Hiển thị các bài đăng có nhãn history. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn history. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 18 tháng 9, 2012

Những vệt nước đái và khứu giác lịch sử


Thằng Bim và con Tu-ti nhà tôi hàng ngày ra chơi ở công viên phía trước từ lúc 3 tháng tuổi. Khi ấy mỗi khi muốn đái, cả hai đứa đều nhún hai chân sau xuống, tè tại chỗ, nhìn phát rầu. Nhưng lên 7 tháng tuổi, trong khi con Tu-ti vẫn tè theo kiểu cũ thì thằng Bim lại đổi khác, nó đến một gốc cây ghếch chân lên, rồi mới tè, trông rất khí phách.

Từ đây cái chuyện đi đái của hai con chó bắt đầu “khác nhau về bản chất”. Con Tu-ti đái vì buồn tè, còn thằng Bim đái không hẳn vì buồn tè. Nó ghếch chân đái vào tất cả những gốc cây nó đi qua, có hôm chỉ 30 phút nó đã ghếch vào 10 gốc. Đến nay 11 tháng tuổi, nó đã để lại dấu nước đái vào khoảng 50 gốc cây lớn nhỏ. Đây là khu vực vui chơi của hai đứa và số gốc cây sẽ không dừng lại ở đó.

Cái ghếch chân hiên ngang như cố tình cho thiên hạ thấy ta đây là Bim, ta đã đến đây và ta đang đái chỗ này đây ! Các nhà động vật học bảo con chó làm dấu lãnh địa của nó như vậy đó. Hôm qua con Bim chạy sang bên kia đường, ghếch chân đái vào một bức tường, định mở rộng lãnh địa đa dạng hóa lãnh thổ.

Bim và Tu-ti là chó Phú Quốc, không cắn bậy. Các chú chó khác, dù lớn dù nhỏ, có thể đến chơi trong “lãnh địa” của nó, được đón tiếp thân thiện, nhưng chú nào tỏ ra hung hăng có ý định tấn công, chó nhỏ thì Bim cho qua không chấp, còn chó to thì nó “bụp” liền, dù đó là con chó to gấp đôi nó.

Suy cho cùng biên giới quốc gia của con người không khác bao nhiêu với lãnh địa của con chó. Trái đất của con người cũng giống như công viên của con chó, ai đến trước vạch quần đái một bãi làm dấu, nối các vệt nước đái lại làm một vòng, thành lãnh địa, thành quốc gia.

Tất nhiên sự vụ không đơn giản là vòng cho được một vòng nước đái, mà giá trị của cái vòng nước đái còn phụ thuộc vào hai yếu tố tối quan trọng : phải hiên ngang ghếch chân cho thiên hạ biết là ta đang đái, ta đã đái trước ở nơi này, và đủ sức mạnh để “bụp” những kẻ hung hăng làm càn, dù kẻ đó to và dữ đến đâu. Không đủ sức mạnh để "bụp" những kẻ xâm lấn, ghếch chân đái chỗ nào cũng chỉ đái chơi thôi, không thành được lãnh địa.

Cái vòng nước đái đó con chó sẽ ghi nhớ mãi mãi bằng khứu giác, còn con người do khứu giác kém thua 10 ngàn lần con chó nên phải ghi nhớ bằng cái gọi là lịch sử.

Hơn 4000 năm qua tổ tiên ta đã đái từ Móng Cái đến Cà Mau và ra Biển Đông đái vào Hoàng Sa, Trường Sa cùng hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ, làm nên đất nước Việt Nam. Những vệt nước đái còn ghi rõ trong sử sách.

Khi ông Nguyễn Hoàng ra vạch quần đái ở Hoàng Sa, Trường Sa, người Trung Quốc chưa hề biết đến hai quần đảo này. Suốt mấy trăm năm, ngay cả việc vác cu đến đái họ cũng không dám, nói gì đến việc hung hăng làm càn, bởi nhà Nguyễn đủ sức mạnh sẵn sàng “bụp” cho té khói. Sức mạnh đó chính là thuyền chiến, là hải quân, là binh hùng dân mạnh. Hải quân nước ta từ thời các chúa Nguyễn, đặc biệt từ thời vua Gia Long, mạnh nhất châu Á và không hề thua kém những nước có lực lượng hải quân hùng mạnh nhất châu Âu.

Ngày nay, không thể dùng những lời hô hào yêu nước rỗng tuếch để lấy lại Hoàng Sa, để giữ gìn và lấy lại những gì đã mất ở Trường Sa, mà nhất thiết phải có một tuyến phòng thủ biển vững chắc, một tiềm lực hải quân hùng mạnh nổi trội so với xung quanh như cha ông ta đã từng có.

Nhưng tổ tiên ta không chỉ đã đái trên hình chữ S và hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ trên Biển Đông. Nhìn trên bản đồ, hãy nhớ rằng tổ tiên ta từng đái từ Hồ Động Đình (tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc ngày nay) đái xuống. Đó là nước Văn Lang của các vua Hùng “bắc tới Hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn, tây giáp Ba Thục, đông giáp biển Đông Hải”, là vùng Lĩnh Nam mà sau này Hai Bà Trưng lấy làm quốc hiệu. Vòng nước đái đó của người Việt ta chính Trung Quốc cũng phải thừa nhận, bằng chứng là nó cũng được ghi trong Đại Việt sử lược, mà Đại Việt sử lược là cuốn sách do Trung Quốc ấn hành được lưu giữ trong Tứ khố toàn thư. Trên lĩnh vực nhận biết, phải thừa nhận khứu giác lịch sử của người cầm quyền Trung Quốc xưa tương đối lành mạnh hơn khứu giác lịch sử của người cầm quyền Trung Quốc ngày nay.

Lịch sử trải qua nhiều dâu bể, tổ tiên ta từ lâu đã không thèm “hồi tố” đòi lại đất Lĩnh Nam. Nhưng đời đời không được phép quên. Bởi thế mà sau khi Lê Hoàn phá giặc Tống, buộc nhà Tống phải công nhận nền độc lập của Đại Cồ Việt, vua Tống đã cử sứ giả sang “hỏi tội” ông vì cớ gì mà còn đem quân đánh sang trấn Như Hồng thuộc địa phận Khâm Châu của Trung Quốc (vào năm 995), Lê Hoàn ngạo nghễ trả lời rằng ông đâu có thèm đánh, nếu có đánh thì đầu tiên phải đánh vào Phiên Ngung (Quảng Châu ngày nay), thứ đến đánh Mân Việt (Phúc Kiến ngày nay), há chỉ dừng lại ở trấn Như Hồng mà thôi đâu ! Đọc lịch sử đến chỗ đó nghe quá đã !

Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2012

Mon men theo Trang Tử (1)

