Hiển thị các bài đăng có nhãn poem. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn poem. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, ngày 05 tháng 9 năm 2009

Đọc Bùi Giáng (III)


Hồi nhỏ đọc “Ngày tháng ngao du” của Bùi Giáng tôi không hiểu, nhưng nhiều chỗ ông nói bá xàm như con nít nghe rất vui nhộn. Lớn lên đọc cũng không hiểu, càng cố hiểu càng không hiểu. Bây giờ đọc lại không thể nói là hiểu hay không hiểu, nói không hiểu thì không đúng, còn nói hiểu là nói bừa.

Đọc cuốn sách này (cũng như những cuốn sách khác của Bùi Giáng) nếu như không cố hiểu, bạn sẽ thấy thú vị như nhìn trẻ con nô đùa, như nhìn phố xá nhộn nhịp, như nghe cây lá chim chóc véo von như thấy chuồn chuồn bay phấp phới.

Trong “Tái bút” của cuốn sách, Bùi Giáng rất ý tứ : Ngày Tháng Ngao Du đi bước ngu dao nghiêm mật phiêu bồng trong toàn thể phiêu bồng của nó. Không thể tách rời một bài nào ra, để công kích hay tán dương theo lối hồ đồ bác học”. Ông còn bảo “đành rằng ngao du là ngao du với bước đi của ngôn ngữ thượng thừa, nhưng thỉnh thoảng cũng phải chịu chơi giấn thân vào cuộc với ngôn ngữ hạ thừa”.

Thế nào là thượng thừa ? Và thế nào là hạ thừa ?


Khoan nói đến những ngôn ngữ kỳ lạ kiểu như “cô Kim Cương hãy đi tiểu trên nấm mồ tại hạ” đầy dẫy trong cuốn sách. Hãy nghe Bùi Giáng nói về kinh Phật trong một bài viết về cuốn sách của Kimura Taiken trước đã. Kimuara Taiken là một học giả uyên bác người Nhật, tác giả cuốn “Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận”, thượng tọa Thích Quảng Độ dịch ra tiếng Việt từ một bản dịch chữ Hán, xuất bản trước năm 1975. Bùi Giáng ngao du vào cuốn sách đó và nhìn ông Taiken không phải bằng nửa con mắt mà bằng 1/10 con mắt. Bùi Giáng cho rằng :

“Ông (Taiken) viết sách thông thái tót vời, nhưng ông vẫn chưa biết cách tư tưởng. Ông bỏ lạc mất cái mạch ngầm ẩn mật trong những bộ kinh. Lời tại đây mà ý tại kia… Ngón tay Phật đưa lên từ chỗ nọ, mà cõi bờ bát ngát được chỉ dẫn ở tại đâu ?”.

Chỉ cho người đọc những “lệch lạc, thiếu căn bản tinh mật” trong lập luận cũng như những lời “mang tính chất giáo sư phê bình bài vở nhà trường”, trong đó ông Taiken nhận xét rằng các bộ kinh Hoa Nghiêm, Duy Ma “gạt bỏ Thanh Văn, bài xích Nhị Thừa” (tôi đã đọc cuốn sách của Taiken theo chỉ dẫn của Bùi Giáng và thấy Taiken nói rằng những tư tưởng của các bộ Kinh này tuy phát huy chân ý của Đức Phật nhưng chỉ giới hạn vào một “giai cấp đặc quyền nào đó thôi” và nếu xét theo tinh thần Bồ Tát cứu độ tất cả chúng sinh thì các kinh đó “vẫn còn có điểm khiếm khuyết, thiếu sót đáng tiếc”), Bùi Giáng viết tiếp :

“Lời nói đó (của Taiken), dù được hạn chế thế nào, vẫn không phải là lời của con người biết tự trọng. Vì sao ? Vì con người biết tự trọng là kẻ biết lặng thinh lúc đứng trước trùng khơi trí hải, lúc đối diện với giáp trĩ sơn lâm.

Nếu có gì khiếm khuyết, thiếu sót đáng tiếc, thì ấy là ở tại nơi ta, chớ không ở tại nơi rừng biển. Lòng ta không đủ rộng để đón nhận núi rừng. Những âm thanh phát ra là những diệu ngôn, những xảo-mật-ngữ trong phương-tiện-lực của biện tài thần thông tam muội. Một chút vi vu thoang thoảng đối với kẻ biết nghe, rất có thể mang đầy những vô lượng thế giới xa vắng về gạ gẫm bên làn da hiu hắt, nơi một lỗ chân long. Thì đáng tiếc thiếu sót cái gì ?”.

Theo Bùi Giáng thì lời lời trong các bộ kinh đó “tưởng như “gạt bỏ” mà thật ra là “dìu về”, bài xích mà chở che – chẳng riêng gì với Nhị Thừa với Thanh Văn, mà rộng ra khắp chúng sinh lạc loài suốt những a tăng kỳ kiếp”.

“Đừng nệ ở miền mà quên mất cõi. Đừng chấp ở cõi mà lạc mất mép rìa. Đừng nắm cái lời mà lệch cái điệu. Đừng nắm cái điệu mà bỏ mất cái heo hút hòa âm.

Người ta cứ tưởng Kinh Duy Ma đã đem những Xá Lợi Phất, Ma Ha Ca Chiên Diên ra mà chế giễu. Đâu có gì như thế. Bồ Tát vốn lắm phen thị hiện theo lối nghịch hành. Vì chúng sinh, họ có thể mở trận đùa rỡn từng cơn cơn cuộc cuộc. Và thảy thảy cùng man mác nằm ở giữa lòng mênh mông hiu hắt Như Lai”.

Một thiền sư thuyết pháp về kinh Phật, lời dù thâm sâu cũng đến thế là cùng.


Nhưng ngôn ngữ mà Bùi Giáng dùng để nói với ông Taiken là ngôn ngữ thựợng thừa chăng ? Không. Đó là ngôn ngữ hạ thừa, dù điều này chắc là trái với thước ngọc khuôn vàng của đa số các văn nhân học giả.


Giờ hãy đọc bài “
Ở giữa rừng Thệ Đa” để thấy ông nhảy vọt một bước từ hạ thừa lên thượng thừa trong trận ngao du ngôn ngữ. Rừng Thệ Đa là “đất Phật”, là nơi Đức Phật ở sau khi đắc đạo, là nơi Đức Phật hội tụ với 500 đại Bồ Tát. Bùi Giáng lai rai :


“Mặc dù ở trong rừng Thệ Đa, mà vẫn …


“Tuy tại Thệ Đa trung, bất kiến Như Lai tự tại thần lực…”.


Tình trạng đó, đâu phải chỉ riêng của hàng Thanh Văn.


Mà rừng Thệ Đa, đâu chỉ duy là rừng Thệ Đa.


Mà thần lực tự tại của Như Lai, đâu phải chỉ duy bo bo là Như Lai thần lực.


Ấy có nghĩa thế nào ?


Ấy có nghĩa rằng :


Mỗi mỗi người đều có một rừng Thệ Đa ở trong mình rất mực thần thông trí hải. Và cứ hằng hằng đánh mất mỗi mỗi ngày ngày cho tới suốt bình sinh tam sinh thập tử.


Vì thế nên phải gọi mãi mãi cánh chuồn chuồn mỗi mỗi bay về, bay đi, bay ở, bay vô phương vô hướng, bay tự tại thần thông, gà đồng mèo mả, mộng mỵ chiêm bao.

(…)
Tưởng chừng như mỗi mỗi người người không hằng hằng mỗi mỗi sát na gặp gỡ bà Tây Vương Mẫu ở tại rừng Thệ Đa vén xiêm ngồi xuống chan rưới mưa móc xum xuê !

