Hiển thị các bài đăng có nhãn súng đạn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn súng đạn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, ngày 26 tháng 3 năm 2009

"Thượng đế sinh ra con người, ông Colt đem lại bình đẳng"


God made man, but Mr. Colt made all men equal

"God created men, but Sam Colt made them equal"


(Samuel Colt (1814-1862) là người đầu tiên chế ra súng lục ổ xoay, ông nổi tiếng đến mức người ta gọi tất cả súng ngắn là súng Colt và trở thành biểu tượng của súng ống).


Có người bảo nước Mỹ tự do, nhưng nước Mỹ không bình đẳng, nên mới có câu cách ngôn nói trên. Súng đạn “bổ khuyết” cho sự bất bình đẳng trong xã hội. Bất kể anh là ai, anh có súng, tôi có súng, anh tôi với anh bằng nhau, anh không ăn hiếp tôi được. Bởi vậy mà cứ 10 người Mỹ có tới 9 khẩu súng, toàn nước Mỹ có hơn 270 triệu khẩu súng được lưu hành “trong dân gian”, bất chấp mỗi năm có 30 ngàn người Mỹ chết do dùng súng bắn nhau hay tự bắn vào mình. Dù Tổng thống Abraham Lincoln bị ám sát vì súng, Tổng thống John F.Kenedy bị ám sát vì súng, Tổng thống Ronald Reagan bị bắn trọng thương vẫn không khiến cho nước Mỹ tỉnh cơn mê súng đạn.


Đối với người Mỹ, súng không chỉ để tự vệ, súng là tài sản, là quà tặng, là trò chơi, là bản lĩnh đàn ông, là mốt, là sành điệu, là triết lý, là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm.


Nhưng “văn hoá súng ống” của nước Mỹ có nguồn gốc lịch sử của nó. Từ thời Nội chiến (Civil War, 1861-1865) đã có một slogan nổi tiếng : “Abe Linccoln may have freed all men, but Sam Colt made them equal” (Lincoln giải phóng con người, nhưng Samuel Colt mới đem lại bình đẳng”).


Do đặc điểm thời kỳ đầu dựng nước, người dân Mỹ phải đấu tranh khốc liệt để sinh tồn, nên các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã coi việc được dùng súng là quyền cơ bản của con người, chỉ đứng sau quyền tự do ngôn luận. Trong Tuyên ngôn nhân quyền (gồm 10 điều bổ sung sửa đổi đầu tiên trong 27 điều bổ sung sửa đổi Hiến pháp, là bộ phận không tách rời của Hiến pháp), điều thứ 2 ghi : “Xét thấy lực lượng dự bị có tổ chức nghiêm chỉnh là rất cần thiết cho nền an ninh của một quốc gia tự do, quyền của dân chúng được giữ và sử dụng vũ khí không bị vi phạm” ("A well regulated Militia, being nesessary to the security of a free State, the right of the people to keep and bear Arms, shall not be infringed"). Nó còn được gọi là Tu chính án thứ 2 (The Second Amendment) của Hiến pháp Hoa kỳ, được phê chuẩn cùng với 9 điều khác trong Tuyên ngôn nhân quyền vào năm 1791, tồn tại bất di bất dịch 218 năm nay.


Hai trăm năm qua hầu như ngày nào nước Mỹ cũng có nhiều cái chết do súng ống vô tình hay hữu ý. Cứ mỗi lần có sự cố súng đạn dẫn đến cái chết thương tâm gây chấn động, chính trường và dân chúng Mỹ lại diễn ra tranh cãi. Nhưng tiếng nói của những người chống súng quá ít ỏi so với đông đảo những người ủng hộ súng.


"Đừng bắn. Con muốn lớn" -

Biểu ngữ chống súng của trẻ em


"Tu chính án thứ 2 là quyền của tôi, không phải của chính quyền thành phố, bang hay liên bang" - những người ủng hộ súng biểu tình trước Tối cao pháp viện


Năm 1981, sau khi tổng thống Reagan bị bắn trọng thương, những người chống súng đã nỗ lực vận động đưa ra một dự luật ngăn chặn bớt súng đạn với một số hạn chế như : cấm bán cho dân một số loại vũ khí tấn công của quân đội, quy định người mua súng phải đợi 5 ngày, đặt ra một số lệ phí và giấy phép sử dụng súng… Tuy chỉ có một số điều khoản “gãi ngứa” như vậy nhưng dự luật đã bị ngâm rất nhiều năm, mãi đến năm 1994 mới được Quốc Hội thông qua và Tổng thống Clinton phê chuẩn, sau khi những người chống súng và những người ủng hộ súng đạt được một thỏa hiệp cho đạo luật có giá trị chỉ trong 10 năm. Nhưng do vận động hành lang quyết liệt để làm vô hiệu hóa đạo luật này, nên năm 1998, điều khoản “đợi 5 ngày” cũng bị bãi bỏ. Và đến năm 2004, mặc dù đã hứa hẹn từ trước rằng sẽ xin gia hạn đạo luật này, nhưng Tổng thống Bush đã phớt lờ luôn để cho đạo luật tự động chấm dứt hiệu lực.