Trâu ngựa có bốn chân, ấy là Trời
Khớp đầu ngựa xỏ mũi trâu, ấy là Người
(Trang Tử)
Trang Tử chỉ để lại một Nam Hoa Kinh vỏn vẹn mười vạn chữ, nhưng gần hai ngàn rưỡi năm nay thiên hạ đã phải dùng tới thiên kinh vạn quyển để mổ xẻ mười vạn chữ đó, mà nào có mổ xẻ xong đâu.
Mười vạn chữ mà “bao la vạn khoảnh, biến hóa khôn lường” (lời Lỗ Tấn).
Có người còn nói nếu như mọi sách vở cổ kim của Trung Quốc buộc phải biến mất khỏi mặt đất, chỉ cho phép để lại một cuốn duy nhất thôi thì cuốn đó phải là Nam Hoa Kinh.
Điều kỳ dị của cuốn Nam Hoa Kinh là ở chỗ không ai có thể tự cho mình hiểu hết được nó, càng cố hiểu càng thấy rối mù. Ngay cả việc cuốn sách ấy phần nào do chính Trang Tử viết, phần nào do người đời sau viết, cũng khó mà xác định. Nhiều thế hệ học giả Trung Quốc đã dày công so sánh, đối chiếu, loại suy và xác định được 7 thiên thuộc phần Nội thiên là do chính Trang Tử viết, còn phần Ngoại thiên và Tạp thiên nhiều khả năng do người đời sau viết thêm vào. Nhưng ông Bùi Giáng của chúng ta thì bảo chưa chắc, biết đâu Trang Tử đã dùng lối nghịch hành.
Tư Mã Thiên nói các bậc vương công không ai biết nổi Trang Tử là người như thế nào. Mà đâu chỉ có các vương công, các văn nhân học giả cũng vậy thôi, đâu có mấy người biết nổi. Phải lấy Trang Tử mà giải thích Trang Tử, tuyệt đối không nghe sự giải thích của bất kỳ ai và đừng bắt ai phải theo Trang Tử, đó là lời khuyên của các bậc túc học “biết biển biết rừng” thời xưa ở Trung Quốc.
Việt Nam hiện có 4 bản dịch Nam Hoa Kinh, của Nhượng Tống, của Nguyễn Hiến Lê, của Nguyễn Duy Cần và của Nguyễn Tôn Nhan. Đọc mỗi bản dịch kèm theo lời bình giải, bạn sẽ hiểu Trang Tử theo mỗi cách khác nhau. Ông Nguyễn Hiến Lê soạn sách công phu nhất, nhưng đọc sách của Nguyễn Hiến Lê người ta thấy cái công phu của Nguyễn Hiến Lê thì nhiều mà thấy Trang Tử thì ít nhất. Nhưng nếu đọc những trang ngao du cà rỡn của Bùi Giáng về Trang Tử, bạn lại thấy Trang Tử nhiều hơn bất cứ chỗ nào.
Để mon men theo Trang Tử thật không biết phải đi đường nào, bởi mọi “con đường” đều không đến được ông. “Đạo” của Trang Tử không phải là một “con đường”, mà ở mọi vật mọi chốn mọi nơi, mênh mông bát ngát. Ông phất ống tay áo lên là biến thành tấm lưới lồng lộng thâu tóm luôn hai ngàn rưỡi năm dâu bể.
Cần phải có học cao biết rộng mới tiếp cận được Trang Tử chăng ? Không hẳn. Trang Tử bảo kiến thức sách vở là “đôi dép mục”, là “cặn bã” của tiền nhân. Theo đó thì “lấy Trang Tử mà giải thích Trang Tử” chắc cũng không ổn, vì Nam Hoa Kinh cũng chỉ là “đôi dép mục” mà thôi.
Phải là chính nhân quân tử mới tiếp cận được Trang Tử chăng ? Cũng không luôn. Trang Tử phản đối nhân nghĩa. Theo ông thì dân vốn sống tự nhiên cùng đồng ruộng cây cối chim muông, “dệt mà mặc, cày mà ăn”, “ngậm cơm mà vui, vỗ bụng mà chơi”, “không biết gì là quân tử với tiểu nhân”. Đó là đạo đức thường hằng hồn nhiên như cây cỏ. Chính những kẻ gọi là thánh nhân “cặm cụi làm nhân, tập tễnh làm nghĩa, mà thiên hạ sinh ngờ; lan man làm nhạc, khúm núm làm lễ, mà thiên hạ mới phân chia”. Phải hủy đạo đức mới làm được nhân nghĩa, vì đạo đức không phế thì lấy đâu ra nhân nghĩa ?
Trang Tử lên án cả những “người tốt” lúc chết khiến mọi người thương khóc. Lão Tử chết, “người già khóc như khóc con mình, người trẻ khóc như khóc mẹ mình”, Trang Tử cho rằng người này lúc sống ắt có những chuyện “không cần nói mà nói, không cần khóc mà khóc”, khiến cho thiên hạ nhớ những gì ông ta đã “cho” mà quên đi những gì ông ta đã “nhận”. Đó là “vi thiện cận danh”, ông coi chẳng ra gì. Chủ trương “vi thiện vô cận danh” (làm thiện không gần danh) của ông nghe dễ hiểu mặc dù khó làm, ở một phương trời khác Jésus cũng từng nói : “Tay phải làm điều thiện không được cho tay trái biết”. Nhưng Trang Tử lại bảo “vi ác vô cận hình” (làm ác không gần hình phạt) thì nghe quá choáng, mặc dù nó không khác mấy bài “lách luật” mà ngày nay thiên hạ vẫn thường áp dụng.
Ông “tề vật” một cái là sống chết như nhau, nhỏ to không phân biệt, thiện ác phải quấy san bằng. Cái chiêu “tề vật” của ông có kình lực ghê người, làm rung chuyển hơn hai thiên niên kỷ, khiến cho các công hầu khanh tướng lũ lượt giũ áo từ quan về nấu cơm cho vợ, kéo vua chúa từ ngai vàng xuống đồng rộng và lôi sư sãi ra khỏi chùa chiền “thõng tay vào chợ”. Một nhị tổ Thiền tông Huệ Khả sau khi đại ngộ được truyền y bát hẳn hoi, đã suốt đời lang thang lao động kiếm sống, uống rượu ăn thịt như một phàm phu. Không phải Trang làm cho Phật đảo điên. Phải chăng hội tụ với Trang, Phật trở lại với cái vô biên vốn có của đời thường, “Như lai giả vô sở tùng lai diệc vô sở khứ cố danh Như Lai” ?
(còn tiếp)

Thứ Tư, 21 tháng 9, 2011

Bí mật hải quân Nhà Nguyễn (3)

Ngoài các nhiệm vụ được ghi trong chính sử, đội Hoàng Sa còn có sứ mệnh sang Nhật và Phi Luật Tân. Họ ra đảo cùng với bí mật quân lương và mang về những sản vật kỳ diệu …

Kỳ 3 : Đội Hoàng Sa và bí mật quân lương

Với kỹ thuật tàu chiến như đã đề cập ở phần trước, việc đi tới đi lui giữa đất liền với các quần đảo Hoàng Sa Trường Sa không mấy khó khăn. Về nhiệm vụ của đội Hoàng Sa, tuy chính sử đã cho biết khá rõ những điều khái quát chủ yếu nhưng một số nhà nghiên cứu lại quá nhấn mạnh những ghi chép của Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục (lấy từ một cuốn sổ ghi những đồ thu nhặt được) để nói nhiệm vụ chủ yếu của đội này dường như là đi tìm những báu vật trên các tàu bị đắm. Tất nhiên đội Hoàng Sa có làm việc này, có thể do ngẫu nhiên nhặt được đem về nộp triều đình và có ghi chép lại, chứ lẽ nào việc "nhặt của rơi" là nhiệm vụ chủ yếu của một tổ chức đi thực hiện chủ quyền trên đảo ? Vả lại báu vật do tàu chìm đâu có nhiều đến mức để đội Hoàng Sa kéo dài hoạt động tới mấy trăm năm. Cần nhớ rằng nhà bác học Lê Quý Đôn tuy rất uyên bác, nhưng ông là người làm quan ở Đàng Ngoài, không thể biết được những bí mật của Đàng Trong, ông khảo sát được thứ gì thì ghi thứ đó, cái gì ông tìm được nhiều thì ghi nhiều, cái gì tìm được ít thì ghi ít, nên điều ông ghi được nhiều hơn chưa hẳn là điều chủ yếu của toàn bộ sự kiện.

Nhiệm vụ chủ yếu của một tổ chức đi thực hiện chủ quyền dĩ nhiên phải là những việc quan trọng hơn nhiều. Chính sử đã nói rõ : đầu tiên nó đi khai thác sản vật thiên nhiên, đồng thời làm nhiệm vụ đo đạc vẽ bản đồ, cắm mốc ghi dấu, thăm dò đường biển, đo đạc hải trình để phục vụ cho việc phòng thủ, thiết lập các tuyền hải hành giao thông đường biển... Đó là toàn là những nhiệm vụ mang tính chiến lược cả. Ngoài bộ sách “Nguyễn Phúc tộc đế phá tường giải đồ”, hai bộ sách bí truyền khác trong hoàng tộc là “Nguyễn Phúc tộc dược minh y kính” và “Bí mật quân lương và khử uế chiến thuyền của hai vương triều Tây Sơn và Nguyễn Phúc tộc” còn cho ta biết thêm nhiều bí mật thú vị.

Theo đó thì đội Hoàng Sa còn có nhiệm vụ sang Nhật Bản và Phi Luật Tân. Họ sang Nhật Bản để hợp tác huấn luyện thủy quân, vì quan hệ giữa nước ta với Nhật Bản rất thân thiện sau khi Chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái cho một thương gia Nhật. Các nhà nghiên cứu cần tìm hiểu thêm phương cách tác chiến của thủy quân Nhật trong những trận thủy chiến với nước ngoài có tương đồng gì không với cách tác chiến của thủy quân ta để làm rõ thêm nhiệm vụ của đội Hoàng Sa.

Còn họ sang Phi Luật Tân để làm gì ? Ngày nay, dọc ven biển nước ta có trồng nhiều dừa. Dừa không phải là cây bản địa, đó là loại thực vật được di thực từ Phi Luật Tân sang từ thời các Chúa Nguyễn. Việc trồng dừa là theo khuyến nghị của người Nhật. Ngày xưa, trên bờ biển nơi nào có dừa chính là nơi tàu bè có thể cập vào an toàn. Chính đội Hoàng Sa đã mang những cây dừa về trồng dọc bờ biển nước ta.

Về sản vật, chính sử chỉ ghi chung chung là đội này mang về các “hóa vật”. “Hóa vật” đó gồm những gì ? Tài liệu trên cho biết đó là xà cừ, ngọc trai lộ thiên, san hô đen, san hô đỏ, tảo, vỏ hàu 9 lỗ (cửu khổng thạch khuyết minh), ốc vú nàng, chất thơm trong đầu cá nhà táng...

Ốc vú nàng và chất thơm trong đầu cá nhà táng đều là những vị thuốc quý. Theo sách "Nguyễn Phúc tộc dược minh y kính" thì ốc vú nàng chữa được ung thư tụy tạng, cầm máu, chữa sốt không rõ nguyên nhân, các bệnh nhiễm trùng da và rắc rối đường huyết, bệnh phụ khoa... Vỏ ốc phải lấy vỏ từ con ốc tươi mới làm thuốc được. Cá nhà táng là một loại cá voi, chất thơm trong đầu nó được lấy khi cá đã chết hoặc do cá tiết ra trên đảo (Nhà Nguyễn, nhất là từ đời Gia Long về sau, đã cấm triệt để việc săn bắt cá voi). Chất này được ứng dụng rất hữu hiệu trong điều trị bệnh sản phụ và nhi khoa, đặc biệt trong ngừa trị tai biến mạch máu não. Đây cũng là một loại hương liệu hàng đầu trong chế tạo mỹ phẩm hiện nay trên thế giới.