Ô, cô Kim Cương ạ ! Tại hạ tuyệt vọng vô cùng, bởi vì cô không hứa chắc rằng mai sau sẽ đi tiểu …”


Phân tích tán dương ngôn ngữ hạ thừa của Bùi Giáng thì dễ. Nhưng đối với ngôn ngữ thượng thừa thì “xin các hạ hãy vô ngôn”.


(Chỉ xin mở một cái ngoặc : Kinh Phật bao la bát thiên tứ hải có chứa đủ tất cả những gì thuộc về cuộc sống của con người, bao gồm cả những chuyện ăn chuyện ngủ chuyện vân vân…, nhưng kinh Phật khi dịch ra chữ Hán, các đại sư Trung Hoa va phải bức tường hình nhi hạ Khổng Tử, nên những chỗ vân vân đó đều được phiên âm chứ không dám dịch nghĩa. Phật không câu nệ tù túng như Khổng. Bởi vậy mà ngày xưa Tôn Ngộ Không dù đã đái một bãi trên bàn tay Như Lai mà sau này vẫn cứ thành Phật như thường, Như Lai đâu có để ý đến cái lý lịch vô phép đó của Ngộ Không).


Trên đây là hai nếp gấp hạ - thượng thừa của “Ngày tháng ngao du”.

Và xin đưa mắt ngao du cùng Bùi Giáng thêm mấy bài nữa trên những rìa mép thượng thừa :


PHẬT CHẤT VẤN


- Bùi Bồ Đề ! Ý ông thế nào ? Cõi lòng Mẫu Thân Phùng Khánh có từ bi bằng cõi lòng của ta chăng ?

- Chẳng bằng.
- Bùi Bồ Đề ? Ý ông thế nào ? Cõi lòng của ta có từ bi bằng cõi lòng Mẫu Thân Phùng Khánh ?
- Chẳng bằng.
- Bùi Bồ Đề ! Ý ông thế nào ? Hai lần đáp chẳng bằng có phải là rất mực bằng chăng ?
- Rất mực.

PHẬT VÀ TIÊN


Phật ngồi dưới gốc bồ đề

Tiên nương dừng bước tóc thề chấm vai
Thưa rằng Phật thật là tài
Thấy mà như chẳng tự ngoài vào trong.

THẬT LÀ NHƯ THẾ


- Brigitte Bardot đẻ ra mày lúc nào ?
- Lúc tao mở mắt chào đời.
- Lúc đó mày cảm thấy thế nào ?
- Tao cảm thấy đau đớn.
- Tại sao đau đớn ?
- Bởi vì trước lúc đó, cô Kim Cương cũng có ý định đẻ ra tao. Nhưng lúc thấy Brigitte đẻ ra rồi, thì cô thôi không đẻ ra tạo nữa.

MỖI MỖI NGÀY
(trích)


Mỗi mỗi ngày tôi càng mỗi trẻ dại thêm ra.

Tôi chiêm bao ngàn ngàn mộng mỵ.
(…)
Brigitte Bardot bảo tôi rằng :
-Thơ chàng tặng em đọc nghe hay ho hơn thơ chàng tặng chị Monroe. Vì sao như thế ?
-Thế ư ? Thế ư ? Tôi đâu có thể biết vì sao như thế.
-Ắt có thể rằng là…
-Rằng là làm sao ?
-Rằng là ấy bởi chàng yêu Monroe nhiều hơn yêu em.
-Tại sao như thế ?
-Phàm hễ yêu nhiều, thì ấp úng không nên câu. Thơ làm tặng người yêu bao giờ cũng dở là bởi lẽ đó.
-Té ra là như thế.

Khổng Tử bảo tôi rằng :

-Thơ của ngài làm ra đích thị là thơ thần. Lời của lão hủ nói ra là lời thánh. Thánh chịu thua thần vậy.
-Thật thế ư ?
-Nhiên.

Phật bảo tôi rằng :

-Ngài làm thơ hay như thế, ta không bằng lòng.
-Tại sao ?
-Hàng ngàn Phật tử từ nay đọc thơ của ngài, ắt sẽ xao nhãng việc kinh kệ.
(….)

NIETZCHE


“Ta là ánh sáng. Ôi, phải chi ta là bóng đêm”…


Nietzche thường có giọng nói lố bịch như thế. Lố bịch một cách khệ nệ khệnh khạng như Lão Tử. Hoặc như những ông thiền sư lố bịch “trường khiếu nhứt thanh hàn thái hư”.


Thơ văn tôi làm cũng có lố bịch, nhưng lố bịch một cách thơ dại, khiến người đọc vui vẻ trường thọ.


Khoảng mười một năm nữa, sẽ chẳng còn ai đọc văn Nietzche. Trái lại, thơ văn của tôi, người ta sẽ thiết tha đọc ríu rít “ràng rịt mãi cho tới ngày tận thế” (!!!).


Giọt mờ bến cát chia xa

Hiên thềm đau cỏ gú ra đau hồng
Tường vi hai độ ra bông
Ra hoàng hậu đợi ra đồng chiều nay
Nghiêng mình mục tử cầm tay
Ra hoàng hậu đợi chiều nay ra đồng

Lố bịch như thế khiến cõi đời thơ mộng ra. Chúng ta không còn ngạc nhiên gì nữa, nếu thấy bao nhiêu hoàng hậu trong sử xanh đều yêu mến Bùi Giáng, và xa lánh Nietzche, xa lánh Lão Tử, xa lánh những ông thiền sư.


ĐỒNG THANH ĐIÊN


Mỗi năm nghe nguyệt mỗi sầu

Từ trong hang cọp thò đầu gọi beo
Hằng năm xuống phố gọi mèo
Gấu nghiêm trang bốn chân trèo leo qua
Thênh thang trâu ngựa trao quà
Trăng châu thổ động vịt gà gọi nhau
Chùa chiền mở cổng trước sau
Trên đầu qũy đạo ngọn cau kết chùm

(Bùi Giáng – Ngày tháng ngao du)


(còn tiếp)


HOÀNG HẢI VÂN


Bài liên quan :
Đọc Bùi Giáng (II)
Đọc Bùi Giáng (I)

Thứ Sáu, ngày 28 tháng 8 năm 2009

Đọc Bùi Giáng (II)


Kể từ khởi sự mọc răng
Đến bây giờ vẫn thường hằng chiêm bao
(Bùi Giáng)

“… Và ngày nay, hẳn nhiên, đã sáu năm rồi... Tôi chưa lần nào kể lại chuyện này. Những bạn bè gặp lại tôi đã hài lòng thấy tôi thoát nạn mà trở về. Tôi buồn rầu nhưng tôi bảo họ: Ấy chỉ vì mệt mỏi...

Bây giờ tôi thấy hơi an ủi. Nghĩa là... không hoàn toàn an ủi. Nhưng tôi biết rõ lắm là chú bé đã trở về tinh cầu mình, bởi vì lúc trời sáng, tôi không thấy tấm thân chú ở đâu. Tấm thân chẳng có chi nặng lắm... Và tôi thích lắng nghe tinh tú ban đêm. Ấy cũng như là năm trăm triệu chuông con lấp lánh dịu dàng reo...

Nhưng rồi lại có một sự kỳ lạ xảy ra.

Cái rọ bịt mõm mà tôi đã vẽ cho hoàng tử bé, tôi đã quên thêm vào cái đai da! Chú sẽ chẳng bao giờ cột được cái rọ vào mồm con cừu. Tôi tự hỏi: "Việc gì đã xảy ra trên tinh cầu của chú bé? Có thể rằng con cừu đã ăn mất đóa hoa..."

Lúc thì tôi tự nhủ: "Chắc hẳn là không! Hoàng tử bé đêm nào cũng nhốt kín đóa hoa dưới bầu tròn bằng gương, và chú canh chừng kỹ lưỡng con cừu..." Thế là tôi sung sướng. Và mọi tinh tú dịu dàng cười.

