Cuối cùng, Bộ Công thương đã phải ... (xem tại đây)

Sau đó, các cửa hàng xăng dầu đã ghi hàm lượng lưu huỳnh riêng biệt cho từng loại theo đúng tiêu chuẩn mới. Tuy nhiên, chất lượng thực sự của xăng dầu nhập khẩu được bày bán có đúng với tiêu chuẩn ghi trên bảng hay không thì chỉ có Tổng Công ty Xăng dầu, Bộ Công thương và Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng biết, vì không có bất cứ cuộc kiểm tra nào được tiến hành, ít nhất là không có bất cứ thông tin nào cho thấy đã có một cuộc kiểm tra như vậy.

Chủ Nhật, ngày 24 tháng 5 năm 2009

Công cụ dân chủ hàng đầu của Tự do


Alexis de Tocqueville (1805-1859), nhà chính trị học vĩ đại người Pháp viết tác phẩm bất hủ “De la démocratie en Amérique” (Nền dân trị Mỹ), xuất bản vào năm 1835 và 1840. Điều lạ lùng là cuốn sách của một người Pháp viết về Mỹ, nó đề cao nền dân trị Mỹ song không ca ngợi một chiều, mà ngược lại còn chỉ ra một cách cụ thể những khiếm khuyết và cảnh báo một loạt vấn đề nảy sinh trong tương lai, nhưng lại được người Mỹ tôn thờ như một thứ “tôn giáo chính trị”, bên cạnh bản Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp Hoa Kỳ. Hơn 170 năm sau ngày cuốn sách được xuất bản, lịch sử Hoa Kỳ và thế giới diễn ra nhiều sự kiện đúng như những lời tiên tri của Tocqueville : hai cuộc đại chiến thế giới, sự phình to của bộ máy nhà nước - từ các loại "kế hoạch hóa" đến New Deal của F.D. Roosevelt, Great Society của L.B. Johnson và các loại Nanny State ở châu Âu... đều là những biểu hiện khác nhau của tình trạng chuyên chế, bức hiếp, hạ thấp tự do cá nhân. Ngay cả điều tưởng như đơn giản, như sự không hạn chế thời gian tái cử tổng thống , ông cũng cảnh báo sự nguy hại của nó từ hơn 1 thế kỷ trước khi nước Mỹ giới hạn lại còn tối đa 2 nhiệm kỳ...


Tự do là khát vọng ngàn đời của con người, khát vọng đó xuyên suốt lịch sử nhân loại cũng như xuyên suốt một đời người. Tagore bảo “trong bụng mẹ, đứa trẻ được tự do lần thứ nhất”, vì ở đó con người không bị can thiệp tùy tiện. Marx từng tuyên bố về một xã hội “từ vương quốc tất yếu sang vương quốc tự do” như là cứu cánh của học thuyết của mình. Cụ Hồ cũng bảo (câu này hình như nhiều người muốn lờ đi không dám nhắc tới) : “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (Báo Cứu quốc 17-10-1945).


Như sau này Friedrich Hayek nhấn mạnh, dân chủ chủ yếu là một phương tiện để bảo vệ tự do cá nhân, nhưng dân chủ chưa phải là một phương tiện chắc chắn, rằng một chính phủ được bầu cũng có thể trở thành một chính phủ độc tài, học thuyết của Tocqueville, về bản chất, là học thuyết về tự do.


Tuy dân chủ mở ra một khung trời mới để nhân loại khôi phục và nuôi dưỡng tự do, nhưng khung trời đó vẫn bị giới hạn. Ngay từ đầu thế kỷ 19, khi laissez-faire đang là chủ đạo, khi toàn bộ quân đội Mỹ lúc đó chỉ có 6000 người, khi kích cỡ bộ máy nhà nước của các nước dân chủ còn rất bé so với hiện nay, bằng những chiêm nghiệm từ nước Mỹ và châu Âu, Tocqueville đã cảnh báo :


Nếu như thời nay mà các quốc gia dân chủ có xác lập được nền chuyên chế, thì hẳn là nền chuyên chế đó sẽ phải có những đặc điểm khác : nó sẽ trải ra trên diện rộng hơn và nó có một dáng vẻ hiền lành hơn nhiều, nó có thể sẽ làm cho con người bị mất phẩm chất người đi, nhưng nó không làm cho lương tâm con người quằn quại đau khổ…


Tôi không hồ nghi chút gì rằng, trong những thời kỳ của ánh sáng và của quyền bình đẳng như thời đại chúng ta, những kẻ cầm quyền tối cao lại dễ dàng làm cho mọi quyền lực công cộng đều tập hợp được vào trong đôi tay mình, và thâm nhập khôn khéo hơn và sâu xa hơn vào các miền lợi ích riêng tư, những điều mà không một kẻ chuyên chế nào của thời Cổ đại có thể làm được…