Đội Hoàng Sa ra đảo mỗi năm 6 tháng, họ ăn uống như thế nào ? Điều này thuộc bí mật quân lương của Nhà Nguyễn. Qua sách “Nguyễn Phúc tộc đế phá tường giải đồ” ta biết trên mạn thuyền của Đội Hoàng Sa có trồng 7 thứ rau : rau muống, rau húng, rau lang, hẹ, hành, tỏi, me đất (đến năm Tự Đức thứ 12 có thêm rau sam bay). Đây là 7 loại rau Trung Quốc không có hoặc một số thứ có nhưng chất lượng không bằng của ta. Hẹ, hành, tỏi thì sách thuốc đã nói nhiều. Còn rau muống thì có tác dụng bổ huyết do có nhiều chất sắt, đây là loại rau di thực từ Nhật Bản sang Việt Nam thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Rau húng cân đối lượng đường trong máu, giúp tuần hoàn tim mạch, điều hòa tiêu hóa, điều hòa hô hấp, điều hòa não, nếu ăn thường xuyên từ nhỏ thì không bị trĩ... Tất cả các loại rau trên đều có tác dụng bảo vệ sức khỏe của quân dân khi ra đảo. Nhưng vì sao những thứ đó được trồng trên thuyền mà không đem trồng trên đảo ? 7 thứ rau đó không có gì là bí mật cả nếu chúng ở trên đất liền, nhưng đưa ra biển đảo chúng là bí mật quân lương.

Họ ăn những loại rau nói trên với cá biển và nước mắm. Tuy nhiên, ăn cá biển thường xuyên sẽ không bảo đảm cho sức khỏe, cho nên lương thực – thực phẩm chính mà đội Hoàng Sa mang theo là thịt thưng và cám gạo (cám gạo, chứ không phải gạo). Các món thịt thưng chính là bí mật quân lương của quân đội Nhà Nguyễn và Nhà Tây Sơn, các vua Nguyễn sau này trong các lễ cúng tế tổ tiên bao giờ cũng có món thịt thưng. Đó là thịt heo hoặc gà, vịt, dê... được ướp với dầu phụng (dầu ép thủ công) và nước ớt, cho muối hột và nước mắm với độ mặn gấp 3 lần so với kho thịt bình thường, cho nước ngập xăm xắp, đun nhỏ lửa cho đến khi khô hết nước. Thịt này cho vào một cái hộp đậy kín, có thể để hàng năm không hỏng. Do để lâu không hỏng nên nó mới dùng làm quân lương. Bí quyết để lâu không hỏng là ở sự tương tác giữa đậu phụng và muối hột. Sự tương tác này còn khiến cho thịt thưng ăn vào cân bằng tiêu hóa, ngăn ngừa các bệnh về đường ruột và giá trị dinh dưỡng đạt đến tối ưu. Còn cám gạo thì ngay nay khoa học khẳng định nó là tinh hoa của lúa gạo, mọi chất dinh dưỡng của lúa gạo đều tích tụ trong cám. Dùng cám gạo thay cho gạo vừa đạt giá trị dinh dưỡng tối đa vừa không chiếm nhiều chỗ chứa khi ra biển đảo. Mỗi thành viên trong đội Hoàng Sa được cấp một cái hộc có nắp ép như cái hộc làm bánh, mỗi bữa ăn cho cám gạo vào hộc, bỏ vài miếng thịt thưng vào giữa, ép lại thành một chiếc bánh. Cộng thêm một ít rau là đủ cho một bữa ăn không thiếu một chất dinh dưỡng nào.

Do không có nhiều nước ngọt, nên ra Hoàng Sa Trường Sa người xưa ăn nước mắm chứ không ăn muối. Vì sao vậy ? Ăn muối mồ hôi sẽ tiết ra nhiều, người sẽ lạnh, mất đi sự dẻo dai của thủy binh.

Điều đặc biệt là nước mắm cũng có thể dùng để ... giải khát. Trên một tảng đá nghiêng, khi trời nắng lấy nước mắm thoa lên đá phía mặt trời chiếu vào, nước mắm khô sẽ bám vào mặt đá. Đêm xuống, lấy đồ hứng những giọt sương rơi trên đá chảy qua chỗ có thoa nước mắm. Khi khát nước, thấm một ít nước này vào miệng, thứ nước đó đủ cho tuyến giáp trạng điều tiết tân dịch, không gây ra những cơn phiền khát. Vì vậy, uống ít nước vẫn không thấy khát.

Trên đảo có một thứ rau mà ngày nay không ai nghĩ là ăn được, vì ăn vào sẽ bị say. Đó là rau muống biển. Nhưng ngày xưa, đội Hoàng Sa của chúng ta vẫn ăn được thứ rau này. Sách “Nguyễn Phúc tộc dược minh y kính” có chỉ rõ y lý của rau muống biển và cách chế biến với nhiều công đoạn phức tạp nhưng có thể thực hiện được trên đảo. Ăn rau muống biển được chế biến đúng cách phòng tránh được nhiều bệnh thông thường, tăng sự dẻo dai cho cơ thể, đặc biệt nó tránh được những cơn say sóng nặng, bởi vậy mà sách này gọi nó là một vị thuốc mang tên “Cứu mệnh thảo”. Người viết bài đã chế biến rau muống biển theo đúng cách hướng dẫn và đã ăn nó trước khi viết loạt bài này. Nước nào bảo có chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa, thử ăn rau muống biển coi !

Trên đây là những tư liệu mới mẽ lần đầu tiên được biết tới. Trong phạm vi một bài báo chúng tôi chỉ giới thiệu sơ qua. Từ một nguồn, đã hé mở biết bao điều kỳ thú. Chắc chắn còn rất nhiều tài liệu đang tản mác trong các gia đình, hy vọng các nhà nghiên cứu tiếp tục khảo sát, thu thập để xác minh, tổng kết.

HOÀNG HẢI VÂN

Bản đăng trên Thanh Niên

P/S : Về chủ quyền của nước ta đối với Hoàng Sa Trường Sa cùng sứ mệnh của đội Hoàng Sa trong chiến lược xây dựng và phát triển hải quân nhà Nguyễn bắt đầu từ Chúa Tiên Nguyễn Hoàng, sẽ có một chuyên khảo riêng.

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2011

Bí mật hải quân Nhà Nguyễn (2)

Người Hà Lan … qua thử nghiệm với kết quả tai hại đã nhận ra rằng những loại thuyền ấy [những loại thuyền chèo tay của người An Nam] có thể tấn công và giành được lợi thế trước những chiếc tàu to lớn của họ, mà trước đây với những chiếc tàu ấy họ từng là những kẻ làm bá chủ trên mặt biển” – Giám mục De Rhodes

Kỳ 2 : Bí mật về cấu tạo tàu chiến

Để khỏi mang tiếng tự đề cao dân tộc mình, xin hãy nghe “tây” nói về những chiếc thuyền chiến bé nhỏ của ta đánh thắng hạm đội Hà Lan trước đã. Tường thuật lại trận hải chiến năm 1643, trong cuốn “Những người châu Âu ở nước An Nam”, Charles B. Maybon, một học giả người Pháp viết :

Ba tàu dưới sự chỉ huy của Pierre Baeck được phái đi từ Jambee (Sumatra) vào cuối năm 1643. Đến ngang tầm “Bồn mũi” (Quatre Caps), người Hà Lan phải chịu đựng đòn tấn công của chừng 60 thuyền chiến Đàng Trong, mà theo Thực lục là dưới quyền chỉ huy của Thế tử, tức Hiền Vương sau này. Tàu đô đốc, là chiếc nặng nhất và chậm nhất trong số 3 tàu đó, bị bốn thuyền chèo tay đuổi kịp, đánh gãy mất bánh lái, đánh đổ cột buồm và bám vào hai bên mạn tàu; viên thuyền trưởng Hà Lan không hy vọng chạy thoát được nữa, cho châm lửa vào kho thuốc súng và tự đốt cháy tàu. Hai chiếc tàu kia, theo lời của Jean Gobyn, phải rất chật vật mới tìm được một chỗ trú ở đảo Ngọc (Ile de Perles). Theo cha De Rhode, một trong hai tàu ấy do bị người Đàng Trong đuổi đánh đã va phải đá ngầm vỡ tan,còn chiếc kia chạy thoát được…”.