Lúc thì tôi tự nhủ: "Làm sao khỏi có một lúc nào đó người ta lơ đễnh, và chừng đó đủ rồi! Một đêm nào, chú đã quên cái bầu tròn, hoặc là con cừu đã mò ra không tiếng động..." Thế là những chuông con biến hết thành lệ!...

Đó là một bí mật rất lớn. Đối với bạn, bạn cũng yêu hoàng tử bé, cũng như đối với tôi, không có gì của vũ trụ còn giống như nguyên, nếu một nơi nào đó, chẳng biết là đâu, một con cừu mà chúng ta không biết, đã có hay không, ăn mất một đóa hồng...

Bạn nhìn trời đi. Hãy tự hỏi: con cừu, có hay không có ăn mất đóa hoa? Và bạn sẽ thấy mọi sự thay đổi xiết bao...

Và không một người lớn nào sẽ hiểu rằng sự ấy có hệ trọng chi nhiều như thế!”.

Đoạn trên trích trong chương cuối Hoàng tử bé (Le Petit Prince) của Saint – Exupéry, Bùi Giáng là người đầu tiên dịch cuốn sách này ra tiếng Việt.

“Lúc thì tôi tự nhủ … Thế là tôi sung sướng. Và mọi tinh tú dịu dàng cười”.

“Lúc thì tôi tự nhủ … Thế là những chuông con biến hết thành lệ”.

“Không có gì của vũ trụ còn giống như nguyên, nếu một nơi nào đó, chẳng biết là đâu, một con cừu mà chúng ta không biết, đã có hay không, ăn mất một đóa hồng…Và không một người lớn nào sẽ hiểu rằng sự ấy có hệ trọng chi nhiều như thế !”.

Những câu đó đeo đẳng trong người tôi hơn ba mươi năm, mỗi lần nhẩm lại là mỗi lần thấy mình khác trước. Hoàng tử bé, một cuốn sách huyền diệu đã làm nhân loại tốt hơn lên một chút. Nó là một cuốn Kinh, là Thánh Kinh, là Bát Nhã Ba La Mật Đa. Nhưng tại sao người đầu tiên “xiển dương” cuốn sách đó ở Việt Nam lại chính là Bùi Giáng chứ không phải là ai khác ?

Người ta bình phẩm nhiều về cái điên của Bùi Giáng. Nói ông điên thật hay nói ông “điên nhưng không điên” đều không sai. Nhưng điên thì có sao đâu. Tôi rất thích cách nghĩ của Mai Thảo trong một bài viết về Bùi Giáng : “Nhiều người bảo ông chỉ là một thằng điên. Tôi chỉ muốn nghĩ thầm cho tôi là nếu có thêm được ít người điên như Bùi Giáng, thơ ca ta văn học ta còn được lạ lùng được kỳ ảo biết bao nhiêu”. Là bởi ông điên, nên ông mới đi lạc vào sa mạc để dìu cõi uyên nguyên Saint-Ex về với bình nguyên ngôn ngữ Việt ?

Đối với người thường chúng ta, thực là thực, mộng là mộng, hai cái xa rời cách biệt. Đối Bùi Giáng, hai cái chỉ là một, cõi nọ liền với cõi kia như “trường giang thiên tế lưu”, vậy là điên chăng ? Cõi đời này gò bó chật chội với những chuẩn mực những quy tắc những gông xiềng hữu hình và vô hình, ông tự mở cho dài cho rộng ra, ông mở ra cho riêng ông, mở tới tám kỳ càn khôn, tới miên viễn thiên thu để tung tăng chơi bời cho thỏa thích, vậy là điên chăng ?

Thế kỷ 20 nhân loại kêu gào tự do, nhưng càng kêu gào càng bị trói buộc, lắm khi tự trói bởi chính sự kêu gào của mình. Bùi Giáng không kêu gào Tự do, ông sống một cuộc đời tự do tự tại. Nên nhìn nhận rằng Tự do không phải là khát vọng, không phải là ước mơ của Bùi Giáng, đối với ông nó là hiện tồn hiện hữu là châu chấu chuồn chuồn.

Những sách triết học của ông mới đọc qua thấy tức cười. Chuồn chuồn châu chấu cùng Khổng Tử, Trang Tử, Nguyễn Du, Lý Bạch, các vị Bồ Tát … dắt theo các mẫu thân Kim Cương, Phùng Khánh, Marylin Monroe, Brigitte Bardot, em Mọi nhỏ … tề tựu về với Nietzsche, Kierkegaard, Heidegger, Camus… Ông trộn Kiều vào Bát Nhã Hoa Nghiêm, rắc thi ca vào tư tưởng, tung xiêm váy vào chốn tôn nghiêm. Ông giải thích : “Triết học sau bao lần dọ dẫm tơi bời ở mọi đường quanh nẻo quẹo, cuối cùng đã không còn là một bi kịch ray rứt, một suy tư nghiêm nhặt, để trở thành một lời ca vi vu” (Tư tưởng Hiện đại). Về những em út váy xiêm mà chúng ta thấy lộn tùng phèo đó, Bùi Giáng bảo đó là những “tượng-số-thiên-nhiên”, những “tượng-số-tồn-thể”, nó phải “nằm tròn trong triết học hôm nay”. Ông nghiêm túc : “Khoa học giết người, triết học giết người. Khoa học giết người, ta nhìn thấy rõ. Triết học giết người, ta không nhìn thấy rõ. Và ít ai hiểu rằng sở dĩ khoa học giết được nhiều con người đến thế là chính bởi triết học khốn nạn đã dọn đường, chính triết học hư tà đã phạm tội trước tiên. Khoa học thơ ngây được phép không ngờ. Khoa học đã hồn nhiên gieo bóng tối. Nhưng cái ghê tởm nhất là cái bóng tối từ giữa lòng triết học tỏa ra” (sđd). “Suốt hai mươi mấy thế kỷ, các ngài triết gia học giả Âu Tây đã gây điên đảo cho triết học như thế nào ? Và từ một vài thế kỷ nay, tại sao khoa học đã gieo rắc đau thương nhiều đến thế ? Phải nêu câu hỏi đó lên, ta mới rõ vì sao Einstein một mực đòi đi bán bánh mì, Heidegger cùng với Nietzsche, một mực đòi chôn vùi hay đập vỡ nền triết học từ Aristote về sau” (sđd).

Thơ ông lạ lùng kỳ ảo, đã đành rồi. Nhưng suy tư triết học của ông cũng lạ lùng kỳ ảo không kém. Tôi đã đọc đi đọc lại Nam Hoa Kinh của Trang Tử, chỉ hiểu sơ sơ vài điều, còn cái ảo diệu siêu phàm của Nam Hoa Kinh là chương “Tề vật luận” thì tôi thấy như đám mây mù. Nhưng khi đọc Bùi Giáng viết về Nam Hoa Kinh tôi thấy khiếp. Ông nô đùa bỡn cợt với Trang Tử, khi thì “Ta – Ngươi”, khi thì “Tao – Mày”. Ông chép ra một đoạn trong “Tề Vật luận” nguyên văn chữ Hán và bảo người dịch đã để cho “những dư vang và vọng hưởng của nguyên ngữ bị chìm tắt rất nhiều”, rồi nói “nếu như phép ngụ ngôn trùng ngôn chi ngôn của Trang tử chỉ là một lối giảng giải luộm thuộm cho ngôn ngữ lô hỏa thuần thanh của Mưa Nguồn”, thì có lẽ nào mà Trung Niên Thy Sỹ là ông đây lại từ chối nhận Trang Tử làm đồ đệ mặc dù Trang Tử “phạm nhiều tội lỗi đầy rẫy máu me” ? Ông làm một trận nhảy nhót mua may, rồi lại bảo : “Than ôi ! Trang Tử ạ ! Một ngàn vạn mẫu thân sa mù chiếu cố cho nấm mộ của ta, cũng chẳng thể nào gột rửa được nỗi đau lòng của ta trước hai ngàn năm rưỡi ngổn ngang mà nhà ngươi đã gây ra giữa dâu biển”. Nghe ông nhảy múa mà như thấy ông vén đám mây mù.