Sự kiện bi thảm gần đây nhất là vụ Cho Seung Hui dùng súng bắn chết một lúc 32 học sinh trường Đại học Virgina Tech ngày 16-4-2007 gây chấn động nước Mỹ. Tiếng nói đòi hạn chế súng lại vang lên, nhưng không ăn thua.


Trong những cuộc tranh cãi về quyền có súng ghi trong Tu chính án thứ 2, có hai cách giải thích. Phe chống súng nói : “Nó chỉ cho phép các bang được duy trì quân đội riêng”. Còn phe ủng hộ súng thì bảo : “Nó cho phép các công dân bình thường được sở hữu và dùng súng”. Phải thừa nhận rằng, căn cứ toàn văn ngắn gọn của Tu chính án này thì cách giải thích của phe ủng hộ súng là đúng.


Mới đây nhất, ngày 26-6-2008, Tối cao pháp viện Hoa Kỳ đã phán quyết bãi bỏ luật hạn chế dùng súng tại Washington DC. Tòa bác bỏ lý lẽ cho rằng quyền sở hữu và sử dụng súng chỉ dành cho việc phục vụ quân đội và tuyên bố đó là quyền của công dân theo Hiến pháp. Cả hai ứng cử viên Tổng thống McCain và Obama đều ủng hộ phán quyết của tòa.


Có thể nói cuộc chiến chống lại súng ống ở nước Mỹ là không khả thi. Có 3 lý do :


Thứ nhất, đa số người Mỹ ủng hộ việc sở hữu súng ống. Không có ứng cử viên nào dám công khai chống súng nếu không muốn chuốc lấy thất bại trên chính trường. Đó là chưa nói đa số các chính khách Mỹ đều mê súng.


Thứ hai, Hội súng của Mỹ (NRA) với 4 triệu hội viên, đứng sau nó là những tay lái súng cá mập, là một tổ chức kinh khủng. Nó có đủ tài chính và thực lực lobby để triệt hạ bất cứ một dự luật hoặc bất cứ mưu đồ nào làm tổn thất đến lợi ích của ngành công nghiệp súng ống khét tiếng của nước Mỹ.


Thứ ba, muốn chống súng hữu hiệu, nhất thiết phải bãi bỏ Tu chính án số 2 trong Hiến pháp. Nhưng đây là nhiệm vụ gần như không thể.


Bởi lẽ theo Điều 5 của Hiến pháp Hoa kỳ, phải có đủ 2/3 số thành viên của Hạ viện và Thượng viện xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ quan lập pháp ở 2/3 các bang thì Quốc Hội mới được đưa ra những điều sửa đổi đối với Hiến pháp và triệu tập Đại hội để đề xuất những sửa đổi này. Điều này không bao giờ có thể xảy ra, vì NRA đủ sức chi phối các nghị sĩ, vả lại đa số họ vốn mê súng, nếu không mê họ cũng không dám chống lại những cử tri mê súng của mình, thì lấy đâu ra 2/3 ? Chưa hết, sau đó nó còn phải được phê chuẩn bởi cơ quan lập pháp của ¾ các bang hoặc Đại hội của ¾ các bang theo một thể thức vô cùng rối rắm.


Các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã đưa ra những thủ tục quá khó khăn như vậy nhằm bảo vệ sự trường tồn của Hiến pháp. Trong hơn 200 năm tồn tại của Hiến pháp Hoa Kỳ, đã có hơn 9000 điều bổ sung Hiến pháp được đệ trình, nhưng mới chỉ có 33 điều được đưa ra xem xét và chỉ có 27 điều được phê chuẩn. Riêng Tu chính án thứ 27 được phê chuẩn sau … 202 năm, kể từ khi nó được đề xuất.


Cái Tu chính án thứ 27 đó chỉ vỏn vẹn có một câu như thế này : “Trước cuộc bầu cử hạ nghị sĩ, không một điều luật nào nhằm thay đổi các khoản trợ cấp cho công việc của thượng nghị sĩ và hạ nghị có hiệu lực”. Điều này được hiểu rằng Quốc Hội không được bỏ phiếu tăng lương cho chính mình, nếu các anh có bỏ phiếu tăng lương cho các nghị sĩ thì các nghị sĩ nhiệm kỳ sau mới được hưởng, các anh thì không được. Kể từ khi James Madison đề xuất điều bổ sung này và Quốc Hội thông qua ngày 25-9-1789, mãi hơn 200 năm vẫn chưa có đủ số bang phê chuẩn. Cho đến khi dư luận chỉ trích gay gắt tình trạng Quốc Hội tăng lương cho chính mình, khiến cho bang Michigan không im lặng được phải phê chuẩn vào ngày 7-5-1992, khi đó mới đủ số bang phê chuẩn, Tu chính án mới có hiệu lực. Một chút lợi nhỏ như vậy thôi mà hơn 200 năm mới chịu từ bỏ, huống hồ là những cái lợi lớn do các lái súng đem lại !


Nền dân chủ nào cũng có khiếm khuyết. Người Mỹ chấp nhận sống hòa bình với sự khiếm khuyết đó, và họ vẫn hát mãi bài ca “God made man, but Mr. Colt made all men equal”.