Có lẽ Maybon đã nghiên cứu rất công phu về trận chiến này qua nhiều tài liệu khác nhau. Dẫn 3 nhân vật là Vachet, Bowyear và Poivre, những người đã đến Đàng Trong lần lượt vào các năm 1674, 1695 và 50 năm sau đó, “hãy còn thấy ký ức về câu chuyện thất bại của người Hà Lan vẫn còn sống động”, ông viết tiếp :

Vachet chỉ vịnh Đà Nẵng là nơi chiến trường : một trong những chiếc tàu đến đậu ở cửa vào vịnh, hai chiếc kia đi vào trong vịnh chờ nước thủy triều dẫn họ vào sông Hàn; hình như chỉ có 6 chiếc thuyền chiến chèo tay Đàng Trong đã tham gia chiến đấu và nhờ vào một thủ thuật khéo léo đã chiếm được hai chiếc tàu gần bờ nhất, chiếc thứ ba hình như đã chạy thoát” …

Cuộc giao tranh, theo ông (Bowyear) nói, đã kéo dài suốt cả ngày và chiếc lớn nhất trong số 3 chiếc đã bị phá hủy”…

Người ta chỉ cho ông xem, - theo ông (Poivre) kể lại – vài cỗ thần công “kỷ vật của chiến công ấy”; thế nhưng ông đưa ra những lời nghi hoặc : ông thấy có vẻ kỳ lạ rằng những chiếc thuyền chiến Đàng Trong lại đã đánh thắng được những tàu chiến châu Âu. Thế nhưng có đủ mọi lý do để tin rằng sự thể đã là như vậy”.

Trong phần chú dẫn, Maybon còn trích lời nhà truyền giáo De Rhodes nói về trận hải chiến này như sau : “Người Hà Lan … qua thử nghiệm với kết quả tai hại đã nhận ra rằng những loại thuyền ấy [những loại thuyền chèo tay của người An Nam] có thể tấn công và giành được lợi thế trước những chiếc tàu to lớn của họ, mà trước đây với những chiếc tàu ấy họ từng là những kẻ làm bá chủ trên mặt biển”.

Theo tài liệu lưu giữ trong gia đình ông Ưng Viên, tàu chiến (gọi chính xác là thuyền chiến) nhà Nguyễn, loại lớn nhất dài 30 mét, ngang 12 mét; loại nhỏ nhất dài 3 mét, ngang 1,2 mét. Vỏ tàu có 3 lớp, tất cả làm bằng tre trét bằng dầu rái và vài loại thực vật khác, các khoang tàu cũng có phao làm bằng thao tằm giống như tàu chạy buồm.

Toàn bộ thủy quân chỉ có một soái hạm, dài 50 mét, ngang 12 mét. Người phương tây rất muốn quan sát được chiếc soái hạm này nhưng chưa bao giờ họ nhìn thấy, vì nó có cấu tạo đặc biệt, chỉ xuất hiện trong những tình huống cần thiết, trong điều kiện bình thường nó được tách ra thành những chiếc tàu chiến nhỏ.

Tàu chiến lớn có 12 tay chèo, chia thành 3 cụm, mỗi cụm có 4 tay chèo, 1 cụm bố trí ở mũi tàu, 2 cụm bố trí ở khoảng 1/3 thân tàu tính từ phía sau. Điều thú vị là các tay chèo này không phải dùng mái chèo tác động xuống nước để đẩy thuyền đi như thuyền chèo thông thường mà việc “chèo” này là để làm quay một hệ thống ròng rọc nối liền với các quạt nước, chính những cái quạt nước này vừa nâng tàu lên vừa đẩy tàu đi giống như tàu máy hiện đại nhưng linh hoạt hơn nhiều. Mỗi cụm tuy có 4 tay chèo, nhưng chỉ có 3 quạt nước nối với 3 tay chèo thông qua ròng rọc, tay chèo còn lại có vị trí độc lập, nhiệm vụ của anh ta là điều chỉnh để cân bằng hệ thống, việc của anh ta nhẹ nhàng hơn 3 anh kia, nhưng khi gặp sự cố, một mình anh ta sẽ làm chạy một lúc 3 cái quạt nước, do mái chèo của anh ta gắn với sự chuyển động đồng thời của 3 cái quạt này.

Khi 3 cụm chèo đồng thời được nâng lên bởi tay chèo điều chỉnh hệ thống, lập tức tàu chạy lướt trên mặt nước, nghệ thuật lướt này nhờ vào 2 tay chèo số 4 phía sau điều chỉnh cho bánh lái không ghì đuôi tàu xuống, đồng thời giữ thăng bằng khi tàu lướt sóng. Vì vậy mà tàu chiến có thể vượt qua được mọi điều kiện thời tiết, với tốc độ và sự linh hoạt khiến cho đối phương phải kinh ngạc, sợ hãi và tuyệt vọng, rồi mãi mãi “lấy làm kỳ lạ” như được mô tả trên đây từ một cuốn sách của phương Tây.

Điều đặc biệt là toàn bộ chất liệu làm tàu chiến không dùng đến sắt thép, kể cả cánh quạt, đinh, chốt, vít. Các liên kết đều dùng mộng, các chốt liên kết làm bằng một loại gỗ tên là gỗ xay cực kỳ bền chắc. Ông Ưng Viên là người nghiên cứu rất kỹ cấu tạo của loại tàu này, ông bảo độ dày mỏng cũng như độ nghiêng của các cánh quạt được thể hiện không khác nguyên lý khí động học trong chế tạo cánh quạt trực thăng ngày nay. Hy vọng rằng sau này từ những tài liệu nói trên kết hợp với các tài liệu khác có thể tìm được, các nhà nghiên cứu và chế tạo có thể tái tạo những chiếc tàu để xác nhận tính năng của nó. Điều này hoàn toàn khả thi, vì ông Ưng Viên bảo trước năm 1975 ông và người thân đã từng làm một chiếc nhỏ để đi câu trên biển.

Người ta cũng nhầm tưởng vũ khí của hải quân Nhà Nguyễn là những đại bác và súng ống phương Tây. Đúng là các vua chúa Nhà Nguyễn đã mua hoặc chế tạo các loại đại bác hiện đại nhất của phương tây lúc bấy giờ, nhưng trên các tàu chiến Nhà Nguyễn hoàn toàn không sử dụng đại bác như tàu chiến Anh hay Hà Lan, chúng được dùng ở chỗ khác.

Các thủy sư đô đốc Nhà Nguyễn hiểu rằng bắn đại bác từ tàu chiến chỉ để thị uy chứ không bao giờ chính xác, nên không hiệu quả trong tác chiến. Vì vậy ngoài hệ thống xạ tiễn gắn trên tàu bắn tự động, hải quân Nhà Nguyễn sử dụng chủ yếu 3 loại vũ khí : súng phun lửa, nỏ liên châu và ống phóng hơi cay. Súng phun lửa có thể sử dụng khi cận chiến cự ly 15 mét hoặc bắn chính xác vào tàu địch ở cự ly 200 mét. Nỏ liên châu thì một phát bắn ra 20 mũi tên có thể trúng chính xác ở cự ly trên 100 mét. Tùy tình huống, có thể kết hợp dùng ống phun hơi cay hoặc phun khói khiến cho tàu địch mất phương hướng để dùng nỏ liên châu sát thương và súng phun lửa tiêu diệt tàu. Khi xung trận, đầu tàu có thể biến thành đuôi tàu và ngược lại nên cơ động trong mọi tình huống. Chúng tôi cho rằng, đoạn ghi chép trong cuốn sách nói về “viên thuyền trưởng Hà Lan không hy vọng chạy thoát được nữa, cho châm lửa vào kho thuốc súng và tự đốt cháy tàu” có lẽ là do phỏng đoán, vì tàu đã cháy người đã chết thì ai còn sống để nói là viên thuyền trưởng đã tự đốt tàu, cho nên rất có khả năng là chiếc tàu đô đốc này đã bị súng phun lửa của hải quân ta bắn cháy.

Tàu chiến của hải quân Nhà Nguyễn không những khiến cho người nước ngoài kinh ngạc, chúng còn là niềm tự hào của quân dân ta. Khi vua Gia Long đưa thủy quân ra Bắc, lúc đội tàu chiến tiến đến Nam Định, dân chúng nhìn tàu lướt trên sóng đã thán phục gọi là “thần binh”.

(còn tiếp)

HOÀNG HẢI VÂN

Bài đăng trên Thanh Niên, 20-9-2011

Kỳ 3 : Đội Hoàng Sa và bí mật quân lương

Thứ Hai, 19 tháng 9, 2011

Bí mật hải quân Nhà Nguyễn (1)

Nhân việc sưu tầm, nghiên cứu những tư liệu liên quan đến việc mở cõi của nhà Nguyễn, chúng tôi có dịp tiếp cận với một số tư liệu còn bảo tồn trong hoàng tộc giúp chúng ta có cái nhìn liên kết giữa sức mạnh hải quân Nhà Nguyễn với việc thực hiện chủ quyền biển đảo, đặc biệt là chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Kỳ 1 : Từ thủy quân đến hải quân

Trước hết, nhà Nguyễn, từ Chúa Tiên Nguyễn Hoàng trở đi, khi đưa dân tộc tiến về phương Nam, mỗi bước chân của tiền nhân không chỉ là đi “mở đất” mà đồng thời còn thực hiện chủ quyền biển đảo. Muốn vậy, Nhà Nguyễn phải có một lực lượng hải quân hùng mạnh. Mà muốn có một lực lượng hải quân hùng mạnh thì phải có 3 yếu tố vượt trội : kỹ thuật tàu chiến, vũ khí và quân lương.