Tôi muốn hình dung xem sự chuyên chế mới sẽ mang những nét mới nào trong cuộc sống này : tôi nhìn thấy một đám đông vô cùng với những con người giống hệt nhau, họ đang không ngừng quay đầu tìm lẫn nhau ở những thú vui nhỏ bé và thô lậu chất chứa đầy đầu óc họ… Bên trên những con người này là một quyền lực bao la và cũng là thế lực đỡ đầu họ, riêng nó chịu trách nhiệm bảo đảm cho họ có mọi hưởng thụ và chăm lo cho số phận của họ. Quyền lực này là tuyệt đối, chăm lo tỉ mỉ chi tiết, chính quy, nhìn xa trông rộng và mềm mỏng. Quyền lực này sẽ như thể quyền của người cha với người con nếu như mục đích của nó là chuẩn bị cho đàn con lớn khôn mạnh mẽ; nhưng trái lại, quyền lực này chỉ nhằm làm sao cho con cái mãi mãi bị cột chặt vào tuổi ấu thơ; quyền lực này muốn các công dân được hưởng thụ, miễn sao hưởng thụ phải là mục tiêu duy nhất của họ, thế là được. Quyền lực này tình nguyện hoạt động vì hạnh phúc của những con người kia; nhưng nó muốn chỉ có nó tạo ra hạnh phúc đó và quyết định thế nào là hạnh phúc…


Sau khi theo cách đó để lần lượt nắm từng công dân vào đôi bàn tay cực mạnh của mình và nhào nặn nó tùy thích, kẻ cầm quyền tối cao giang rộng đôi cánh tay ra toàn bộ xã hội. Nó bao trùm bề mặt xã hội bằng một hệ thống những quy tắc nhỏ nhặt rắc rối, tỉ mỉ chi tiết và đồng loạt, qua đó ngay cả những đầu óc độc đáo nhất và những tâm hồn mạnh mẽ nhất cũng chẳng thể nào ngoi lên nổi để có thể đi xa hơn toàn bộ đám đông. Nó không bóp nát mọi ý chí con người, nhưng nó làm cho ý chí con người mềm nhũn đi, bắt mọi ý chí phải cúi đầu và điều khiển chúng. Hiếm khi nó bắt buộc con người phải hành động, nhưng nó luôn luôn chống lại khi con người hành động. Nó không thủ tiêu cái gì cả, nó chỉ ngăn chặn sinh sôi. Nó không dùng lối bạo hành với ai hết, nó chỉ gây phiền hà, nó đè nén, nó chọc tức, nó làm tắt ngấm, nó khiến cho con người chỉ còn biết há hốc mồm kinh ngạc…


Các quốc gia dân chủ đã du nhập Tự do vào phạm vi chính trị, đồng thời với việc họ làm gia tăng tính chuyên chế trong phạm vi hành chính, tất cả đều dẫn tới những điểm lạ kỳ. Khi phải tiến hành làm những công việc nhỏ mà chỉ cần thiên lương là đủ, thì họ nghĩ rằng các công dân không đủ sức làm điều đó. Khi sang chuyện cai quản cả một Nhà nước, thì họ lại trao cho cũng các công dân ấy những đặc quyền vô cùng lớn. Lần lượt, họ biến các công dân lúc thì thành những đồ chơi trong tay kẻ cầm quyền tối cao và lúc lại thành các ông chủ của kẻ cầm quyền đó, khi thì to hơn cả các ông vua và khi thì ít hẳn phẩm chất người. Sau khi đã sử dụng cạn kiệt mọi hệ thống bầu cử khác nhau mà vẫn chẳng tìm ra một hệ thống nào thích hợp nhất, họ tỏ ra ngạc nhiên và lại tiếp tục kiếm tìm…


Tật xấu của những kẻ cầm quyền và sự ngu xuẩn của những kẻ bị cai trị sớm muộn sẽ dẫn tai họa tới. Và nhân dân, khi đã mệt mỏi vì những kẻ đại diện mình và vì cả bản thân mình, sẽ tạo ra những thiết chế tự do hơn nữa, hoặc là sẽ sớm quay lại nằm dài dưới chân của một ông chủ duy nhất.


Cảnh báo những nguy cơ của nền dân chủ lấy số đông thống trị số ít, nhưng Tocqueville không hề có ý định khước từ dân chủ để trở lại chế độ “quý tộc trị”, nơi mà “sự thịnh vượng của đại đa số con người bị hy sinh cho sự vĩ đại của vài ba cá nhân”. Vấn đề, theo ông là “làm cho Tự do thoát thân ra từ trong lòng xã hội dân chủ.”.


Tocqueville không “thầm kêu rên cho số phận đồng loại”, ông tin vào Tự do và đưa ra một loạt các giải pháp khắc phục những nguy cơ của nền dân chủ bằng việc phân quyền và giới hạn quyền lực của nhà nước, bằng những bảo đảm tự do cá nhân trong Hiến pháp, bằng sự độc lập của tòa án, bằng các thiết chế tự nguyện của "xã hội dân sự" (sociétés civiles), bằng bằng báo chí tự do, bằng việc phổ cập các giá trị tự do truyền thống…


Đối với báo chí tự do, Tocqueville tự nhận rằng ông “không có được cái tình yêu trọn vẹn” đối với nó, rằng ông yêu báo chí vì “tôn trọng việc nó ngăn chặn được những cái xấu hơn là vì những cái tốt đẹp nó tạo ra”, nhưng từ 170 năm trước ông đã nhìn thấy rõ tầm quan trọng của báo chí trong một xã hội dân chủ. Ông viết :


