Hiển thị các bài đăng có nhãn sự kiện báo chí lớn nhất thế kỷ 20. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sự kiện báo chí lớn nhất thế kỷ 20. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, ngày 22 tháng 3 năm 2009

Sự kiện báo chí lớn nhất thế kỷ 20


Tiến sĩ Daniel Ellsberg giữa một rừng phóng viên ngày 28-5-1971

Sự kiện báo chí lớn nhất thế kỷ 20, và cho đến nay là sự kiện báo chí lớn nhất mọi thời đại, là vụ công bố “Tài liệu Lầu Năm góc” năm 1971. Càng đọc lại vụ này càng thấy thú vị.

Có lẽ khi quyết định công bố 47 tập, gồm 7000 trang tài liệu mật về chiến tranh Việt Nam cho tờ New York Times, tiến sĩ Daniel Ellsberg, một chuyên viên cao cấp của tập đoàn nghiên cứu chiến lược Rand và là sĩ quan cao cấp của Lầu Năm Góc, không tin rằng ông sẽ được tòa án bảo vệ. Ông làm điều này vì lương tâm của người trí thức.

Cũng như những nhân viên công vụ khác, ông đã thề trung thành với cấp trên và không tiết lộ bí mật. Nhưng khi tiếp cận với bộ hồ sơ đồ sộ về chiến tranh Việt Nam, bộ hồ sơ nói lên sự dối trá của 5 đời tổng thống Mỹ, khiến cho người bạn gái của ông phải ghê tởm thốt lên : “Đây là ngôn ngữ của bọn đồ tể”, ông quyết định xóa bỏ lời thề đó. Nghĩa vụ cao nhất của ông là trung thành với đất nước, trung thành với Hiến pháp. Ông chấp nhận đối diện với nhà tù.

Từ 1-10-1969, với sự cộng tác của một người bạn – ông Anthony Russo, Daniel bắt đầu sao chụp 7000 trang tài liệu. Đầu tiên ông chưa nghĩ đến chuyện đưa cho báo chí mà tìm cách đưa cho Quốc Hội. Ông đã lần lượt gặp 3 thượng nghị sĩ danh giá và nổi tiếng chống chiến tranh là Fullbright, McGovern và Mathias. Cả ba đều hăng hái ủng hộ ông, nhưng cuối cùng đều từ chối. Các thượng nghị sĩ này không đủ dũng cảm, không đủ tầm cỡ đặt lợi ích của đất nước lên trên lợi ích đảng phái của họ.

Đường đến với Quốc hội bị tắc. Daniel buộc phải bí mật đưa cho tờ New York Times, thông qua một nhà báo ông quen từ trước – ký giả Neil Sheehan.

Ngày Chủ nhật 13-6-1971, New York Times khởi đăng tài liệu trên trang nhất. Nước Mỹ chấn động. Ngày 15-6, khi đăng đến kỳ thứ 3, Bộ trưởng Tư pháp John Mitchell gửi một bức thư đến toà soạn yêu cầu ngừng đăng và trao lại bản sao tài liệu. New York Times từ chối. Ngay trong chiều hôm đó, theo đề xuất của Bộ Tư pháp, toà án quận cấp liên bang tại New York ra lệnh cấm. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, một lệnh cấm của toà án liên bang ngăn cản một tờ báo in một câu chuyện nhiều kỳ.


Không chịu thua, New York Times kháng án. Trong khi làm thủ tục kháng án, Dunn Gifford, một người bạn của Neil Sheehan đề nghị Daniel Ellsberg cung cấp hồ sơ này cho tờ Washington Post (thời gian này Neil Sheehan và New York Times “cắt liên lạc” với ông để bảo đảm nguyên tắc nghiệp vụ). Daniel trả lời là “Không thể”. Ông muốn giữ độc quyền và danh tiếng cho New York Times vì ông biết chắc rằng họ sẽ được giải thưởng Pulitzer, sự dũng cảm của họ xứng đáng được như vậy.

Nhưng Dunn Gifford bảo danh tiếng của New York Times là chuyện nhỏ, tiếp tục công bố tài liệu cho công chúng biết mới là chuyện lớn, vì không biết đến bao giờ New York Times mới được tiếp tục đăng lại và việc công bố tài liệu có thể chấm dứt tại đây, trừ phi các tờ báo khác nắm lấy ngọn cờ. Gifford cũng cảnh báo ông rằng toàn bộ tiến trình công bố tài liệu có thể dừng lại vĩnh viễn, trừ phi chính ông tiếp tục thúc đẩy nó.