Từ một mảnh đất phía sau dãy Hoành Sơn, các Chúa Nguyễn đã không dừng lại ở cái mơ ước “vạn đại dung thân” bé nhỏ cho mình mà còn cùng với dân tộc nhân đôi nước non bờ cõi, phía nam mở nước dài đến mũi Cà Mau, phía đông làm chủ một vùng biển rộng hơn 1 triệu km2 với hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ. Vua Gia Long từng nói : “Thủy chiến là sở trường của ta”.

Thủy chiến vốn là thế mạnh của dân tộc. Nước Đại Việt ta đã dùng thủy chiến để đánh tan những đội quân xâm lược hùng mạnh. Tuy nhiên, những trận đại thắng trên sông Bạch Đằng cùng các trận Chương Dương, Hàm Tử… lừng danh trên thế giới đều là giang chiến. Riêng trận Vân Đồn, nơi Trần Khánh Dư tiêu diệt đội thuyền lương Trương Văn Hổ của quân Nguyên Mông là trận đánh trên biển đầu tiên, nhưng cũng là một trận “duyên chiến”. Đến thời các Chúa Nguyễn, thủy chiến đã được nâng lên một tầm cao mới – hải chiến.

Trận hải chiến đầu tiên được lịch sử ghi nhận là trận do Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần khi ấy còn là thế tử chỉ huy, đánh tan một hạm đội của Hà Lan đến hải phận nước ta “gây hấn” vào năm 1643. Trước đó, vào năm 1585, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên khi ấy còn là một hoàng tử, đã đánh tan một đội tàu chiến 6 chiếc của Nhật Bản (Đại Nam thực lục gọi đây là tàu của “tướng giặc nước Tây dương hiệu là Hiển Quý”, có tài liệu nói đây là tàu Kenki của Nhật Bản) đến cướp bóc vùng ven biển Cửa Việt, nhưng trận này cũng là một trận “duyên chiến”.

Có thể nói Hải quân Việt Nam được khai sinh từ trận đánh thắng đội tàu chiến Hà Lan, vốn là nước có đội tàu chiến hiện đại nhất phương tây lúc bấy giờ.

Không chỉ đánh thắng tàu chiến Hà Lan và Nhật Bản, hải quân Nhà Nguyễn còn đánh thắng tàu chiến Anh sang gây hấn, quét sạch mọi loại giặc biển đến từ Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan … Hệ thống phòng thủ bờ biển được thiết lập dọc theo chiều dài đất nước, không chỉ Phú Quốc, Côn Sơn, Hoàng Sa, Trường Sa mà hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ trên biển đều được tiếp quản, thiết lập chủ quyền và canh phòng cẩn mật, suốt mấy trăm năm không để mất một tấc đảo một khoảnh nước nào. Trên cơ sở phòng thủ vững chắc, Nhà Nguyễn đã thiết lập các tuyến hải hành và mở rộng giao thương với nước ngoài. Tàu thuyền nước ngoài đến tấp nập ở Hội An và các thương cảng; tàu thuyền nước ta cũng cập bến ở nhiều nước Á, Âu. Khiêm cung hòa hiếu nhưng dũng mãnh cương cường, không hại ai nhưng nhất quyết không để ai hại mình, đó là thế đứng vững chắc của nước ta một thời giữa thiên hạ.

Đại Nam thực lục tiền biên có ghi rõ lực lượng thủy binh nước ta thời Chúa Nguyễn Phúc Tần có tới 22.740 quân, bao gồm :

- Cơ Trung hầu 10 thuyền 300 người;

- Nội bộ 60 đội thuyền, hơn 3280 người;

- 2 cơ Tả trung và Hữu trung, mỗi cơ 14 thuyền, đều hơn 700 người;

- Nội thủy 58 thuyền, 6410 người;

-Cơ Tả trung kiên 12 thuyền, 600 người;

-Cơ Hữu trung kiên 10 thuyền, 500 người;

-2 cơ Tả trung bộ và Hữu trung bộ, mỗi cơ 10 thuyền, đều 450 người;

-Cơ Tiền trung bộ 12 đội, mỗi đội 5 thuyền, cộng 2700 người;

-4 cơ Tả dực, Hữu dực, Tiền dực, Hậu dực, mỗi cơ 5 thuyền, cộng hơn 1100 người;

-4 đội Tiền thủy, Hậu thủy, Tả thủy, Hữu thủy, mỗi đội 5 thuyền, đều hơn 500 người;

-8 cơ Tả nội bộ, Hữu nội bộ, Tiền nội bộ, Hậu nội bộ, Tả súng, Hữu súng, Tiền súng, Hậu súng, mỗi cơ 6 thuyền, cộng 2100 người;

-Dinh tả bộ 10 thuyền, cộng hơn 450 người;

-4 đội Tiền bính, Hậu bính, Tả bính, Hữu bính, mỗi đội 4 thuyền, đều hơn 200 người;

-Cơ Tả thủy 5 thuyền, hơn 200 người.

Tàu thuyền quân sự và dân sự của nhà Nguyễn gồm 3 loại : tàu thuyền dùng mái chèo, tàu thuyền dùng buồm và tàu bọc đồng chạy hơi nước. Tàu bọc đồng chạy hơi nước có từ thời vua Gia Long, nói theo ngôn ngữ bây giờ thì Nhà Nguyễn đã sớm hiện đại hóa tàu thuyền ngang với thế giới.

J. Barrow trong cuốn “Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà 1792-1793” đã ghi lại một bảng thống kê thú vị về quân đội nhà Nguyễn thời vua Gia Long : Tổng quân số 139.800 người, riêng Hải quân có 26.800 người. Barrow còn ghi thêm về việc “hiện đại hóa” hải quân của Gia Long : “Ông đã cho đóng ít nhất 300 pháo thuyền lớn hoặc loại thuyền dùng chèo, 5 thuyền có cột buồm và một chiến hạm đúng theo kiểu tàu châu Âu. Ông cho đưa vào quân đội một hệ thống các chiến thuật hàng hải, và cho những sĩ quan hải quân học cách sử dụng các tín hiệu”.

Nhìn vào những tài liệu đã ghi chép, hầu hết các nhà nghiên cứu đều nhầm tưởng sức mạnh hải quân của Nhà Nguyễn chính ở sự “hiện đại hóa” đội tàu theo kiểu Châu Âu. Nhưng sự thật không phải vậy. Hiện đại theo cách của người ta thì không bao giờ bằng người ta được, chưa nói đến việc hơn người ta.

Sức mạnh hải quân Nhà Nguyễn nằm ở 3 yếu tố nổi trội nói ở đầu bài : kỹ thuật tàu chiến, vũ khí và quân lương. Cả ba đều là bí mật, không ghi trong sử sách (nếu ghi thì còn gì là bí mật). Chưa ai tìm ra được các tài liệu nói về 3 yếu tố trên, thậm chí cả những hình vẽ và ảnh chụp các tàu chiến nhà Nguyễn cũng không thấy để lại, ngoài một cuốn binh pháp là cuốn “Hổ trướng khu cơ” của Đào Duy Từ, trong đó có đề cập đến các trận pháp và kỹ thuật thủy chiến nhưng cũng không đề cập đến 3 yếu tố trên.

Rất may là các bí mật này vẫn còn lưu lại trong dòng tộc, được ghi khá tường tận trong một cuốn sách bí truyền : Nguyễn Phúc tộc đế phả tường giải đồ, cuốn sách hiện vẫn còn được lưu giữ trong gia đình ông Nguyễn Phúc Ưng Viên, một hậu duệ của vua Minh Mệnh (ông Ưng Viên gọi vua Minh Mệnh bằng ông cố).

Theo tài liệu nói trên thì tàu hơi nước dù rất hiện đại, nhưng cũng chỉ dùng để vận tải, không dùng làm tàu chiến. Ngay cả các thủy sư người Pháp phục vụ cho hải quân nhà Nguyễn, trong trận hải chiến lừng danh là trận Thị Nại, họ cũng chỉ làm nhiệm vụ tải lương, tức là chỉ đóng vai hậu cần. Bởi vậy mà theo Barrow, trong số 26.800 hải quân, chỉ có 1.200 người phục vụ trên các tàu đóng kiểu châu Âu.

Tàu thuyền chạy bằng buồm cũng vậy. Dù có kết cấu hết sức linh hoạt, vỏ tàu có 3 lớp, tàu lớn tải trọng có thể trên 40 tấn, có 22 khoang, mỗi khoang đều có phao làm bằng thao tằm, có trụ trung tâm điều khiển cột buồm bằng con quay để giữ thăng bằng và bảo đảm quan sát được 4 hướng, dưới chân cột buồm có dàn xạ tiễn bắn tự động để đối phó mỗi khi bị tàu địch tấn công. Tàu buồm này chịu được sóng gió cấp 5. Tuy nhiên tàu chạy bằng buồm cũng chỉ được dùng làm tàu vận chuyển và … nghi binh mà thôi.