Cá nhân vào thời dân chủ dễ dàng bị tống ra khỏi bầy đoàn, và anh ta dễ dàng bị xéo dưới chân. Ngày nay, một công dân bị đè nén áp bức chỉ còn có một phương tiện tự vệ, đó là gửi lời kêu gọi tới toàn thể dân tộc; anh ta chỉ có một phương tiện thực thi điều đó, đó là báo chí… Sự bình đẳng làm cho con người xa cách nhau và làm cho con người yếu kém đi; nhưng báo chí đem đặt bên cạnh mỗi con người hèn yếu đó một vũ khí cực mạnh mà kẻ yếu nhất và kẻ bị xa lánh nhất cũng đều có thể đem sử dụng. Quyền bình đẳng tước đi mất của mỗi cá nhân khả năng hỗ trợ những kẻ có chung số phận; nhưng báo chí cho phép kêu gọi tất cả các công dân và đồng loại tới ứng cứu…


Để bảo đảm có độc lập cá nhân cho những con người sống ở các quốc gia dân chủ này, tôi chẳng tin cậy vào những cuộc đại hội nghị chính trị, cũng chẳng tin gì vào những quyền hành của nghị viện, và chẳng tin gì hết vào tuyên ngôn về chủ quyền tối thượng của nhân dân.


Tất cả những trò đó trong chừng mức nào đó đều có thể dung hợp được với sự nô lệ của cá nhân con người; nhưng có tự do báo chí thì cảnh nô lệ đó sẽ không diễn ra hoàn toàn được. Báo chí là công cụ dân chủ hàng đầu của Tự do.


Và như vậy là, cũng theo Tocqueville, cho dù có tự do báo chí thì nguy cơ của nền dân chủ số đông thống trị số ít, mà một trong những nguy cơ đó là cảnh nô lệ, cũng mới chỉ “không diễn ra hoàn toàn” mà thôi. Nhưng không có tự do báo chí thì dứt khoát không được.

____________

(Những đoạn trích của Tocqueville theo cuốn : Nền Dân trị Mỹ, bản dịch tiếng Việt của Phạm Toàn, NXB Tri Thức, Hà nội, 2008)

Thứ Năm, ngày 21 tháng 5 năm 2009

Người nổi tiếng và báo chí


Trong những ngày này báo chí Anh đang phanh phui tình trạng lạm dụng công quỹ trong Hạ viện (xin nói thêm, Hạ viện Anh là cơ quan có thực quyền cao nhất nước này). Những bê bối tiền nong to nhỏ từ đương kim Thủ tướng cho đến các dân biểu đều được tung hê lên mặt báo. Vụ này khiến Chủ tịch Hạ viện từ chức, một số chính khách khác cũng đã và sẽ từ giã chính trường. Dĩ nhiên, không có “cơ quan chức năng” nào của Anh quốc dám cản làn sóng báo chí. BBC, một hãng truyền thông “quốc doanh”, cũng cập nhật đầy đủ thông tin cho công chúng trong và ngoài nước biết (BBC tiếng Việt xem tại đây. Tài liệu đầy đủ về vụ bê bối bằng tiếng Anh có thể xem tại theyworkforyou.com - theo giới thiệu trên Blog của A Reader - A Traveller). “Người của công chúng” tất phải đương đầu với búa rìu dư luận, đó là tập tục bình thường ở các nước Âu-Mỹ.


Tôi không rõ luật pháp nước Anh “xử lý” như thế nào trong trường hợp báo chí đưa tin sai, chỉ biết Sở Cảnh sát London vừa tuyên bố không điều tra về việc ai đã tiết lộ tài liệu về chi tiêu của các dân biểu cho Daily Telegraph – nhật báo đầu tiên phanh phui vụ bê bối.


Ở nước Mỹ thời điểm hiện tại không có vụ bê bối lớn nào đáng nói, nhưng không phải vì vậy mà kém phần vui nhộn. Nhiều tờ báo liên tục chỉ trích các chính sách của đương kim tổng thống Obama, trong đó có “gói kích thích kinh tế” 787 tỷ USD, cái “gói” này thuộc hàng “chủ trương chính sách lớn” của Nhà nước. Báo chí nói gì mặc kệ, việc của Nhà nước Nhà nước cứ làm. Đó cũng là tập tục bình thường, không đáng bàn luận.


Nhưng báo chí mà phỉ báng cá nhân thì sẽ có luật "điều chỉnh". Luật pháp Mỹ đối với vấn đề này rất thú vị, nó “phân biệt đối xử” giữa cá nhân bình thường và cá nhân người nổi tiếng.


Nước Mỹ không có luật báo chí. Toàn bộ hoạt động báo chí ở Mỹ chỉ được “điều tchỉnh” bởi một điều khoản duy nhất, nói chính xác hơn là được “ghép” trong một điều khoản này, đó là Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp Mỹ (The first Amendment) : “Quốc hội sẽ không ban hành đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, hoặc hạn chế tự do ngôn luận hay báo chí hoặc quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình” (Congress shall make no law respecting an establishment of religion, or prohibiting the free exercise thereof; or abridging the freedom of speech, or of the press; or the right of the people peaceably to assemble, and to petition the Government for a redress of grievances). Như lời văn của nó chỉ rõ, The first Amendment chỉ "răn đe" chính quyền, không "răn đe" báo chí.