Daniel tìm cách liên lạc với một người quen đang làm biên tập viên tờ Washington Post. Ông hỏi Washington Post có cần tài liệu đó không ? Dĩ nhiên là họ cần. Có cam kết sẽ đăng không ? Người này liên lạc với chủ bút tờ báo – ông Ben Bradlee. Bradlee nói dứt khoát : “Trong trường hợp tôi có được những hồ sơ đó và nếu chúng không được đăng trên số báo ngày hôm sau, thì tờ Washington Post sẽ có một chủ bút mới”. Sự khẳng khái của người chủ bút là sự động viên lớn, nó tiếp sức ông.


Ngày 18-6, Washington Post khởi đăng loạt bài đầu tiên. Lập tức Bộ Tư pháp yêu cầu ngừng đăng. Washington Post từ chối. Chính phủ Mỹ đưa Washington Post ra toà, nhưng toà bác yêu cầu của Chính phủ. Ngay trong đêm, Chính phủ Mỹ kháng cáo. Toà trên bác phán quyết của toà dưới, yêu cầu xử lại. Ngày 21-6, Toà dưới xử lại và lại bác yêu cầu của Chính phủ, Washington Post được đăng tiếp. Ngày 22-6, New York Times cũng thắng, tiếp tục đăng Hồ sơ. Nhưng sự việc chưa dừng lại ở đó mà phải đưa lên tòa tối cao.

Chủ tịch Washington Post Katharine Graham
và Chủ bút Ben Bradlee tươi cười hết cỡ sau khi thắng kiện


Do sự thúc đẩy của Daniel, trong đó có việc ông nhờ Washington Post chuyển một bộ tài liệu đến Thượng nghĩ sĩ Mike Gravel, tài liệu tiếp tục được phổ biến. Gravel là thượng nghị sĩ chống chiến tranh quyết liệt nhất và là người duy nhất dám nhận Hồ sơ và làm tất cả những gì ông có thể để đưa ra Quốc hội và phân phát cho báo chí. Gravel dũng cảm làm điều đó mà không có bất cứ sự bảo đảm nào về quyền miễn trừ cho hành động của ông. Thượng nghị sĩ có nguy cơ mất chức.

Sau khi New York Times và Washington Post đăng tải tài liệu và bị cấm, 17 tờ báo khác đồng loạt vào cuộc. Các đài truyền hình và phát thanh cũng vào cuộc, thách thức chính quyền Mỹ. Rồi toàn giới truyền thông Mỹ nhập vào dàn đồng ca.

Ngay cả tạp chí TIME, là tờ báo luôn ủng hộ chính quyền Mỹ tiến hành chiến tranh, vẫn không đứng ngoài cuộc. TIME viết một câu chuyện về Daniel Ellsberg để đăng trên trang nhất, nhưng quy định của TIME là câu chuyện trên trang nhất phải có phỏng vấn nhân vật. Họ tìm ông để yêu cầu, thậm chí dành cho ông 3 trang để ông nói bất cứ điều gì ông muốn, không biên tập, nhưng Daniel đã từ chối. Cuối cùng tạp chí này vẫn đăng ông trên trang nhất. Kể từ khi đăng bài viết về Hitler năm 1943, đây là lần đầu tiên một nhân vật được đưa lên trang bìa báo TIME mà không có phần phỏng vấn cá nhân.



Daniel Ellsberg nhớ lại trong hồi ký của mình : “Những gì đang xảy ra ở nước Mỹ thật đáng ngạc nhiên và chưa từng có. Ngành công nghiệp báo chí, trong vòng 30 năm trở lại đây hoặc lâu hơn nữa, mỗi khi động đến chính sách đối ngoại và các vấn đề quốc phòng luôn bằng lòng với việc dựa vào các văn kiện của chính phủ, bỗng nhiên nổi loạn khắp nơi”.