Tàu chiến của Nhà Nguyễn toàn bộ làm bằng tre và chỉ dùng mái chèo. Nghe thì tầm thường, nhưng sự vô song chính là ở đó. Tuy dùng bằng mái chèo nhưng có thể lướt sóng với tốc độ nhanh hơn tàu chạy bằng hơi nước, lại linh hoạt hơn và cơ động thiện chiến hơn nhiều. Vì sao vậy ?

(còn tiếp)

HOÀNG HẢI VÂN

Bài đăng trên Thanh Niên, 19-9-2011

Kỳ 2 : Bí mật về cấu tạo tàu chiến

Thứ Ba, 14 tháng 6, 2011

Thử lật lại "vụ án" Trần Thủ Độ giết hết tôn thất nhà Lý

Nhà Lý và nhà Trần đều có công lớn đối với lịch sử dân tộc. Tuy nhiên mỗi lần đọc sử sách lại thấy “cộm” lên câu chuyện Trần Thủ Độ “giết hết” tôn thất nhà Lý. Hãy thử lật lại “vụ án” này.

Đúng là Đại Việt sử ký toàn thư có ghi :

“(Năm 1226)… Mùa thu, tháng 8, ngày mồng 10, Trần Thủ Độ giết Lý Huệ Tông ở chùa Chân Giáo.

Trước đó, Thượng hoàng nhà Lý có lần ra chơi chợ Đông, dân chúng tranh nhau chạy đến xem, có người thương khóc. Thủ Độ sợ lòng người nhớ vua cũ, sinh biến loạn, cho dời đến ở chùa Chân Giáo; bề ngoài giả vờ là để phụng sự, nhưng bên trong thực ra là để dễ bề giữ chặt.

Có lần Thủ Độ qua trước cửa chùa, thấy Huệ Tông ngồi xổm nhổ cỏ, Thủ Độ nói: “Nhổ cỏ thì phải nhổ cả rễ sâu”.

Huệ Tông đứng dậy, phủi tay nói: “Điều ngươi nói, ta hiểu rồi”.

Đến nơi, sai người bày biện hương hoa đến bảo (Huệ Tông): “Thượng phụ sai thần đến mời”.

Thượng hoàng nhà Lý nói: “Ta tụng kinh xong sẽ tự tử”.

Nói rồi vào buồng ngủ khấn rằng: “Thiên hạ nhà ta đã về tay ngươi, ngươi lại còn giết ta, ngày nay ta chết, đến khi khác con cháu ngươi cũng sẽ bị như thế”.

Bèn thắt cổ tự tử ở vườn sau chùa.

Thủ Độ ra lệnh cho các quan đến khóc, khoét tường thành phía nam làm cửa (người bấy giờ gọi là “cửa khoét”), đưa linh cữu ra phường Yên Hoa để thiêu, chứa xương vào tháp chùa Bảo Quang, tôn miếu hiệu là Huệ Tông…”.

Đoạn sử trên đây có nhiều điều cần bàn.

Thứ nhất, từ hai câu đối đáp giữa Trần Thủ Độ và Lý Huệ Tông, đến Lý Huệ Tông tự tử, để nói Trần Thủ Độ giết Lý Huệ Tông là không thỏa đáng.

Thứ hai, lời khấn của Lý Huệ Tông trong phòng ngủ nếu có thì chỉ có Lý Huệ Tông biết và chắc chắn không đem ra kể lại, thế thì tại sao có người biết mà ghi ? Hơn nữa, Trần Thái Tông là con rể của mình, con cháu họ Trần sau này cũng chính là con cháu của Lý Huệ Tông, sao ông nỡ có lời khấn như vậy được. Cả hai câu đối đáp ở trên cũng có khả năng là sự đồn đại, không thể có xuất xứ từ một tài liệu tin cậy. Cần biết, do bối cảnh Đại Việt sử ký toàn thư được biên soạn vào thời Lê sau khi nhà Minh tiêu hủy gần hết sách vở tài liệu của các đời trước, vua Lê Thánh Tông đã cho phép sử quan tập hợp tất cả truyền thuyết, dã sử và các câu chuyện kể trong dân gian vào sử sách, nên có khả năng những đoạn như thế này được lấy từ những câu chuyện hư cấu.


Hổ đá tại lăng Thái sư Trần Thủ Độ (Thái Bình) - Ảnh: T.L

Đại Việt sử ký toàn thư ghi tiếp :

"(Năm1232)… Trần Thủ Độ giết hết tôn thất nhà Lý.

Khi ấy Thủ Độ chuyên chính lâu ngày, đã giết Huệ Tông, tôn thất nhà Lý đều bùi ngùi thất vọng.

Mùa đông năm ấy, nhân người họ Lý làm lễ tế các vua Lý ở Thái Đường, Hoa Lâm, Thủ Độ ngầm đào hố sâu, làm nhà lên trên, đợi khi mọi người uống rượu say, giật máy chôn sống hết”.

Tiếp theo đoạn này, Đại Việt sử ký toàn thư mở ngoặc: “Xét thời Trần Anh Tông còn có người họ Lý làm tướng, hơn nữa Phan Phu Tiên không ghi lại, việc này chưa chắc đã có thực, hãy tạm chép vào đây”.

Ngày nay một “nghi án” mà không có tài liệu, không có “nhân chứng vật chứng” thì không thể kết tội, không kết tội được thì phải tuyên bố đương sự vô tội. Sử sách cũng vậy thôi, đã ghi một điều thì phải có nguồn dẫn tin cậy. Vấn đề là lâu nay khi giáo dục truyền bá lịch sử người ta thường không lưu ý đến câu mở ngoặc này của Ngô Sỹ Liên. Khi nghiên cứu lịch sử, nhiều nhà nghiên cứu cũng không để ý đến bối cảnh có chỉ dụ của Lê Thánh Tông.

Để làm rõ hơn mối quan hệ kế thừa giữa nhà Trần và nhà Lý, có thể dẫn thêm một nguồn khác. Đó là An Nam chí lược của Lê Tắc. Dù Lê Tắc là người “có vấn đề”, nhưng An Nam chí lược chứa đựng những sử liệu hết sức quý giá, là cuốn sử cổ nhất của nước ta viết từ thời nhà Trần đến nay còn truyền bản.

Đề cập đến Lý Huệ Tông và Trần Thừa (cha Trần Thái Tông), An Nam chí lược viết:

“(Trần) Thừa có công đánh giặc, xin cho con kết hôn với công chúa Chiêu Thánh. Vương (Lý Huệ Tông) bằng lòng”. Đến đoạn nói về Lý Chiêu Hoàng, An Nam chí lược viết: “Lên ngôi được một năm, năm Canh Dần (1230) trao quốc chính cho chồng là Trần Nhật Cảnh”.

Và An Nam chí lược có một đoạn rất quan trọng: “Lúc nhà Lý truyền ngôi được ba đời, Vương Võ Xứng nhà Tống làm sách Đông Đô sử lược Giao Chỉ phụ lục có đoạn : (…) Nay họ Lý truyền ngôi tám đời 220 năm. Huệ Tông không con, truyền nước cho rể. Đến nay họ Lý vẫn được tế tự luôn luôn, kể sự may thì may biết bao nhiêu”.

Dẫn như vậy để thấy nhà Trần đã kế thừa ngôi nhà Lý một cách danh chính ngôn thuận, không có lý do để “nhổ cỏ tận gốc”. Trần Thủ Độ, Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông… đều là những anh hùng có công với nước, đặc biệt có có công trạng lẫy lừng trong cuộc kháng chiến chống đội quân xâm lược mạnh nhất hành tinh lúc bấy giờ là quân Nguyên - Mông. Không thể vì những đoạn sử thiếu căn cứ mà làm tổn hại đến uy danh của tiền nhân.

Đối với Trần Thủ Độ, ông một tay quán xuyến cơ nghiệp nhà Trần trong buổi đầu, dù quyền hành “nghiêng nước” nhưng ông quang minh lỗi lạc, chí công vô tư, dù cho hết lòng bảo vệ nhà Trần ông cũng không thể dùng thủ đoạn lừa dối để giết người bừa bãi như vậy được.

Vả lại, Trần Thái Tông là con rể của Lý Huệ Tông và Trần Thánh Tông chính là cháu ngoại của Lý Huệ Tông. Nhà Trần, kể từ Trần Thánh Tông có một nửa dòng máu của họ Lý. Cho nên nói “Họ Lý vẫn được tế tự luôn luôn” là có cơ sở.

Hoàng Hải Vân

(Bài đăng trên Thanh Niên)

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2009

"Vô vi nhi trị"


Nhà Hán là triều đại tồn tại tới 426 năm (206 TCN-210 CN), dài nhất trong lịch sử Trung Quốc, kể từ sau Nhà Chu. Công lao khai quốc dĩ nhiên là của Hán Cao tổ Lưu Bang cùng các công thần Trương Lương, Tiêu Hà, Hàn Tín… Nhưng người đặt nền móng vững chắc cho sự dài lâu của Nhà Hán chính là Hán Văn đế Lưu Hằng (trị vì 180 TCN- 157 TCN) và con ông là Hán Cảnh đế Lưu Khải (trị vì 157 TCN-141 TCN). Đó là hai vị hoàng đế khoan hòa bậc nhất Trung Hoa. Thời của hai ông được lịch sử ca tụng là thời “Văn Cảnh chi trị”.