Nhưng Tu chính án thứ nhất chỉ là một khái niệm chung chung mơ hồ nếu các quan tòa không độc lập và không biết cách đưa nó vào cuộc sống. Và thực tế là từ khi có Tu chính án này cho đến năm 1964, tức là trong một thời gian rất lâu, Tối cao pháp viện Hoa Kỳ chưa bao giờ áp dụng nó để bảo vệ báo chí.


Quá trình đưa Tu chính án này vào cuộc sống có một lịch sử lâu dài. Thời thuộc địa (chưa có Hiến pháp Mỹ), việc phỉ báng quan chức dù nội dung đó có đúng hay không đều phạm tội. Vào năm 1734, khi Hoa Kỳ vẫn còn là thuộc địa của Anh, có một vụ án lịch sử, đó là vụ Zenger. John Peter Zenger, một chủ báo ở New York đã cho đăng bài trên tờ New York Weekly Journal của mình, công kích viên Thống đốc Hoàng gia Anh tại đây, cho ông này là bất tài và nhận hối lộ. Zenger đã phải vào tù vì tội phỉ báng. Nhưng người bào chữa cho Zenger, luật sư Andrew Hamilton, đã làm nên một chuyện mang tính lịch sử khi ông chứng minh những lời “phỉ báng” của Zenger là không sai và đã thuyết phục tòa án tuyên bố Zenger vô tội. Vụ Zenger đã tạo ra một tiền lệ về pháp lý quan trọng : Từ đây, trong những vụ kiện về tội phỉ báng (ngày nay đều là các vụ kiện dân sự), nguyên đơn chỉ có thể thắng kiện nếu chứng minh được lời phỉ báng đó là sai sự thật. Đó là bước tiến lớn về quyền tự do ngôn luận ngay giữa chế độ thuộc địa mà giá trị pháp lý của nó tồn tại đến ngày nay. Tuy nhiên, các vụ kiện cáo về lĩnh vực này vẫn được các tòa án xét xử theo luật của từng bang, không thống nhất trên toàn quốc.


Một bước ngoặt mang tính cách mạng về quyền tự do ngôn luận diễn ra vào năm 1964 khi Tối cao pháp viện thụ lý một vụ án lịch sử : Vụ New York Times kiện Sullivan. Vụ kiện xuất phát từ một trang quảng cáo đăng trên tờ New York Times của một số mục sư nhằm quyên tiền để bào chữa cho nhà hoạt động nhân quyền lừng danh nước Mỹ - mục sư Martin Luther King, sau khi ông bị bắt giam. L.B Sullivan, người phụ trách Sở cảnh sát thành phố Montgomery, bang Alabama, cho rằng nội dung quảng cáo đã nói không đúng về các hành vi của lực lượng cảnh sát và phỉ báng mình, nên đã kiện New York Times và các mục sư ra tòa án. Xét thấy nội dung quảng cáo có một số thông tin không đúng, tòa án đã quyết định cho Sullivan thắng kiện, buộc các bị đơn phải bồi thường cho ông này 500 ngàn USD. New York Times và các mục sư đã kháng cáo lên Tối cao pháp viện.


Tòa tối cao cho rằng không thể dùng các quy định điều chỉnh về tội phỉ báng để áp đặt hình phạt đối với việc phê phán hành vi ứng xử của các công chức, rằng dù nội dung phê phán có sai sót nhưng việc yêu cầu những người phê bình các quan chức phải bảo dảm độ chính xác trong phát biểu của họ là hành động “tự kiểm duyệt”. Tòa cũng cho rằng, những công chức Nhà nước muốn thắng kiện trong trường hợp này không chỉ phải chứng minh những nội dung được đăng tải là sai mà còn phải chứng minh những người đăng tải nội dung này là “có ác ý”, nhưng tòa nhận thấy rằng không có bằng chứng nào chứng tỏ tờ New York Times và các mục sư đã “có ác ý” khi đăng nội dung đó. Vì vậy, Tòa tối cao phán quyết New York Times và các mục sư thắng kiện.


Phán quyết của Tối cao pháp viện Hoa Kỳ trong vụ án lịch sử này có giá trị như một điều luật, và hơn thế nữa, nó có giá trị ngang với một điều khoản của Hiến pháp, để từ thời điểm này áp dụng cho tất cả các vụ kiện về tội phỉ báng : một nguyên đơn là quan chức Nhà nước muốn thắng kiện nhất thiết phải chứng minh rằng những lời phỉ báng của bị đơn là sai, đồng thời phải chứng minh được cái sai đó là “có ác ý”.


Ngoạn mục hơn, là “án lệ” của vụ New York Times kiện Sullivan không chỉ dành cho các quan chức nhà nước mà còn được Tối cao pháp viện mở rộng luôn cho những “nhân vật của công chúng”, bao gồm các ngôi sao giải trí, các nhà văn nổi tiếng, các vận động viên thể thao và những người “thường xuyên thu hút sự quan tâm của giới truyền thông”.


Như vậy là tại nước Mỹ, người bình thường kiện báo chí về tội bôi nhọ chỉ cần chứng minh việc bôi nhọ đó không đúng sự thật là thắng kiện, nhưng những người nổi tiếng thì khác. Người nổi tiếng muốn thắng kiện phải chứng minh 2 việc : thông tin sai và thông tin “có ác ý”. Phê phán những người nổi tiếng mà không đúng sự thật nhưng không “có ác ý” thì luật pháp nước Mỹ “chấp nhận được”.


Tất nhiên về mặt đạo lý thì không nên, nhưng những nhà lập quốc và các đại thẩm phán Hoa Kỳ đã tiên liệu những hạn chế có thể có về tự do ngôn luận, nên đã biết cách phòng ngừa. Bởi vậy mà phán quyết của Tối cao pháp viện trong vụ New York Times kiện Sullivan được coi là một phán quyết “mở rộng tự do ngôn luận”.


Làm một quan chức, làm một người nổi tiếng ở Mỹ quả là khó hơn làm một người bình thường, do vậy mới có "văn hóa từ chức", do vậy mới không khuyến khích thói háo danh.


Tham khảo :

+Website BBC.

+Hiến pháp Hoa Kỳ và các tài liệu liên quan về lịch sử tòa án và lịch sử báo chí Mỹ.

________

Bài liên quan :

*Tự do ngôn luận Mỹ từng góp phần ngăn chặn chiến tranh Việt Nam

*Sự kiện báo chí lớn nhất thế kỷ 20

Chủ Nhật, ngày 22 tháng 3 năm 2009

Sự kiện báo chí lớn nhất thế kỷ 20


Tiến sĩ Daniel Ellsberg giữa một rừng phóng viên ngày 28-5-1971

Sự kiện báo chí lớn nhất thế kỷ 20, và cho đến nay là sự kiện báo chí lớn nhất mọi thời đại, là vụ công bố “Tài liệu Lầu Năm góc” năm 1971. Càng đọc lại vụ này càng thấy thú vị.

Có lẽ khi quyết định công bố 47 tập, gồm 7000 trang tài liệu mật về chiến tranh Việt Nam cho tờ New York Times, tiến sĩ Daniel Ellsberg, một chuyên viên cao cấp của tập đoàn nghiên cứu chiến lược Rand và là sĩ quan cao cấp của Lầu Năm Góc, không tin rằng ông sẽ được tòa án bảo vệ. Ông làm điều này vì lương tâm của người trí thức.

Cũng như những nhân viên công vụ khác, ông đã thề trung thành với cấp trên và không tiết lộ bí mật. Nhưng khi tiếp cận với bộ hồ sơ đồ sộ về chiến tranh Việt Nam, bộ hồ sơ nói lên sự dối trá của 5 đời tổng thống Mỹ, khiến cho người bạn gái của ông phải ghê tởm thốt lên : “Đây là ngôn ngữ của bọn đồ tể”, ông quyết định xóa bỏ lời thề đó. Nghĩa vụ cao nhất của ông là trung thành với đất nước, trung thành với Hiến pháp. Ông chấp nhận đối diện với nhà tù.

Từ 1-10-1969, với sự cộng tác của một người bạn – ông Anthony Russo, Daniel bắt đầu sao chụp 7000 trang tài liệu. Đầu tiên ông chưa nghĩ đến chuyện đưa cho báo chí mà tìm cách đưa cho Quốc Hội. Ông đã lần lượt gặp 3 thượng nghị sĩ danh giá và nổi tiếng chống chiến tranh là Fullbright, McGovern và Mathias. Cả ba đều hăng hái ủng hộ ông, nhưng cuối cùng đều từ chối. Các thượng nghị sĩ này không đủ dũng cảm, không đủ tầm cỡ đặt lợi ích của đất nước lên trên lợi ích đảng phái của họ.

Đường đến với Quốc hội bị tắc. Daniel buộc phải bí mật đưa cho tờ New York Times, thông qua một nhà báo ông quen từ trước – ký giả Neil Sheehan.

Ngày Chủ nhật 13-6-1971, New York Times khởi đăng tài liệu trên trang nhất. Nước Mỹ chấn động. Ngày 15-6, khi đăng đến kỳ thứ 3, Bộ trưởng Tư pháp John Mitchell gửi một bức thư đến toà soạn yêu cầu ngừng đăng và trao lại bản sao tài liệu. New York Times từ chối. Ngay trong chiều hôm đó, theo đề xuất của Bộ Tư pháp, toà án quận cấp liên bang tại New York ra lệnh cấm. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, một lệnh cấm của toà án liên bang ngăn cản một tờ báo in một câu chuyện nhiều kỳ.


Không chịu thua, New York Times kháng án. Trong khi làm thủ tục kháng án, Dunn Gifford, một người bạn của Neil Sheehan đề nghị Daniel Ellsberg cung cấp hồ sơ này cho tờ Washington Post (thời gian này Neil Sheehan và New York Times “cắt liên lạc” với ông để bảo đảm nguyên tắc nghiệp vụ). Daniel trả lời là “Không thể”. Ông muốn giữ độc quyền và danh tiếng cho New York Times vì ông biết chắc rằng họ sẽ được giải thưởng Pulitzer, sự dũng cảm của họ xứng đáng được như vậy.

Nhưng Dunn Gifford bảo danh tiếng của New York Times là chuyện nhỏ, tiếp tục công bố tài liệu cho công chúng biết mới là chuyện lớn, vì không biết đến bao giờ New York Times mới được tiếp tục đăng lại và việc công bố tài liệu có thể chấm dứt tại đây, trừ phi các tờ báo khác nắm lấy ngọn cờ. Gifford cũng cảnh báo ông rằng toàn bộ tiến trình công bố tài liệu có thể dừng lại vĩnh viễn, trừ phi chính ông tiếp tục thúc đẩy nó.

Daniel tìm cách liên lạc với một người quen đang làm biên tập viên tờ Washington Post. Ông hỏi Washington Post có cần tài liệu đó không ? Dĩ nhiên là họ cần. Có cam kết sẽ đăng không ? Người này liên lạc với chủ bút tờ báo – ông Ben Bradlee. Bradlee nói dứt khoát : “Trong trường hợp tôi có được những hồ sơ đó và nếu chúng không được đăng trên số báo ngày hôm sau, thì tờ Washington Post sẽ có một chủ bút mới”. Sự khẳng khái của người chủ bút là sự động viên lớn, nó tiếp sức ông.


Ngày 18-6, Washington Post khởi đăng loạt bài đầu tiên. Lập tức Bộ Tư pháp yêu cầu ngừng đăng. Washington Post từ chối. Chính phủ Mỹ đưa Washington Post ra toà, nhưng toà bác yêu cầu của Chính phủ. Ngay trong đêm, Chính phủ Mỹ kháng cáo. Toà trên bác phán quyết của toà dưới, yêu cầu xử lại. Ngày 21-6, Toà dưới xử lại và lại bác yêu cầu của Chính phủ, Washington Post được đăng tiếp. Ngày 22-6, New York Times cũng thắng, tiếp tục đăng Hồ sơ. Nhưng sự việc chưa dừng lại ở đó mà phải đưa lên tòa tối cao.

Chủ tịch Washington Post Katharine Graham
và Chủ bút Ben Bradlee tươi cười hết cỡ sau khi thắng kiện


Do sự thúc đẩy của Daniel, trong đó có việc ông nhờ Washington Post chuyển một bộ tài liệu đến Thượng nghĩ sĩ Mike Gravel, tài liệu tiếp tục được phổ biến. Gravel là thượng nghị sĩ chống chiến tranh quyết liệt nhất và là người duy nhất dám nhận Hồ sơ và làm tất cả những gì ông có thể để đưa ra Quốc hội và phân phát cho báo chí. Gravel dũng cảm làm điều đó mà không có bất cứ sự bảo đảm nào về quyền miễn trừ cho hành động của ông. Thượng nghị sĩ có nguy cơ mất chức.

Sau khi New York Times và Washington Post đăng tải tài liệu và bị cấm, 17 tờ báo khác đồng loạt vào cuộc. Các đài truyền hình và phát thanh cũng vào cuộc, thách thức chính quyền Mỹ. Rồi toàn giới truyền thông Mỹ nhập vào dàn đồng ca.

Ngay cả tạp chí TIME, là tờ báo luôn ủng hộ chính quyền Mỹ tiến hành chiến tranh, vẫn không đứng ngoài cuộc. TIME viết một câu chuyện về Daniel Ellsberg để đăng trên trang nhất, nhưng quy định của TIME là câu chuyện trên trang nhất phải có phỏng vấn nhân vật. Họ tìm ông để yêu cầu, thậm chí dành cho ông 3 trang để ông nói bất cứ điều gì ông muốn, không biên tập, nhưng Daniel đã từ chối. Cuối cùng tạp chí này vẫn đăng ông trên trang nhất. Kể từ khi đăng bài viết về Hitler năm 1943, đây là lần đầu tiên một nhân vật được đưa lên trang bìa báo TIME mà không có phần phỏng vấn cá nhân.



Daniel Ellsberg nhớ lại trong hồi ký của mình : “Những gì đang xảy ra ở nước Mỹ thật đáng ngạc nhiên và chưa từng có. Ngành công nghiệp báo chí, trong vòng 30 năm trở lại đây hoặc lâu hơn nữa, mỗi khi động đến chính sách đối ngoại và các vấn đề quốc phòng luôn bằng lòng với việc dựa vào các văn kiện của chính phủ, bỗng nhiên nổi loạn khắp nơi”.

Để tài liệu được công bố càng nhiều càng tốt, Daniel Ellsberg phải “hoạt động bí mật” nhằm lẩn tránh sự truy tìm của FBI. Không phải ông sợ đối diện với luật pháp, ông phải tranh thủ đủ thời gian. Ngày 25-6, lệnh bắt giam ông được ký, để đưa vào hồ sơ trước khi Tối cao pháp viện họp về vụ New York Times và Washington Post. Daniel phải trì hoãn thêm mấy ngày để phân phát hết tài liệu. Và ông đã chủ động đến toà án liên bang, không để FBI bắt dọc đường. Tại đây, Daniel bị vây quanh bởi một làn sóng phóng viên báo chí. Trước một rừng micro trước mặt, ông nói :

“Mùa thu năm 1969, với sự chủ động cá nhân, tôi nhận trách nhiệm báo cáo với Chủ tịch Uỷ ban Đối ngoại Thượng viện (thượng nghĩ sĩ Fullbright) thông tin trong cái gọi là Hồ sơ Lầu Năm góc, bao gồm cả tài liệu nghiên cứu về các cuộc đàm phán của Mỹ, những điều chưa từng được tiết
lộ cho báo giới. Đến thời điểm đó chỉ có tôi và hơn chục cá nhân khác có quyền tiếp cận những nghiên cứu này. Đến mùa xuân năm nay – hai cuộc xâm lược sau đó - khoảng 9 ngàn người Mỹ nữa và hàng trăm ngàn người dân Đông Dương bị chết, tôi chỉ có thể ân hận rằng tại thời điểm đó, tôi đã không phơi bày lịch sử trên báo chí cho người dân Mỹ biết. Hiện nay tôi đã hoàn thành công việc đó, một lần nữa, với sự chủ động của cá nhân tôi.

Tất cả những hành động đó trái ngược với quy định bảo mật và, thậm chí, trái ngược với cách xử lý thông tin của Bộ Quốc phòng. Tuy nhiên, với tư cách là một công dân có trách nhiệm, tôi cảm thấy không thể hợp tác thêm nữa trong việc che giấu thông tin này đối với công luận Mỹ. Tất nhiên, hành động của tôi có thể gây nguy hiểm cho bản thân, và tôi sẵn sàng chịu trách nhiệm về mọi hậu quả do quyết định của mình gây ra. Đó có thể là hậu quả cho cá nhân tôi, gia đình tôi.

Nhưng dù hậu quả đó có ra sao, cuối cùng chúng cũng không thể so sánh với những hậu quả mà tôi, cùng với hàng triệu người Mỹ khác, đã từng vui vẻ chấp nhận khi trước để phục vụ tổ quốc này.

Đối với tôi đây là một hành động của hy vọng, một hành động của lòng tin. Hy vọng rằng sự thật sẽ giải thoát cho chúng ta khỏi cuộc chiến này. Tin rằng những người dân Mỹ hiểu biết sẽ buộc những công chức của họ ngừng nói dối, ngừng tàn sát và chấm dứt chết chóc ở Đông Dương do những người Mỹ gây ra”
.

Daniel được “tại ngoại” sau khi nộp 50.000 USD tiền bảo lãnh.


Chiều 30-6-1971, Tối cao pháp viện, với 6 phiếu thuận và 3 phiếu chống, đã huỷ bỏ tất cả các lệnh cấm và gạt bỏ mọi trở ngại cho việc đăng tải Hồ sơ Lầu Năm góc. New York Times và Washington Post thắng kiện. Toàn bộ khối hồ sơ mật sau đó được công chúng biết đến một cách sâu rộng nhất.

New York Times họp báo. Từ trái sang : A. M. Rosenthal (thư ký tòa soạn),
Athur Ochs Sulzberger (Chủ tịch) và James C. Goodale (phụ trách pháp lý), rạng rỡ sau khi thắng kiện


Nhưng người ta đã không tha cho Daniel Ellsberg. Một bản cáo trạng quy kết ông 12 tội danh và ông phải đối diện với 115 năm tù.

Trong thời gian đó chính quyền Nixon cho tiến hành nhiều hoạt động bẩn thỉu nhằm bôi nhọ thanh danh của Daniel, trong đó có việc đột nhập văn phòng bác sĩ tâm lý đánh cắp hồ sơ để cải sửa bệnh án nhằm quy cho ông bị bệnh tâm thần, tiến hành nghe trộm điện thoại của ông… Tất cả những hoạt động trái pháp luật đó đều được đưa ra công khai tại tòa án. Và ngày 11-5-1973, Tòa tối cao tuyên bố hủy bỏ phiên tòa và yêu cầu “dưới chính quyền đương nhiệm, các bị cáo sẽ không bị xét xử thêm một lần nữa về cùng những cáo buộc này”. Daniel Ellsberg và bạn của ông vô tội.


Các hoạt động phi pháp nhằm bôi nhọ thanh danh của Daniel nằm trong chuỗi scandal tai tiếng nhất trong lịch sử nước Mỹ : Vụ Watergate.


Bộ trưởng Tư pháp John Mitchell, người đứng ra khởi tố Daniel, bị truy tố. Một tuần sau, Quốc hội tiến hành điều trần vụ Watergate. Nixon từ chức. Quốc hội nắm quyền kiểm soát. Người thay thế Nixon là Gerald Ford tuân thủ quyết định của Quốc hội chấm dứt chiến tranh Đông Dương.


Vụ tiết lộ Hồ sơ Lâu Năm góc là một trong những thử thách lớn nhất đối với sự bất khả xâm phạm của Hiến pháp nước Mỹ. Sau đây là một đoạn trích từ website của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội nhắc đến phiên tòa xử cho tờ New York Times và Washington Post thắng kiện :


“Tòa phán rằng, không có đủ cơ sở để Tổng thống có thể nói rằng an ninh quốc gia có thể bị ảnh hưởng do việc xuất bản thông tin đó. Tòa cho rằng, Hiến pháp đã có một “sư dự liệu quan trọng” nhằm chống lại sự can thiệp quyền tự do báo chí. Trong khi có thể thuyết phục Tòa rằng việc báo chí xuất bản các tài liệu mật có thể gây ra những hậu quả nghiêm tọng, thì Chính phủ đã thất bại trong việc chứng minh điều đó trong trường hợp cụ thể này”.

“Sự dự liệu quan trọng” nói trên là gì ? Trong nỗ lực biến nước Mỹ trở thành một nước “Hiến trị”, các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã tính đến khả năng vi phạm Hiến pháp của nhà cầm quyền nên đã tìm cách ngăn chặn bằng một điều khoản “khét tiếng”. Đó là Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất trong 10 Điều bổ sung sửa đổi đầu tiên trong Hiến pháp Hoa kỳ (10 điều này thường gọi là “Tuyên ngôn nhân quyền”). Phần liên quan đến tự do báo chí trong Điều khoản đó cực kỳ ngắn gọn như sau : “Quốc Hội không được ban hành một đạo luật nào nhằm … ngăn cấm tự do ngôn luận, báo chí”. Nó ngăn chặn một cách triệt để việc Quốc hội ban hành các đạo luật tùy tiện, cũng như ngăn chặn tất cả việc “xử lý” tùy tiện của chính phủ và tất cả các cơ quan nhà nước khác về tự do ngôn luận, báo chí.


Chính điều khoản ngắn gọn đó đã bảo vệ được em bé 13 tuổi chống chiến tranh, bảo vệ được tờ New York Times và Washington Post thắng kiện.


Nhưng như những gì đã thấy ngay tại nước Mỹ, quyền được ghi trong Hiến pháp không có nghĩa là nó được thi hành một cách tự nhiên. Cô bé 13 tuổi phải đi kiện mới có. Các tờ báo phải đi kiện mới có. Có lần thẩm phán Potter Stewart của Tối cao pháp viện Hoa Kỳ nói với một nhóm quan tòa, luật sư và nhà báo về điều khoản này : “Các bạn thử nghĩ xem các quyền này từ đâu tới ? Không phải là con cò đã mang đến, mà chính là các quan tòa đã mang nó đến” (trích từ website của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội).


Nghĩa là tòa án phải độc lập. Nếu như tòa án Mỹ không độc lập với Tổng thống Nixon thì chắc chắn “Hồ sơ mật Lầu Năm góc” đã không được công bố như nó đã được công bố và Daniel Ellsberg không thoát khỏi nhà tù. Dù sau khi hai tờ báo thắng kiện, tài liệu được công bố rộng rãi, Nixon vẫn phớt lờ để tiếp diễn chiến tranh, nhưng sự kiện báo chí này đã đưa phong trào phản chiến lên cao trào, làm thức tỉnh Quốc Hội, thức tỉnh lương tâm nước Mỹ, để đến khi vụ Watergate được phanh phui, ý chí của những kẻ hiếu chiến bị chặn đứng. Có thể nói, sự kiện báo chí đó đã góp phần cứu sống biết bao nhiêu người Việt Nam, biết bao nhiêu người Mỹ. Nó cũng để lại một bài học lớn : Bài học “Hiến trị”.



(Nguồn cho những trích dẫn :
+ Daniel Ellsberg : Secrets : A Memoir of Vietnam and the Pentagon papers
– Bản tiếng Việt (Những bí mật về chiến tranh Việt Nam), NXB CAND, Hà Nội, 2006;
+ Website Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội)

Thứ Hai, ngày 02 tháng 3 năm 2009

Ra mắt Thanh Niên Thể thao&Giải trí


Sáng nay, Thanh Niên ra mắt ấn phẩm mới : Thanh Niên Thể thao&Giải trí. Hình thức đẹp, vừa thân thiện vừa lạ mắt. Hai bìa Thể thao và Giải trí đều là hai bìa chính.

Giữa lúc thị trường các ấn phẩm giải trí "trăm hoa đua nở", tờ báo xác định được chỗ đứng riêng : Tất cả đều mang tính hướng dẫn, lợi thế là báo ngày. 10 trang Giải trí đều là 10 trang Guide : Hướng dẫn xem truyền hình; hướng dẫn xem ca nhạc, phim ảnh, sân khấu; hướng dẫn ăn uống vui chơi giải trí; hướng dẫn nuôi con, làm đẹp, trang trí nhà cửa, sống thân thiện với môi trường, tìm kiếm và đoàn tụ người thân... Có 1 trang riêng đăng phóng sự ký sự về Thú đam mê. 10 trang Thể thao cũng mang phong cách riêng. Thanh Niên Thể thao&Giải trí đi theo đường hướng báo chí hữu ích.

Tui đang nghiên cứu thị trường cho tờ báo này. Tranh thủ PR mấy dòng, mời mọi người mua báo nhé !