Để tài liệu được công bố càng nhiều càng tốt, Daniel Ellsberg phải “hoạt động bí mật” nhằm lẩn tránh sự truy tìm của FBI. Không phải ông sợ đối diện với luật pháp, ông phải tranh thủ đủ thời gian. Ngày 25-6, lệnh bắt giam ông được ký, để đưa vào hồ sơ trước khi Tối cao pháp viện họp về vụ New York Times và Washington Post. Daniel phải trì hoãn thêm mấy ngày để phân phát hết tài liệu. Và ông đã chủ động đến toà án liên bang, không để FBI bắt dọc đường. Tại đây, Daniel bị vây quanh bởi một làn sóng phóng viên báo chí. Trước một rừng micro trước mặt, ông nói :

“Mùa thu năm 1969, với sự chủ động cá nhân, tôi nhận trách nhiệm báo cáo với Chủ tịch Uỷ ban Đối ngoại Thượng viện (thượng nghĩ sĩ Fullbright) thông tin trong cái gọi là Hồ sơ Lầu Năm góc, bao gồm cả tài liệu nghiên cứu về các cuộc đàm phán của Mỹ, những điều chưa từng được tiết
lộ cho báo giới. Đến thời điểm đó chỉ có tôi và hơn chục cá nhân khác có quyền tiếp cận những nghiên cứu này. Đến mùa xuân năm nay – hai cuộc xâm lược sau đó - khoảng 9 ngàn người Mỹ nữa và hàng trăm ngàn người dân Đông Dương bị chết, tôi chỉ có thể ân hận rằng tại thời điểm đó, tôi đã không phơi bày lịch sử trên báo chí cho người dân Mỹ biết. Hiện nay tôi đã hoàn thành công việc đó, một lần nữa, với sự chủ động của cá nhân tôi.

Tất cả những hành động đó trái ngược với quy định bảo mật và, thậm chí, trái ngược với cách xử lý thông tin của Bộ Quốc phòng. Tuy nhiên, với tư cách là một công dân có trách nhiệm, tôi cảm thấy không thể hợp tác thêm nữa trong việc che giấu thông tin này đối với công luận Mỹ. Tất nhiên, hành động của tôi có thể gây nguy hiểm cho bản thân, và tôi sẵn sàng chịu trách nhiệm về mọi hậu quả do quyết định của mình gây ra. Đó có thể là hậu quả cho cá nhân tôi, gia đình tôi.

Nhưng dù hậu quả đó có ra sao, cuối cùng chúng cũng không thể so sánh với những hậu quả mà tôi, cùng với hàng triệu người Mỹ khác, đã từng vui vẻ chấp nhận khi trước để phục vụ tổ quốc này.

Đối với tôi đây là một hành động của hy vọng, một hành động của lòng tin. Hy vọng rằng sự thật sẽ giải thoát cho chúng ta khỏi cuộc chiến này. Tin rằng những người dân Mỹ hiểu biết sẽ buộc những công chức của họ ngừng nói dối, ngừng tàn sát và chấm dứt chết chóc ở Đông Dương do những người Mỹ gây ra”
.

Daniel được “tại ngoại” sau khi nộp 50.000 USD tiền bảo lãnh.


Chiều 30-6-1971, Tối cao pháp viện, với 6 phiếu thuận và 3 phiếu chống, đã huỷ bỏ tất cả các lệnh cấm và gạt bỏ mọi trở ngại cho việc đăng tải Hồ sơ Lầu Năm góc. New York Times và Washington Post thắng kiện. Toàn bộ khối hồ sơ mật sau đó được công chúng biết đến một cách sâu rộng nhất.

New York Times họp báo. Từ trái sang : A. M. Rosenthal (thư ký tòa soạn),
Athur Ochs Sulzberger (Chủ tịch) và James C. Goodale (phụ trách pháp lý), rạng rỡ sau khi thắng kiện


Nhưng người ta đã không tha cho Daniel Ellsberg. Một bản cáo trạng quy kết ông 12 tội danh và ông phải đối diện với 115 năm tù.

Trong thời gian đó chính quyền Nixon cho tiến hành nhiều hoạt động bẩn thỉu nhằm bôi nhọ thanh danh của Daniel, trong đó có việc đột nhập văn phòng bác sĩ tâm lý đánh cắp hồ sơ để cải sửa bệnh án nhằm quy cho ông bị bệnh tâm thần, tiến hành nghe trộm điện thoại của ông… Tất cả những hoạt động trái pháp luật đó đều được đưa ra công khai tại tòa án. Và ngày 11-5-1973, Tòa tối cao tuyên bố hủy bỏ phiên tòa và yêu cầu “dưới chính quyền đương nhiệm, các bị cáo sẽ không bị xét xử thêm một lần nữa về cùng những cáo buộc này”. Daniel Ellsberg và bạn của ông vô tội.


Các hoạt động phi pháp nhằm bôi nhọ thanh danh của Daniel nằm trong chuỗi scandal tai tiếng nhất trong lịch sử nước Mỹ : Vụ Watergate.