Trong Nhị thập tứ hiếu, Hán Văn đế được xếp thứ hai. Sau đây là trích đoạn diễn nôm của Lý Văn Phức :


Kìa Văn Đế vua hiền Nhà Hán
Vâng ấn phong ngoài cõi phiên Vương,
Quên mình chức cả quyền sang,
Phụng thờ Bạc Hậu lẽ thường chẳng sai,
Đến khi nối ngôi trời trị nước,
Vẫn lòng này săn sắc như xưa.
Mẹ khi ngại gió kinh mưa.
Ba năm hầu hạ thường như một ngày.
Mắt chong bóng dám sai giấc ngủ.
Áo luôn mình dám sổ đai lưng.
Thuốc thang mắt xét tay nâng.
Nếm tường trong miệng mới dâng dưới màn.
Tiếng nhân hiếu đồn vang thiên hạ,
Thói thuần lương hóa cả lê nguyên,
Hai mươi năm lẽ kiền khôn…


Sử cũng chép rằng, Hán Văn đế từ khi còn làm Vương cho đến khi làm Đế, đều hàng ngày cơm bưng nước rót, tự mình chăm sóc mẹ. Sau mỗi buổi chầu, ông cứ mặc triều phục đi thẳng đến vấn an, hầu hạ mẹ. Khi mẹ ốm, thái y đem thuốc đến, ông nếm thuốc trước khi dâng mẹ uống. Sợ thái y không vui, ông từ tốn giải thích, rằng không phải trẫm không tin các khanh, cũng không phải trẫm đánh giá thấp y thuật của các khanh, nhưng trẫm sợ các khanh làm việc mệt nhọc, khi mệt nhọc thì khó tránh khỏi sai sót, bởi vậy nếu các khanh có sơ sót thì trấm phải chịu thay để giữ bình an cho mẹ trẫm. Từ tấm gương của Hán Văn đế mà thiên hạ đề cao Hiếu kinh, coi đó là một trong những cái Đạo làm Người.


Trần Nhân Tông, ông vua anh hùng và là một “Phật Hoàng” của nước ta , có nhắc đến Hán Văn đế trong bài thơ Cây Mai (bản dịch của thiền sư Lê Mạnh Thát) :


Sắt đá gan lì khinh tuyết sớm

Khăn xiêm mộc mạc gió đông luồn

Trần gian kiệm ước Hán Văn Đế

Thiên hạ anh hùng Đường Thái Tông.


Còn Trần Anh Tông, cũng là một minh quân Nhà Trần, có riêng một bài thơ về Hán Văn đế :


Hình thố tô khoan diệc chí nhân

Dưỡng thành tứ bách Hán gia xuân

Dặc đề tiêu đắc thân thanh kiệm

Bất phí công thần, phí lộng thần


Tạm dịch :

Nhẹ hình phạt, giảm thuế má, (Hán Văn đế) là bậc chí nhân

(Bởi vậy mà) tạo nên cơ nghiệp nhà Hán bốn trăm năm

Mặc áo sồi thâm để giữ thân thanh kiệm

Không “phí” công thần mà “phí” lộng thần.


(Chữ “Phí” () trong câu này rất khó dịch. Trong một bản dịch của bà Phạm Tú Châu, câu này được dịch là “So sẻn công thần, nới lộng thần”. Tôi có hỏi thầy Lê Mạnh Thát, thầy Thát bảo câu này chưa đến mức phê phán Hán Văn đế nhưng Trần Anh Tông có ý “hờn” ông vì ông khắt khe với các công thần mà rộng rãi với các bề tôi mới để họ lộng hành, có lẽ do Hán Văn đế là ông vua trẻ, lên ngôi khi mới 22 tuổi. Tôi vẫn chưa thông cách giải thích này, vì thực tế các công thần như Trần Bình, Chu Bột… đều được trọng dụng, làm đến tả hữu thừa tướng, còn những người trẻ như Giả Nghị, Tiều Thác…đều là những nhân tài. Trần Anh Tông nghĩ là Hán Văn đế chỉ nghe ý kiến của “lớp trẻ” và bỏ qua ý kiến của “lớp già” chăng ? Mong các bậc thức giả chỉ giáo tiếp).


Xin nói rõ là Hán Văn đế hoàn toàn không nằm trong số những ông vua có tư tưởng “bành trướng Đại Hán”.Cũng xin nói rõ thêm là Hán Văn đế cai trị Trung Hoa cùng thời với Triệu Đà cai trị nước Nam Việt. Dù ta coi nước Nam Việt là “nước ta” như sử sách ghi hay coi nước Nam Việt “không phải là nước ta” như lập luận của thiền sư Lê Mạnh Thát, thì Hán Văn đế vẫn là ông vua Tàu không can hệ gì đến việc đô hộ nước ta. Thời của ông, Trung Quốc sống hòa bình với bốn phía. Quân đội của Hán Văn đế chỉ làm nhiệm vụ đánh trả mỗi khi có bên ngoài xâm phạm lãnh thổ, chứ không phải ngược lại.


Nhưng điều đặc biệt tôi muốn đề cập ở đây là tư tưởng trị quốc của Hán Văn đế (và Hán Cảnh đế). Ngay sau khi lên ngôi, ông xuống chiếu cho các nơi tiến cử người tài. Trong khi đối ngoại ông thực hiện hòa hiếu thì đối nội ông thực hiện an dân.


Thứ nhất là giảm nhẹ thuế má. Không lâu sau khi lên ngôi, Hán Văn đế ra chiếu giảm thuế và lao dịch. Thuế giảm xuống một nửa, từ mức 1/15 xuống 1/30 sản lượng. Năm 178 TCN, miễn thuế 3 năm cho dân Tấn Dương và Trung Đô. Năm 167 TCN, miễn thuế ruộng cả năm cho toàn dân. Đối với lao dịch, trước đây mỗi năm người dân phải đi 1 lần, Hán Văn đế giảm xuống 3 năm mới đi 1 lần. Đồng thời ông ra chiếu nghiêm cấm các châu quận cống cho triều đình những “kỳ trân dị vật” và miễn luôn việc tiến công bình thường vào những lúc thiên tai. Đây là điển hình của “khoan sức dân” trong lịch sử. Nhưng điều đáng lưu ý là việc giảm thuế, miễn thuế hoàn toàn không làm cho quốc khố thiếu thốn mà ngược lại, chính sách này đã kích thích mạnh mẽ việc làm ăn của dân, khiến cho của cải dồi dào, cả nước phồn thịnh, nhờ vậy mà quốc khố cũng đầy ắp tiền của. Sử sách còn ghi vào thời Văn đế và Cảnh đế, tiền trong kho dư thừa đến mức các sợi dây xâu tiền mục nát hết, còn lương thực thì không có đủ kho để chứa. Khắp nơi no đủ, dân không ai đói kém.


Thứ hai là giảm nhẹ hình phạt. Hán Văn đế không tán thành những đề xuất của các công thần giữ nguyên pháp chế của đời trước thực hiện hình phạt nặng để răn đe dân chúng. Ông quyết định bãi bỏ nhục hình (cắt thân thể), thay nhục hình bằng lao dịch hoặc đánh roi, nặng nhất đánh từ 300 đến 500 roi. Nếu phạm nhân bị đánh chết thì Giám quan phải đền mạng. Đến thời Hán Cảnh đế, mức đánh roi giảm xuống còn 100-200 roi và quy định chỉ được đánh vào mông. Nói chung, thời Văn đế, Cảnh đế, hình phạt rất nhẹ, nhưng dân chúng không mấy người phạm tội, nên Nhà nước không phải dùng đến hình pháp.


Thứ ba là giảm mạnh chi tiêu của Nhà nước. Mặc dù quốc khố đầy ắp, nhưng bản thân Hán Văn đế nêu một tấm gương sáng về thanh kiệm. Hàng ngày nhà vua mặc quần áo bằng vải rẻ tiền, trong cung không dùng đồ bằng vàng hoặc bịt vàng, đi xe không dùng quá 4 ngựa, không xây thêm cung điện, không tuyển thêm người hầu, không sắm thêm xe ngựa hoặc đồ dùng xa xỉ. Văn đế, Cảnh đế còn giảm mạnh chi tiêu quốc phòng, quân đội thời bình được về nhà làm ăn sinh sống, chỉ giữ một số quân thường trực cần thiết để giữ gìn biên cương. Trước khi chết, Văn đế còn dặn việc chôn cất phải hết sức đơn giản, đồ tùy táng chỉ có gốm sứ, không chôn theo vàng bạc châu báu, không làm lăng mộ để khỏi bắt dân phải lao dịch. Ông bãi bỏ việc bắt dân chúng để tang 3 năm, chỉ để tang 7 ngày, sau 7 ngày thì để toàn dân được vui chơi.


Dưới cái nhìn ngày nay, có thể thấy Hán Văn đế, Hán Cảnh đế đã thực hiện một kiểu “Nhà nước tối thiểu” với chính sách gần giống như laissez-faire ở phương tây thế kỷ 19, Nhà nước không can thiệp vào cuộc sống của người dân. Bởi vậy mà đất nước thịnh vượng, dân chúng yên vui, bốn phía hòa bình. Chính sách trị quốc của hai ông còn được lịch sử gọi là “vô vi nhi trị”. Gần 2000 năm sau, tư tưởng "vô vi nhi trị" được Thomas Jefferson, tác giả bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ khác : "Government that governs least governs best".

Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2009

Chúa Sãi và laissez-faire

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (6)

(tiếp theo)


Từ đầu thế kỷ trước (1918), Sài Gòn đã được thế giới vinh danh là “Hòn Ngọc viễn đông”, mức độ giàu có thịnh vượng của nó vượt xa Hồng Kông. Hãy gác một bên các thể chế chính trị, sự thịnh vượng của Sài Gòn có thể nói thời nào cũng xuất phát từ một nguyên nhân căn bản : tự do thương mại. Tư tưởng tự do thương mại, từ đó dẫn đến sự thịnh vượng của Sài Gòn, khởi nguồn từ tầm vóc của một con người vĩ đại : Chúa Sãi.


Chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên – 1563-1635) để lại nhiều di sản đồ sộ cho dân tộc, trong đó có 3 di sản bất diệt mà hễ ai là người Việt Nam đều không được phép quên : Đem Sài Gòn và Nam bộ về cho Tổ Quốc một cách hòa bình, xác lập và thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa-Trường Sa (cùng các quần đảo khác trên biển Đông) và đặt nền móng đầu tiên cho một nền kinh tế thị trường.


Lâu rồi tôi có đọc ở đâu đó một câu chuyện thú vị về Đào Duy Từ. Xem lịch sử mọi người đều biết Đào Duy Từ xuất thân từ gia đình một “con hát” ở Đàng Ngoài. Do xã hội Đàng Ngoài của chúa Trịnh duy trì những giá trị Nho giáo bảo thủ, trong đó có quan niệm “xướng ca vô loài” nên với cái lý lịch thành phần “con hát”, họ Đào không được thi cử. Với tài năng và chí khí của mình, họ Đào không yên phận, ông đã “vượt biên” vào Nam theo chúa Nguyễn. Đào Duy Từ không chỉ học rộng hiểu nhiều mà còn có tài kinh bang tế thế. Chúa Sãi không những trọng dụng ông mà còn tôn ông làm quân sư, tức là làm thầy mình. Họ Đào đã có công rất lớn giúp chúa Nguyễn mở nước an dân, không có việc gì ông không giỏi. Nhưng có một điều ông không hiểu, không tán thành với Chúa Sãi mà vẫn canh cánh nhiều năm không tiện nói. Đó là việc Chúa Sãi cho tàu buôn nước ngoài tự do đi lại và tỏ ra vô cùng trọng thị các thương nhân (đến mức gả luôn con gái cho một nhà buôn Nhật Bản). Đến cuối đời, ông đã đem tâm sự đó nói ra. Chúa Sãi không trả lời ông mà đưa cho ông xem bảng cân đối ngân sách quốc gia. Nhìn thấy phần lớn ngân sách là từ các khoản thuế thu từ các tàu buôn đó, Đào Duy Từ ngửa mặt lên trời than : “Ta không bằng Chúa Sãi”.


Lê Quý Đôn, người ở “phía bên kia” (Đàng Ngoài), vẫn phải nhận xét : “Đoan quận công (Chúa Sãi) … chính sự khoan hòa, việc gì cũng thường làm ơn cho dân, phép tắc công bằng…; thuyền ngoại quốc đến buôn bán, việc giao dịch phân minh, ai cũng cố gắng, toàn cõi nhân dân an cư lạc nghiệp” (theo Phủ biên tạp lục). Nhân dân mến đức Nguyễn Phúc Nguyên nên gọi ông là Chúa Sãi hay Phật Chúa. Xét trên quan điểm ngày nay, “chính sự khoan hòa”, “phép tắc công bằng” không có gì khác hơn là việc để cho dân tự do làm ăn buôn bán, không lạm thu thuế má, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.


Thời Nguyễn Phúc Nguyên, Hội An đã biến thành thương cảng nổi tiếng thế giới. Trong cuốn sách "Xứ Đàng Trong năm 1621", Christoforo Borri, một giáo sĩ Dòng Tên người Ý đến sống ở nước ta vào thời đó đã nhận xét : “Chúa Đàng Trong không đóng cửa trước một quốc gia nào, ngài để cho tự do và mở cửa cho tất cả người ngoại quốc, người Hà Lan cũng tới như những người khác, cùng với tàu chở rất nhiều hàng hóa của họ” (lời của Borri và Lê Quý Đôn trích từ "Nguyễn Phúc Nguyên : vị chúa của những kỳ công mở cõi đầu thế kỷ 17" - tham luận của gs Nguyễn Quang Ngọc tại Hội thảo Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn, 10-2008). Chuyện lạ lùng, cũng là chuyện vô tiền khoáng hậu trong lịch sử, là Nguyễn Phúc Nguyên đã không áp đặt sự cai trị của mình, ông đã để Nhà nước của ông lùi xa ra để cho các khu phố được tự trị, để họ sống theo tập quán, luật lệ riêng.


Nói lan man chuyện Chúa Sãi để thấy rằng, Việt Nam đã từng thiết lập một xã hội tự do kinh tế từ rất sớm, đầu thế kỷ 17, mặc dù Nhà nước lúc đó không phải là Nhà nước dân chủ. Bởi vậy có thể nói nước ta cũng có truyền thống laissez-faire hàng trăm năm. Qua những cuộc bể dâu của lịch sử, truyền thống đó đã len lỏi, dịch chuyển, chòi đạp để tự bảo tồn và phát triển. “Hòn ngọc viễn đông” Sài Gòn là kết quả của sự phát triển đó.


Ngày xưa Hồng Kông, Singapore, Seoul, Bangkok… “không là gì” đối với Sài Gòn cả, nhưng nay thì Sài Gòn – TPHCM không còn là “Hòn ngọc viễn đông” nữa, nó đã thua xa những nơi đó, đến nỗi người ta tính với tốc độ như hiện nay thì phải mất hàng chục năm chúng ta mới đuổi kịp, thậm chí có người còn tính phải mất …197 năm nữa Việt Nam mới đuổi kịp Singapore (?!). Tôi không tán thành cách tính khập khiểng đó, dù dùng bất cứ tham số nào, cái khoảng cách này chỉ nói lên sự lạc hậu mà các đơn thuốc hiện tại không thể chữa nổi mà thôi.


Dĩ nhiên nếu so sánh nó với chính nó thì quy mô kinh tế của Sài Gòn-TPHCM lớn hơn nhiều lần so với khi nó là “Hòn ngọc viễn đông”. Nhưng sự phát triển đó không có ý nghĩa, vì quá chậm để cho những khu vực từng lạc hậu hơn vượt lên quá xa. Điều này ai cũng hiểu. Sự tụt hậu quá xa đó chỉ có thể nói là do thị trường tự do bị phế bỏ trong một thời gian dài.


Vấn đề là, so với tương quan trong nước, tức là trong cùng một mặt bằng kìm hãm của cơ chế kế hoạch tập trung quan liêu cũng như khi cơ chế này từ từ bị tháo bỏ trong Đổi Mới, Sài Gòn-TPHCM vẫn có sức chòi đạp để "xé rào" và đã bứt phá nhanh hơn, thịnh vượng nhanh hơn. Cái gì làm nên sự bứt phá đó ? Đó chính là truyền thống laissez-faire, truyền thống này đã thành tập quán, tồn tại âm ỉ, không bị thủ tiêu trong gọng kiềm kế hoạch hóa, như những hạt mầm ủ sẵn trong lòng đất, phát quang đến đâu sinh sôi đến đó.


Có thể khẳng định, mức độ thịnh vượng của Sài Gòn – TPHCM kể từ khi Đổi Mới đến nay là kết quả sự trỗi dậy của truyền thống tự do kinh doanh trừ đi phần tiêu hao do sự kìm hãm của quản lý Nhà nước mặc dù đã “đổi mới” song vẫn còn đầy những biện pháp phi thị trường.


Nói chuyện trong nước để trở lại chuyện của thế giới. Theo Alan Greenspan, trong hai thế kỷ qua mặc dù dân số trái đất tăng gấp 6 lần nhưng thu nhập bình quân đầu người vẫn tăng 10 lần, tuổi thọ con người tăng gấp đôi. Đó là kết quả của laissez-faire.


Nhưng cần phân biệt sự khác nhau giữa hai thế kỷ. Thế kỷ 19 gần như thông suốt với laissez-faire. Thế kỷ 20 ách tắc với chiến tranh, kế hoạch hóa và chủ nghĩa can thiệp, tóm lại là ách tắc với “big government” các loại. Nếu bộ máy Nhà nước không phình to ra “đè đầu cưỡi cổ” thị trường thì thế kỷ 20 đã thịnh vượng đến mức nào ? Không ai tính được, và nhân loại không có ý định tính, dĩ nhiên rồi, vì lịch sử không có chữ “nếu”…


(còn tiếp)