Ông bỡn cợt với Trang, nhưng không đùa với Khổng. Mấy ngàn năm nay người ta chỉ chú trọng cái phần gọi là “thánh” của Khổng Tử, tôn thờ ngưỡng vọng cũng ở đó mà chê bai mạt sát cũng ở đó, phần đó Khổng Tử bán mình cho nhân gian, còn phần “người” của ông thì ông không bán mà thiên hạ cũng không ai mua. Bùi Giáng viết : Tự bao đời, Khổng giáo đã chỉ còn là một mớ ước lệ câu thúc cá nhân. Và mỗi lần cha ông chúng ta nhắc “Khổng tử viết…” là mỗi lần danh từ xô bồ đã che lấp sự thật. Còn đâu cái tấm lòng dào dạt vô biên của Khổng Khưu, con người của lẽ “tùy thời biến dịch”, con người cẩn trọng “dư dục vô ngôn”…”. Và tôi chưa từng nghe ai nói về Khổng Tử như Bùi Giáng nói : “Nghe lá cây lá cỏ vi vu, ông ghi chép ra làm Dịch Kinh. Nghe trẻ con ca hát, ông chép ghi ra làm Thi Kinh”. Và bạn sẽ nhìn Khổng Tử bằng con mắt khác.

Mẹ về trong cõi người ta
Một hôm mẹ gọi con ra bảo rằng
Trần gian vui sướng lắm chăng
Hay là đau khổ hỡi thằng chiêm bao

Ông chiêm bao thường hằng, nên ông gọi ông là “thằng chiêm bao”. Chiêm bao là hiện tại là quá khứ là tương lai là vô thỉ vô chung là quê hương bản quán : “Hỗn mang về giữa quê nhà/Bây giờ cố quận tên là chiêm bao”.

Cuộc vui sắp chấm dứt rồi
Hãy xin tiếp tục bồi hồi cuối cơn
Em vui ngày đó dập dồn’
Giờ xin gắng gượng bồn chồn cũng vui
Ngày mai dâu biển chôn vùi
Trầm phù tiếp tục niềm vui suối vàng

Bùi Giáng “cuồng” Huy Cận có lẽ ngang với “cuồng” Nguyễn Du. Đọc lại bài ông viết về Huy Cận trong tập “Đi vào cõi thơ”:

“… Bao nhiêu màu quan san ly biệt bàng bạc trong Truyện Kiều, bỗng nhiên về quy tụ tinh hoa trong một bài “Thuyền Đi” của Huy Cận.
Trăng lên trong lúc đang chiều
Gió về trong lúc ngọn triều mới lên
Thuyền đi sông nước ưu phiền
Buồm treo ráng đỏ giong miền viễn khơi


Sang đêm thuyền đã xa vời
Người ra cửa biển nghe hơi lạnh lùng
Canh khuya tạnh vắng bên cồn
Trăng phơi đầu bãi nước dồn mênh mang


Thuyền người đi một tuần trăng
Sầu ta theo nước trường giang lững lờ
Tiễn đưa dôi nuối đợi chờ
Trông nhau bữa ấy bây giờ nhớ nhau.

Lời thơ đi phiêu phiêu, tuyệt nhiên không thấy dấu vết một chút kỹ thuật nào còn vướng sót. Tưởng như không còn một chút cố gắng tìm lời lựa ý gì hết cả. Nguồn thơ ngập tràn dâng lên nhẹ nhẹ, len lõi thấm nhuần mọi ngôn ngữ ly biệt Nguyễn Du và toàn thể Đông Phương Lữ Thứ, Tây Phương Lang Thang.

Các bạn thử thong dong hình dung lại cái khối Đường Thi Vương Duy, Lý Bạch, Thôi Hiệu, Thôi Hộ, Cao Thích, Sầm Tham, Apollinaire, xem thử có một cái gì lọt ngoài vòng lục bát Huy Cận kia chăng.”

Ông lai rai nhâm nhi từng câu từng đoạn, khiến ta như thấy những câu thơ đó bay lượn dặt dìu trong cõi hồn uyên nguyên bát ngát của ông, rồi hạ bút đưa Huy Cận lên chín tầng mây :

“Bấy lâu chúng ta quen nghĩ rằng Huy Cận chỉ là nhà thơ có cảm giác bén nhạy và tài hoa riêng biệt trong phép tả cảnh tả tình sầu. Nhưng thật ra Huy Cận là khối óc vĩ đại đạt tới một cõi tư tưởng bát ngát nên tự nhiên như nhiên, lời thơ ông đi vào trong phong cảnh bao la, dội vào đáy thẳm thiên nhiên, và gửi lại cho ta những dư vang bất tận. Khối óc kia cũng là thông tuệ của tâm thể thiên tài”.

Rồi bất ngờ dẫn ra bài thơ Chết của Huy Cận, ông viết tiếp :

“Huy Cận tặng Thần Chết một bài thơ cảm động. Nói là tặng Thần Chết nhưng cũng là dâng cho Cuộc Sống. Cuộc Sống ôi! Hình dạng của Thần Chết đã ra như thế thì Thánh Sống nghĩ sao?
Ắt nghĩ rằng: nên kiệt tận miên bạc bình sinh để sống cho đậm đà thơ mộng. Vì không làm thế, thì cái sống sẽ giống tợ tợ như cái chết.

Cái chết trông dị dạng quá. Mà hằng ngày vô tình ta sống theo lối chết đó. Tuy không đến nỗi căm căm gớm guốc như thế, nhưng cũng tai hại điêu linh gần bằng. Chúng ta dường như quên mất rằng mỗi người chỉ có một cuộc sống thật xinh, và cuộc sống đó rất có thể bị những thứ tai hại trong hồn ta làm cho méo mó đi. Và meo mốc tử khí bám đầy rẫy cái hình hài cuộc sống.

Tiếc sao! Tiếc sao! Một sự sống quá đơn sơ, chúng ta cứ đời đời quên bẵng.

Xin một lần thử thong dong nhìn lại rõ bộ mặt cái chết, để hỏi lại linh hồn mình nên nhớ lại chuyện chi.

Thì từ đó rất có thể rằng cái chết hãi hùng sẽ là một cơ hội huy hoàng cho cái sống thành tựu được tinh hoa. Ta sẽ nhìn các em, các em sẽ nhìn con chim, con cá. Con cá sẽ nhìn con giế con giun… Mọi mọi sinh vật sẽ mọi mọi nhìn nhau bằng một nhãn quan khác hẳn. Và cõi đời từ đó sẽ đúng là đời cõi của yêu thương.

Đức Phật ôi! Chính Ngài đã có cái dụng tâm giống như chàng Huy Cận. Ngài đã đem những não nùng sinh lão bệnh tử ra nói lên cho kiếp phù du thể hội cái nghĩa não nùng, là phát nguyện bi tâm để dìu tồn sinh về bỉ ngạn…”
.
Và không quên mời thêm cụ Nguyễn Du, ngài Heidegger, chàng Apollinaire… và đưa cả mẫu thân Marilyn Monroe vào cuộc lai rai. Ông thú nhận khi nghe tin Marilyn Monroe lìa đời, ông đã buồn bã suốt mấy tháng, ông bảo “phải chi bình sinh nàng Monroe đọc thơ Huy Cận”… Ông chép tặng nàng thêm bài Nhạc Sầu, bài thơ chết thứ hai của Huy Cận, rồi viết tiếp :
“Nhưng cố nhiên, chép xong rồi thì nên xếp giấy lại, ra đường phố dạo một phen rong chơi. Để nhìn lại đậm đà những tà áo phấp phới. Chẳng nên đăm chiêu dằng dặc. Chẳng nên o bế cái chết. Kéo dây dưa cuộc tình duyên với Tử Thần, là điều tối kị. Nó có tính ăn hiếp. Ta lân la chơi đùa với nó, thì nó rút mòn xương tủy ta. Bây giờ nên ngâm chơi vài vần “Tặng Em Mười Sáu” của Huy Cận…”.
Tôi chưa thấy ai nói về thơ thú vị như Bùi Giáng.
(còn tiếp)
HOÀNG HẢI VÂN
(bài đăng trên quandodo.com

Thứ Năm, ngày 20 tháng 8 năm 2009

Đọc Bùi Giáng (I)


Ngồi ăn cháo gà với Nguyễn Nhật Ánh ở Đo Đo, tôi bất ngờ hỏi anh có thực sự thích thơ Bùi Giáng không. Trả lời ngay: Thích. Hỏi: Thích bài nào nhất? Không trả lời được. Hỏi: Thích những câu nào nhất? Trả lời: Để xem. Rồi anh đọc: “Dạ thưa phố Huế bây giờ/ Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương… “Hỏi rằng người ở quê đâu/ Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà”… “Bây giờ em đứng nơi đâu/ Cỏ trong mình mẩy em sầu ra sao?”… “Em đi bước với hai chân/ Miệng em đầy đủ thành phần hai môi/Trăm năm dâu biển cõi đời/ Em nằm duỗi dọc dưới trời ngủ yên”…


Nguyễn Nhật Ánh thích thơ Bùi Giáng theo kiểu Bùi Giáng, hồn nhiên như tôi thích ăn… Đo Đo.

Nếu ai hỏi trong số các thi sĩ Việt Nam tôi thích ai nhất, xin trả lời ngay: Bùi Giáng! Nhưng nếu hỏi rằng tôi thích bài thơ nào nhất của các thi sĩ Việt Nam thì câu trả lời sẽ không liên quan đến Bùi Giáng.


Từ lâu lắm rồi tôi đ
ịnh viết về thơ Bùi Giáng, nhưng trong cái cõi thơ vừa mênh mông bát ngát vừa khùng điên hũ nút của ông, liệu tôi viết được gì? Đến khi biên tập loạt bài “Bùi Giáng, thi sĩ kỳ dị” của Trần Đình Thu để đăng trên Thanh Niên mấy năm trước, tôi đã đọc đi đọc lại nhiều tác phẩm của Bùi Giáng. Càng đọc càng thấy khó viết. Bình thơ ông chăng? Thơ Bùi Giáng là thứ thơ không thể bình. Tôi rất thích ai đó đã gọi “cõi thơ Bùi Giáng”. “Cõi thơ”, đó là nơi người ta có thể bước vào mà rong chơi cà kê dê ngỗng, mà hà hít, mà chiêm ngưỡng. Xong rồi thì bước ra, không ai có thể “nhặt” được cái gì ở đó để đem về. Nhưng khi bước ra rồi, một chút thơ ông sẽ vương vào người, dính chặt, đeo đẳng ở đâu đó trong hồn trong vía.







Bùi Giáng - chân dung tự họa


Nhìn theo cách thông
thường thì Bùi Giáng có rất ít những bài thơ “hoàn chỉnh”. Thơ ông càng về sau càng rối rắm, khó đọc, nhiều bài đọc… hiểu chết liền. Đọc thơ Bùi Giáng mà phân tích tất cả các câu trong toàn bài thì vô cùng mệt mỏi và sẽ thất vọng. Phần lớn những câu thơ trong một bài thơ của ông là những câu dở hoặc ngớ nga ngớ ngẩn. Thiên hạ ai đã bị thơ Bùi Giáng “vương” vào người rồi thì chắc chắn sẽ nhớ đôi câu thơ của ông và nhớ nhiều từ ngữ ông dùng, nhưng tôi dám chắc ít ai có khả năng nhớ cả một bài, trừ một số bài rất ngắn, chẳng hạn như: “Anh thương em như thương một bà trời/Em thương anh như thương hại một ông trời bơ vơ/Kể ra từ bấy đến giờ/Tình yêu phảng phất như tờ giấy rung”.

Nói qua một chút về thơ Đường. Các cụ ngày xưa bảo đọc thơ mà phân tích từng câu từng chữ là không hiểu gì về thơ Đường. Phải bắt được cái tứ, cái tứ thường nằm ở cuối bài, nó như một tiếng động dưới đáy hồ, từ đó mà lan tỏa trên mặt hồ. Không có tiếng động đó, câu chữ toàn bài dù có hay đến đâu cũng không thành thơ. Có cái tứ đó, câu chữ dù có dở đến đâu cũng là thơ.


Nhưng cấu tứ thơ Bùi Giáng hoàn toàn không giống thơ Đường. Nói chung là thơ ông không có cấu tứ. Cái tứ trong thơ Bùi Giáng không phải là “tiếng động dưới đáy hồ”, mà như chuồn chuồn như châu chấu, như có như không, thoắt gần thoắt xa, thấy đó mất đó. Đọc thơ Bùi Giáng giống như vào giấc chiêm bao, mọi thứ không trước không sau không đầu không cuối, khi miên man khi đứt quãng, đôi thứ rõ ràng xen trong nhiều thứ lộn xộn vô nghĩa. Không bao giờ có một giấc chiêm bao mạch lạc. Cuộc đời Bùi Giáng là trường mộng. Vào cõi thơ ông cũng như vào trường mộng.

Có kẻ gán cho Bùi Giáng là người coi cuộc đời là tạm bợ, là chốn lưu đày, là phù du hữu hạn. Nói như vậy là trật rồi. Bùi Giáng không bao giờ là người như vậy. Lão Tử, Trang Tử cũng không coi đời là tạm bợ. Lão Trang chỉ coi sống chết như nhau, “tề sinh tử”. Cũng có nghĩa là rất coi trọng cái sống và nhẹ tênh trước cái chết. Bùi Giáng cũng vậy, nhưng ông hồn nhiên đưa thêm mộng vào đời. Cuộc đời ông vì vậy mà dài hơn, rộng hơn cuộc đời của người thường chúng ta chăng ?


Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi

Đi lên đi xuống đã đời du côn 


Đọc hai câu trên thấy đã.

Bờ sau hang núi
Lá xanh lá đỏ chiều nay

Chim trời vòi või

Để rơi cánh mỏng theo ngày
 

Mùa sau thu xế
Hang rừng gió thổi dòng khe

Em về đây để
Rạc rời tiếng cũ còn nghe


Ngày sau chỗ ấy

Mây mù quyến rũ trăng suông

Em về sẽ thấy
Mông lung sầu mộng gái buồn
(Gái buồn)

Bài này không có chỗ để chê. Nó hay như một bài hát.

Đọc bài Mai sau em về :

Em về mấy thế kỷ sau

Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không

Ta đi còn gửi đôi dòng

Lá rơi có dội ở trong sương mù

Tới đó thì thấy là kiệt tác, nhưng đọc tiếp :


Những thương nhớ lạnh bao giờ

Đường thu chia ngả chân trời rộng thênh

Đây phồn hoa của thị thành

Đây hồn thủy thảo khóc tình nửa ngang

Càn khôn xưa của riêng chàng

Xưa đài vũ trụ thiếp mang riêng mình

Bây giờ đón bước em xinh

Sầu đau nhan sắc bất bình ra sao


thì không thể nói là hay. Nhưng khen cái trên mà không thể chê cái dưới.


Làm thơ tặng chú bé con
 

Làm thêm câu nữa tặng con chuồn chuồn  
Xong rồi bỏ bút tựa lưng
Vào gốc cây ngủ ngoài đường chịu chơi

Nắng trưa nắng xế đầy trời

Bóng cây râm mát che đời ta điên

(Thơ tặng)


Đọc thấy rõ ông đã điên, nhưng bài thơ thì không hề điên chút nào.
 


Ngày nào gặp trở lại em
Một nơi nào đó bên kia mặt trời
 

Không còn mặc cảm lôi thôi
Hồn nhiên kể lại chuyện đời xưa xa
 

Còn em nếu gặp lại ta
Nhìn ta em có biết là ta không
 

- Kiếp xưa anh một thằng khùng
Anh thằng say rượu vô cùng đảo điên
 

Làm thơ lắm lúc quàng xiên 
Đôi phen rất mực thần tiên dịu dàng  
Tráng niên ra đứng giữa đàng
Làm trò cảnh sát công an điều hành

Lão niên ân hận thập thành
Về nhà thân thích họ hàng ăn cơm
 

Được cho ăn uống thật ngon  
No nê nằm ngủ vuông tròn lắm thay  
(Mai sau kể lại)

Bài trên chắc làm lúc cuối đời, khi đã điên nặng, nhưng thơ thì không thể nói là thơ điên.


Đến bài này :


Đêm nằm thao thức tới bình minh

Nửa khóc nửa cười quỷ hóa tinh
Ú ớ liên tồn vi diệu ngữ

Ầm ừ tục tiếp quái quỷ thanh

U căn ẩn đế vô tâm xứ
Đảo phụng điên hoàng hữu xưng danh

Tồn lý lao đao tiền diện khuếch

Mãn sàng nhiệt huyết khả kham thinh


(Chuyện chiêm bao (9))


Nó Hán Nôm lẫn lộn đố ai hiểu được. Nhưng đây có phải là thơ điên không? Tôi chắc là không. Nó là thơ “mớ”. Trần Quốc Thực có câu “Mình ngồi mình mớ/Em người đâu ta”, mớ nhưng nghe rất mạch lạc, chứng tỏ có dụng công. Còn cái mớ này của Bùi Giáng mới đúng là mớ thật. Không ai có thể hiểu được lời mớ và đừng nên cố hiểu mất công, nhưng mớ cũng là “một phần tất yếu của cuộc sống” chứ.(còn tiếp)
HOÀNG HẢI VÂN
(bài đăng trên quandodo.com


Đọc Bùi Giáng (II)
Đọc Bùi Giáng (III)

Thứ Hai, ngày 27 tháng 7 năm 2009

Làng tôi có ông Tú Qùy


1. Họ Huỳnh làng Giảng Hòa tôi có ông Tú Qùy (Huỳnh Qùy). Hồi nhỏ tôi thích nhất là nghe ông nội tôi đọc thơ, văn tế, vè, câu đối của ông và kể những câu chuyện về ông. Chuyện gì về ông Tú Qùy cũng hay cả.


Sau này đọc ông Phan Khôi, Dương Quảng Hàm, Vương Hồng Sển, Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Huệ Chi… đều thấy viết về ông Tú Qùy với những lời đánh giá trân trọng. Đánh giá là vậy, còn việc “sắp xếp” ông vào đâu thì hình như vẫn còn dè dặt. Nhưng tôi không muốn xếp ông Tú Qùy ngang với ai, không phải vì thơ văn của ông và tư cách của ông hay hơn hay dở hơn các tác gia khác cùng thời và cùng thể loại. Đối với tôi, Tú Qùy không giống bất cứ ai.


Theo tôi biết thì gần 100 năm nay không ai xếp ông Tú Qùy vào các tập “thơ văn yêu nước”. Gần đây một số nhà nghiên cứu đã tử tế “minh oan” cho ông, gọi ông là danh sĩ Quảng Nam và cố “làm rõ” chất yêu nước trong thơ ông. Còn ở làng tôi, dù ông có được “minh oan” hay không thì ông Tú Qùy vẫn là ông Tú Qùy như cũ.


Đây là một trong những bài thơ được nhiều người biết nhất của ông (tôi ghi theo trí nhớ) :


VỊNH HÁT BỘI


Nhỏ mà không học lớn làm ngang

Ba tiếng trống thùng đã thấy quan

Ra rạp ngồi trên ba đứa hiệu

Vô buồng đứng dưới mấy ông làng

Mượn màu son phấn ông kia nọ

Cởi lốt khăn đai chú điếm đàng

Tuy chẳng ra chi nhưng cũng sướng

Đã từng trợn mắt lại phùng mang.


Các nhà nghiên cứu bảo bài thơ này Tú Qùy “nói kháy” Nguyễn Duy Hiệu (ông Hường Hiệu) và các lãnh tụ phong trào Nghĩa Hội Quảng Nam, thuộc phong trào Cần Vương chống Pháp.


Nguyễn Duy Hiệu yêu nước lừng danh, đó là thực tế trong sử sách. Nhưng Nguyễn Duy Hiệu khét tiếng không khác gì một ông vua trong vùng, đó cũng là thực tế trong sử sách. Có điều “cứu cánh biện minh cho phương tiện”, nên sử sách coi hành động cướp bóc, ức hiếp dân lành của phong trào Nghĩa Hội chỉ là một “hạn chế” của phong trào do “thiếu đường hướng” mà thôi.


Sau khi đọc bài thơ “Vịnh hát bội” trên đây, ông Hường Hiệu đã sai lính bắt Tú Qùy về bản doanh để trị tội. Nhưng cuối cùng ông Hường Hiệu cũng tha cho Tú Qùy. Trong đời mình, ông Hương Hiệu không tha cho ai hết, trừ hai người : thầy của chính ông Hường Hiệu và ông Tú Qùy. Người ta bảo ông Tú Quỳ sở dĩ được tha là do tài ứng đối, nhất là do những bài “xuất khẩu thành thi” trước mặt ông Hường Hiệu. Nói vậy cũng chưa chắc đúng.


Tú Qùy từng hưởng ứng phong trào Nghĩa Hội chống Pháp và vận động người dân tham gia phong trào này. Ông đương nhiên không chống lại đường hướng yêu nước của Nghĩa Hội, nhưng ông không tán thành các phương sách manh động không hiệu quả và đặc biệt chống kịch liệt việc tàn sát những người theo đạo Thiên chúa và các hành vi cướp bóc, trả thù man rợ của Nghĩa Hội (ông Tú Qùy có làm bài văn tế một Chánh tổng bị nghĩa quân bắt và hành hình man rợ bằng cách đem lửa đốt hạ bộ cho đến chết).


Trong bài “Vè đánh đạo”, Tú Qùy đã lên án mạnh mẽ việc Nghĩa Hội giết chóc, truy sát những người theo đạo Thiên chúa giáo. Đây có lẽ là tác phẩm đầu tiên, nếu không muốn nói là tác phẩm duy nhất tỏ thái độ thẳng thắn của một sĩ phu yêu nước trước một hành vi tàn bạo của một phong trào mệnh danh là phong trào yêu nước. Bài vè đã lưu truyền rộng rãi trong dân gian, nhưng các lãnh tụ Nghĩa Hội thì tức tối muốn giết ông. Những người lãnh đạo Nghĩa Hội đồng nhất những người theo đạo với giặc Pháp, còn Tú Quỳ thì không. Đối với ông, họ là dân lành.


Phải đọc “Hỏa mai đánh bằng rơm con cuối, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia…” trong Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu để thấy hồi xưa diệt đạo cũng là “yêu nước” thì mới thấy hết sự khác biệt giữa sự yêu nước của ông Tú Qùy với các sĩ phu thế kỷ 19. Giáo dân cũng là dân lành, yêu nước sao lại đi giết dân lành ?


Có lẽ giết chóc những người theo đạo là “thành tích” lớn nhất của Nghĩa Hội. Còn đánh Pháp thì sao ? Trận đánh trực diện với người Pháp lớn nhất của nghĩa quân là trận đánh diễn ra ở đồng Gia Cốc. Ông Tú Qùy đã viết một câu đối về kết quả của trận đánh đó như sau :


ĐỒNG GIA CỐC THỬ CHƠI MỘT TRẬN

CHẾT HĂM MỐT BỊ THƯƠNG HĂM MỐT

NỢ QUÂN VƯƠNG TRẢ BỚT BẤY NHIÊU NGƯỜI


QUÂN TẢ TÂY KÉO THẲNG HAI TUA

LÊN TRĂM HAI XUỐNG ĐỦ TRĂM HAI

TRÁCH TRỜI ĐẤT NỠ SAO THIÊN VỊ NÓ


Số liệu về trận đánh đó sử sách đã ghi chính xác như câu đối của ông Tú Qùy : 21 nghĩa quân đã anh dũng hy sinh, bên địch không thiệt hại gì.


Câu đối này cũng có thể đưa ông Tú Qùy đến cửa tử. Nhưng ông vẫn bình thản. Đánh đấm như vậy thì làm thinh sao được !


2. Nói về cây tre, có hai câu chữ Hán tôi đọc lâu rồi không nhớ là của ai, nhưng rất thích :


Vị xuất thổ thời tiên hữu tiết

Đáo lăng vân xứ dã hư tâm.


Tạm dịch :

Chưa lên khỏi mặt đất đã có đốt (cũng có nghĩa là khí tiết)

Lên đến tận mây xanh vẫn không có tâm địa gì.


Đó là biểu trưng của chân quân tử.


Trở lại chuyện ông Tú Qùy. Khi ông bị nghĩa quân bắt lên, ông Hường Hiệu đã ra đề thơ cây tre và bảo ông ứng khẩu. Ông đã làm bài Vịnh cây tre sau đây :


Cao lớn làm chi tre hỡi tre

Ruột gan không có vỏ xanh lè

Sơ sơ gió thổi khom lưng lại

Thoảng thoảng rìu qua trợn mắt ghe

Rễ mọc tùm lum ăn xấu đất

Thân ngâm nồng nặc thối tràn khe

Lập lờ mang tiếng chân quân tử

Há để thân danh lụy rứa hè.


Hai cách nói về cây tre, rất khác nhau, nhưng cách nào cũng hay. Bài thơ cũng “nói kháy” Nguyễn Duy Hiệu, nhưng ông Hường Hiệu có lẽ đủ tỉnh táo nên không giết ông.


Ông Tú Qùy làng tôi sống đến 98 tuổi (ông sinh năm 1828 và mất năm 1926). Năm ông 80 tuổi, ông được ông vua yêu nước Duy Tân tặng cho hai chữ “Thọ quan”, dù ông chẳng bao giờ làm quan chức gì.

Thứ Năm, ngày 16 tháng 7 năm 2009

Tagore nói (2) :


*
Power said to the world, "You are mine"
The world kept it prisoner on her throne
Love said to the world, "I am thine"
The world gave it the freedom of her house

(Stray Birds,
93)

Quyền thế bảo cõi đời rằng :
"Ngươi là của ta"
và cõi đời đã cầm tù quyền thế
ngay trên ngai vàng của nó.
Tình yêu nói với cõi đời rằng :
"Ta là của ngươi"
Và cõi đời đã để cho tình yêu
được tự do ở nhà mình.
(Đào Xuân Qúy dịch)

*
Bees sip honey from flowers and hum their thanks when they leave.
The gaudy butterfly is sure that the flowers owe thanks to him.
(Stray Birds, 127)

Đàn ong hút mật trong hoa
và khi đi, đã nói những lời cảm tạ.
Con bướm diêm dúa thì yên trí rằng
hoa phải cảm tạ mình.
(Đào Xuân Qúy dịch)

*
"How may I sing to thee and worship, O Sun ?", asked the little flower.
"By the simple silence of thy purity", answered the sun.
(Stray Birds, 247)

Hoa nhỏ hỏi : "Mặt trời ơi,
Tôi có thể tôn thờ và ca tụng người
như thế nào đây ?"
Và mặt trời đã trả lời :
"Bằng sự im lặng giản đơn
của lòng trong trắng"
(Đào Xuân Qúy dịch)

Thứ Năm, ngày 09 tháng 7 năm 2009

Vĩnh cửu tuổi hai mươi


-->

Thứ Bảy, ngày 02 tháng 5 năm 2009

Tagore nói :


"You are the big drop of dew under the lotus leaf,
I am the smaller one on its upper side",
said the dewdrop to the lake.

Tagore lại nói :

The stars are not afraid to appear like fireflies.

(Trích từ Stray Birds, Rabindranath Tagore)

Thứ Bảy, ngày 11 tháng 4 năm 2009

Trần Quốc Thực, thi sĩ



Mấy hôm trước Nguyễn Nhật Ánh bảo gửi bài “Trần Quốc Thực, thi sĩ” đăng trên Thanh Niên năm ngoái cho anh ta đăng lại trên quandodo.com. Cái Quán Đo Đo của anh ta vừa đặt mua dài hạn 10 tờ Thanh Niên Thể thao&Giải trí cho nhân viên và khách hàng đọc. Cái quán này ngày càng dễ thương, hehe.

Đăng lại bài này ở đây để bạn nào chưa đọc thì đọc cho biết.

HHV

Tiễn nhau một bận qua bậu cửa
Tiễn nhau lần nữa trong chiêm bao

(Trần Quốc Thực)

1.

"Cô phàm viễn ảnh bích không tận
Duy kiến trường giang thiên tế lưu"

Hai câu thơ trên của Lý Bạch trong một bài thơ tiễn bạn (Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng) được ông Ngô Tất Tố dịch: "Bóng buồm đã khuất bầu không/Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời". Người uyên thâm Hán học như Ngô Tất Tố mà cũng chỉ dịch được tới đó. Hai câu đó có nghĩa như thế này: Cái bóng xa của cánh buồm đơn độc đã mất hút trong khoảng không xanh biếc, chỉ còn thấy con sông dài cùng bầu trời trong một dòng chảy. Nhưng dịch ra văn xuôi như vậy cũng không lột tả hết ý, huống hồ không chỉ có ý mà còn có tứ, có tình, có chí. Sông và trời ở đây không phải bên nhau, không "và", không "cùng", cũng không "nhập" vào nhau, không phải là hai thành phần hai yếu tố, mà đồng nhất, là một "trường giang thiên tế lưu". Hai câu thơ này không thể dịch được. Cũng không thể giải thích được. Giải thích được nó phải bằng chính nó. Nó kinh thiên động địa, nó là cú sút của Maradona vào "điểm chết".

Người ta bảo thơ Đường là đỉnh cao thi ca nhân loại. Vào thời thịnh Đường, Trung Hoa có đến vài ba ngàn nhà thơ, nhưng trụ được trên cái đỉnh cao chót vót đó chỉ còn được mươi vị. Có nghĩa là trên đời không có nhiều thi sĩ.

Ở nước ta, thi sĩ may ra có được dăm sáu ông. Trong dăm sáu ông đó, theo tôi có ông Trần Quốc Thực.

Xin hãy đọc hai câu sau đây trong bài Tiễn của Trần Quốc Thực:

"Tiễn nhau một bận qua bậu cửa
Tiễn nhau lần nữa trong chiêm bao"

Ông Nguyễn Khắc Phục khởi thủy là một nhà thơ, sau đó không hiểu sao ông chỉ viết văn, viết kịch bản phim mà không thấy thơ phú gì nữa. Cho đến cách đây khoảng 20 năm, trong một lần đến chơi nhà một người bạn, ông Phục đánh liền một lúc 3 ván cờ với một người mới quen, sau đó chăm chú nghe người đó đọc liền một lúc mấy bài thơ, nhìn mặt ông thấy có vẻ tâm đắc lắm. Tôi cũng thấy thơ của người này hay. Khi ra đường tôi hỏi ông Phục: "Anh thấy thơ anh ta thế nào ?". Ông Phục khoát tay: "Anh không quan tâm, thơ thì đến thơ Đường là hết rồi. Anh đánh cờ với anh ta và nghe thơ của anh ta để biết anh ta là ai mà thôi". Lúc đó tôi mới ngộ ra vì sao ông Phục không làm thơ nữa. Một lần khác cách đây hơn 10 năm, nhà văn Nguyễn Khắc Phục sau khi đọc lên hai câu thơ nói trên của Trần Quốc Thực, đã buột miệng nói với bà Phạm Thị Sửu vợ ông Thực, có tôi chứng kiến: "Làm được hai câu đó là thiên tài!".

Không phải tôi mượn lời ông Phục để lăng-xê ông Thực, vì có thể đó chỉ là khẩu ngữ khi cao hứng. Nhưng đối với tôi, hai câu thơ trên của ông Thực cũng kinh thiên động địa như hai câu của Lý Bạch. Khó có thể tìm thấy trên mặt đất thi ca Việt Nam những câu thơ "quỷ khốc thần sầu" như vậy.

Xin bạn đọc đừng vội chê mắng là tôi một tấc tới trời. Đối với thi ca, mỗi người thưởng ngoạn theo mỗi cách. Cách ngày xưa cũng không giống cách ngày nay. Trong hơn 1.000 bài thơ của ông Lý Bạch còn để lại cho nhân gian không phải bài nào cũng hay, trong một bài hay cũng không phải câu nào cũng hay. Các cụ ngày xưa bảo đọc thơ mà mổ xẻ hết từng câu trong bài là không hiểu gì về thơ. Thi tứ như một tiếng động dưới đáy hồ, nó khiến cho mặt hồ nổi sóng.

2.

Miền Chờ là tập thơ đầu tiên của ông Thực. Bà Phạm Thị Sửu là nhà báo, đã giới thiệu tập thơ này và mê luôn ông Thực. Bà Sửu là bạn tôi, nên tôi quen ông Thực. Lúc đó ông Thực làm nhân viên morasse ở Báo Văn nghệ, sống lông bông không nhà cửa, rất ít bạn bè thân hữu. Ông Thực hút thuốc lào như đa số đàn ông miền Bắc, nhưng mỗi lần gặp ông ở nhà bà Sửu tôi đều thấy ông hút thuốc lào qua cái ống cuộn bằng giấy trông rất buồn cười. Ông nhét thuốc vào cái ống giấy đó, ngậm một búng nước trong miệng rồi châm lửa ... rít, khói thuốc được lọc qua nước trong miệng. Ông không hút bằng điếu cày như người khác, lý do đơn giản là muốn hút bằng điếu cày phải có chỗ để, tức là phải có nhà hoặc một chỗ ở ổn định, nhưng ông Thực thì không, ông phải ngủ nhờ nay chỗ này mai chỗ kia. Biết tôi có làm thơ võ vẽ, ông Thực bảo: "Mày làm tặng tao một bài thơ, nói về cái ống thuốc lào bằng giấy đó đi". Tôi vâng lời. Mấy hôm sau mang đến "trả bài" cho ông. Đó là bài Ngơ ngác miền chờ, hoàn toàn không có giá trị thơ phú gì, nhưng tôi xin ghi lại đây, như là một cách hiểu sơ khai của tôi về Trần Quốc Thực 18 năm về trước (những cụm từ in đứng là câu thơ hoặc tên bài thơ của Trần Quốc Thực):

không có chỗ dựng điếu cày
anh hút bằng ống giấy
bạn bè ơi
rượu ơi
thuốc lào ơi !

không có chỗ dựng điếu cày
nửa đời bạc tóc
cạn chén rượu chiều thu ngồi vuốt mặt
bạn bè rơi rụng hết
những mảnh tình tuột mười đầu ngón tay

Hà Nội ơi
phố ngập ngang vai
bài ca vu vơ bám đầu ngọn cỏ
mình chẳng gặp mình mà dại khờ trẻ nhỏ
lặng lẽ mười năm còn ngơ ngác giữa miền chờ.

Vì yêu thơ ông Thực mà bà Sửu cưới luôn ông, từ đó ông mới "có chỗ dựng điếu cày" và hút thuốc lào như người khác.

Nét khắc (1995) là tập thơ tiếp theo của ông, được giải A của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật toàn quốc. Biết tin này tôi rất khâm phục những người chấm giải. Nghe nói từ giải thưởng đó mà ông được "đề bạt" từ chân chấm morasse lên biên tập viên của Báo Văn nghệ. Thiên hạ biết người biết ta như vậy là rất tốt rồi. Tôi biết ông Thực cũng không mong muốn gì hơn. Ông còn in tiếp hai tập thơ nữa là Trái tim hoa bìm (1998) và Tháp cúc (2003).

3.

Bạn bè ông Thực viết về ông đều nhắc đến chuyện ông uống rượu, nhưng tôi chưa thấy ai viết đúng bản chất. Người ta uống rượu thường để giải tỏa điều gì đó hoặc thể hiện điều gì đó, để thêm hoặc bớt điều gì đó, còn ông Thực thì không. Uống rượu đối với ông là mục đích tự thân, dù ông không bao giờ nói ra, cái gì tự nó là nó thì cần gì giải thích. Nhìn ông cầm cái chai (có khi là cái hũ, cái bầu), rót rượu ra cái chén nhỏ xíu và đưa chén lên môi thì biết. Tôi có cảm giác rượu vào miệng ông không giống như vào miệng người thường, nó tan ra thành từng sợi mỏng, thấm vào các tế bào miệng. Nhiều khi say rồi ông lăn ra ngủ, bất kể trên bàn trên chiếu có bao nhiêu người quen người lạ đang ngồi. Tôi không nghĩ là có mối liên hệ nào đó giữa rượu với thơ trong con người ông Thực.

Trần Quốc Thực chưa bao giờ là một người đàn ông có chí khí. "Một tay nâng chén dâng ngang mày" (Tiễn) là khí phách cao nhất của ông. Ông không hết mình, không quyết liệt trong bất cứ thứ gì, cả hỷ nộ ái ố ông cũng nửa vời không đến nơi đến chốn. Gia đình con cái một tay bà Sửu lo toan, ông cứ ù ù cạc cạc. Ông không khiêm tốn, cũng không kiêu ngạo, nói đúng hơn ông không có bản lĩnh để khiêm tốn, không có bản lĩnh để kiêu ngạo. Ông sống làng nhàng nhìn đến phát mệt.

ngày đang duỗi thăm
lối hai tháp cúc
nhấp nhô cánh buồm
con sông phía trước

tháp cúc quệt quạc
ánh vàng lên mây
miền sông lối cát
miền trời heo may

miền nào nữa cúc
đầy hoe bóng người

những tháp cúc nở
em vừa đi qua
bạn ngồi bạn nhẩm
bông gần bông xa

mình ngồi mình mớ
em người đâu ta...

(Tháp cúc)

Con người nhìn đến phát mệt đó đã "tiết" ra một thứ thơ như vậy. Thơ đó chỉ có thể chiêm ngưỡng, không thể bình luận.

Có những nhà thơ để lại các thi phẩm toàn là vàng lấp lánh, những tiếng vang lảnh lót, nhưng không có kim cương, không có những "tiếng động dưới đáy hồ". Thơ Trần Quốc Thực không có nhiều vàng, không có nhiều tiếng vang, nhưng có kim cương, có những "tiếng động dưới đáy hồ".

HOÀNG HẢI VÂN

(Thanh Niên, 12-2-2008)

Bài liên quan :

Thanh Thảo bình thơ Trần Quốc Thực