Bộ trưởng Tư pháp John Mitchell, người đứng ra khởi tố Daniel, bị truy tố. Một tuần sau, Quốc hội tiến hành điều trần vụ Watergate. Nixon từ chức. Quốc hội nắm quyền kiểm soát. Người thay thế Nixon là Gerald Ford tuân thủ quyết định của Quốc hội chấm dứt chiến tranh Đông Dương.


Vụ tiết lộ Hồ sơ Lâu Năm góc là một trong những thử thách lớn nhất đối với sự bất khả xâm phạm của Hiến pháp nước Mỹ. Sau đây là một đoạn trích từ website của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội nhắc đến phiên tòa xử cho tờ New York Times và Washington Post thắng kiện :


“Tòa phán rằng, không có đủ cơ sở để Tổng thống có thể nói rằng an ninh quốc gia có thể bị ảnh hưởng do việc xuất bản thông tin đó. Tòa cho rằng, Hiến pháp đã có một “sư dự liệu quan trọng” nhằm chống lại sự can thiệp quyền tự do báo chí. Trong khi có thể thuyết phục Tòa rằng việc báo chí xuất bản các tài liệu mật có thể gây ra những hậu quả nghiêm tọng, thì Chính phủ đã thất bại trong việc chứng minh điều đó trong trường hợp cụ thể này”.

“Sự dự liệu quan trọng” nói trên là gì ? Trong nỗ lực biến nước Mỹ trở thành một nước “Hiến trị”, các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã tính đến khả năng vi phạm Hiến pháp của nhà cầm quyền nên đã tìm cách ngăn chặn bằng một điều khoản “khét tiếng”. Đó là Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất trong 10 Điều bổ sung sửa đổi đầu tiên trong Hiến pháp Hoa kỳ (10 điều này thường gọi là “Tuyên ngôn nhân quyền”). Phần liên quan đến tự do báo chí trong Điều khoản đó cực kỳ ngắn gọn như sau : “Quốc Hội không được ban hành một đạo luật nào nhằm … ngăn cấm tự do ngôn luận, báo chí”. Nó ngăn chặn một cách triệt để việc Quốc hội ban hành các đạo luật tùy tiện, cũng như ngăn chặn tất cả việc “xử lý” tùy tiện của chính phủ và tất cả các cơ quan nhà nước khác về tự do ngôn luận, báo chí.


Chính điều khoản ngắn gọn đó đã bảo vệ được em bé 13 tuổi chống chiến tranh, bảo vệ được tờ New York Times và Washington Post thắng kiện.


Nhưng như những gì đã thấy ngay tại nước Mỹ, quyền được ghi trong Hiến pháp không có nghĩa là nó được thi hành một cách tự nhiên. Cô bé 13 tuổi phải đi kiện mới có. Các tờ báo phải đi kiện mới có. Có lần thẩm phán Potter Stewart của Tối cao pháp viện Hoa Kỳ nói với một nhóm quan tòa, luật sư và nhà báo về điều khoản này : “Các bạn thử nghĩ xem các quyền này từ đâu tới ? Không phải là con cò đã mang đến, mà chính là các quan tòa đã mang nó đến” (trích từ website của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội).


Nghĩa là tòa án phải độc lập. Nếu như tòa án Mỹ không độc lập với Tổng thống Nixon thì chắc chắn “Hồ sơ mật Lầu Năm góc” đã không được công bố như nó đã được công bố và Daniel Ellsberg không thoát khỏi nhà tù. Dù sau khi hai tờ báo thắng kiện, tài liệu được công bố rộng rãi, Nixon vẫn phớt lờ để tiếp diễn chiến tranh, nhưng sự kiện báo chí này đã đưa phong trào phản chiến lên cao trào, làm thức tỉnh Quốc Hội, thức tỉnh lương tâm nước Mỹ, để đến khi vụ Watergate được phanh phui, ý chí của những kẻ hiếu chiến bị chặn đứng. Có thể nói, sự kiện báo chí đó đã góp phần cứu sống biết bao nhiêu người Việt Nam, biết bao nhiêu người Mỹ. Nó cũng để lại một bài học lớn : Bài học “Hiến trị”.



(Nguồn cho những trích dẫn :
+ Daniel Ellsberg : Secrets : A Memoir of Vietnam and the Pentagon papers
– Bản tiếng Việt (Những bí mật về chiến tranh Việt Nam), NXB CAND, Hà Nội, 2006;
+ Website Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội)