Hiển thị các bài đăng có nhãn zen. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn zen. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, ngày 07 tháng 12 năm 2012

Thiền và kinh tế học : "Thủy tự mang mang hoa tự hồng" (3)


“Chủ nghĩa quốc xã không phải là con đẻ của giai cấp đặc quyền đặc lợi, gắn với truyền thống Phổ, mà là con đẻ của đám đông” - F. Hayek

Lục tổ Huệ Năng “vô vi” như Trang Tử. John Locke, Adam Smith và F. Hayek, cũng “vô vi”. Các vị đều là những tổ sư của chủ nghĩa tự do. Về triết học, các vị thuộc trường phái vị kỷ, ủng hộ chủ nghĩa cá nhân -  thứ chủ nghĩa mà chúng ta được răn dạy phải nhất mực lên án.

Huệ Năng không chủ trương tử vì đạo.

Trang Tử mặc dù coi sống chết như nhau (tề sinh tử) nhưng ông không coi trọng những người vì danh mà tuẫn tiết, ông chủ trương “vi thiện vô cận danh, vi ác vô cận hình”, giữ thân để phụng dưỡng cha mẹ và hưởng trọn tuổi trời ("tận niên", chứ không tìm cách kéo dài tuổi thọ).

John Locke, người phát kiến “quyền tự nhiên” của con người, người mà tư tưởng là nguồn cảm hứng cho bản Hiến pháp tự do đầu tiên trên thế giới – Hiến pháp Mỹ, không hề chủ trương “tự do hay là chết”.

Adam Smith, ông tổ của kinh tế thị trường tự do, là một nhân vật ôn nhu, không bao giờ đề cập đến chuyện đấu đá.

“Trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha vào cuối những năm 30, người ta nói rằng những chiến binh Cộng hòa đã hy sinh với từ Staline trên môi…Nhưng sẽ chẳng có ai chết với những từ thị trường tự do trên môi cả” (D. Yergin và J. Stanislaw – sđd).

Còn F. Hayek, người được Milton Friedman coi là triết gia tự do vĩ đại nhất của thế kỷ 20, từng nói : “Có lẽ tác hại lớn nhất đối với chủ nghĩa tự do chính là sự kiên quyết của một số người ủng hộ nó” (Trích từ Hayek, Đường về nô lệ)

Theo Hayek, chính những nguyên tắc của chủ nghĩa tự do đã ngăn cản biến nó thành một hệ thống giáo điều. Nguyên tắc quan trọng nhất của nó là không có các nguyên tắc cứng nhắc được xác định một lần và vĩnh viễn. Thậm chí Hayek còn không muốn dùng từ “Tự do” (liberty), vì từ đó ở Mỹ đã bị F.Roosevelt và những người theo chủ nghĩa can thiệp cưỡng đoạt. Ông muốn dùng từ “Khoan dung” (toleration). Không phải ngẫu nhiên mà trong các tác phẩm của Locke có tới 4 bức thư về lòng khoan dung.

Ở phương Tây, chủ nghĩa tự do (hay chủ nghĩa cá nhân, tự do cá nhân) là thành quả vĩ đại của thời kỳ Phục Hưng. Và chính tự do cá nhân được giải phóng đã sáng tạo ra những kỳ tích trên các lĩnh vực hội họa, điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc, văn học, khoa học và triết học của thời kỳ này. Khi con người được sống thật với những gì mình vốn có và tôn trọng những đặc thù khác biệt mà tạo hóa đã ban cho mình và cho người khác, khi ấy mọi năng lượng trong mỗi người mới được giải phóng. Tự do chính trị mở đường cho sự sáng tạo và tự do kinh doanh mở đường cho việc đem áp dụng sự sáng tạo đó vào cuộc sống, từ đó mà cuộc sống thăng hoa. Thành tựu của chủ nghĩa tự do ở phương Tây lên đến “đỉnh” vào thế kỷ 19 – một thế kỷ thịnh vượng, khoan dung và hòa bình. 

Bản chất của một xã hội tự do là “thủy tự mang mang hoa tự hồng”, là tôn trọng tối đa các lực lượng tự phát trong xã hội và sử dụng tối thiểu các biện pháp chế tài, hay nói như Thomas Jefferson : “The Government that governs least governs best”. Nhưng cũng vì xã hội tự do không ép buộc mọi người tuân theo những nguyên tắc cứng nhắc, không buộc thiểu số phải sống theo đa số, nên quá trình hoàn thiện các định chế của một xã hội tự do diễn ra vô cùng chậm chạp. Một xã hội tự do cũng giống như một rừng cây tự nhiên, những cây khỏe mạnh thì phát triển, những cây yếu ớt bị đào thải. Tình trạng này được coi là khiếm khuyết của xã hội tự do :  “mạnh được yếu thua”, “cá lớn nuốt cá bé”. Dần dần người ta quên đi những thành tựu mà xã hội tự do đem lại, bởi những thành tựu do “không làm gì hết” mà có, thiên hạ coi là những thứ đương nhiên mình được hưởng, từ đó người ta chỉ còn quan tâm đến sự khiếm khuyết của nó và càng ngày càng không muốn chấp nhận những khiếm khuyết đó, dẫn đến sự gia tăng khuynh hướng chối bỏ chủ nghĩa tự do. Trong khi đó, những người bảo vệ chủ nghĩa tự do, để chống lại những mối đe dọa đối với nó, đã biến chủ nghĩa tự do, vốn “thủy tự mang mang hoa tự hồng”, thành những nguyên tắc bất di bất dịch. Theo Hayek thì chỉ cần bác bỏ một luận điểm cụ thể nào đó của những nguyên tắc đó thì lập tức cả tòa lâu đài sẽ sụp đổ ngay lập tức. Hayek cho rằng “chính thành tựu của chủ nghĩa tự do cũng là nguyên nhân đưa nó đến chỗ suy tàn”.

Phế bỏ chủ nghĩa tự do không ai khác là đám đông. Không thể nói là đám đông không có khát vọng tự do, nhưng đám đông bao giờ cũng muốn Nhà nước làm nhiều hơn những “việc tốt”, “chăm sóc” tốt hơn đời sống của người dân, thực hiện nhiều hơn “công bằng xã hội”. Nhưng khốn nỗi, Nhà nước càng làm nhiều việc, kể cả những “việc tốt”, thì tự do càng ít đi.

Hitler không giành chính quyền một cách bất hợp pháp. Chính Hitler đã làm rất nhiều “việc tốt” để hồi sinh nước Đức thua trận, bệ rạc và nhục nhã sau Đại chiến thứ 1 và rất biết kích hoạt khát vọng, tính kiêu ngạo và lòng thù hận của đám đông. Ông ta lên cầm quyền một cách hợp pháp và dân chủ, chính đám đông đã tạo ra Hitler. Cần lưu ý : Dân chủ chỉ là một trong những phương tiện đi đến tự do, nhưng là một phương tiện không đầy đủ. Một nền dân chủ lấy số đông làm chuẩn mực, không tôn trọng thiểu số cũng như từng cá nhân riêng lẻ, một nền dân chủ lấy 51% thống trị 49%, nền dân chủ ấy luôn luôn có nguy cơ biến thành một chế độ toàn trị. Thảm họa phát xít ở Đức là một minh chứng.

Ở Mỹ, F.D. Roosevelt lên cầm quyền đã ban hành “Chính sách kinh tế mới” (New Deal), phế bỏ nhiều thành tựu của xã hội tự do bằng một loạt các biện pháp can thiệp của Chính phủ vào hoạt động kinh tế và đời sống người dân. F.D.R rất được lòng tầng lớp trung lưu, thành phần đa số người Mỹ, vì vậy mà ông trúng cử tới 4 nhiệm kỳ Tổng thống. Nhờ sự tiên lượng thiên tài của các nhà lập quốc, nên nước Mỹ đã có một bản Hiến pháp tự do cực kỳ khó sửa đổi, vì vậy mới loại được nguy cơ của chế độ toàn trị. Tuy nhiên, các chính sách can thiệp của F.D.R đã để lại những di hại lâu dài, không những rât khó khắc phục mà còn có khả năng tái diễn. Có vẻ như món bí kíp “quỳ hoa bảo điển” của F.D.R đang được Obama đem ra luyện tập.

Xin một lần nữa dẫn lại bức tranh đăng trên karendecoster.com minh họa sinh động con đường phát triển của “Nhà nước vú em” kéo theo sự suy tàn của chủ nghĩa tự do tại nước Mỹ trong thế kỷ 20 :


Từ trái sang :
Hình 1 : Tượng nữ thần tự do nguyên vẹn với Laissez-faire của thế kỷ 19.
Hình 2 : Chỉ với 1 tu chính án thứ 18, tức điều khoản cấm rượu được bổ sung vào Hiến pháp (thông qua năm 1921, bãi bỏ năm 1933 bằng Tu chính án số 21), nữ thần tự do bị cụt mất cánh tay.
Hình 3 : Với New Deal của F.D.R, nữ thần tự do mất luôn cái đầu.
Hình 4 : Với Great Society của Lyndon B.Johnson, nữ thần tự do mất tiếp hai vai.
Hình 5 : Với Big Government hiện nay, hay còn gọi là Nanny State (Nhà nước vú em), tượng nữ thần tự do biến mất hoàn toàn, thay vào đó là một bà vú.

(lúc nào rảnh viết tiếp)


Phần 1
Phần 2

Thứ Năm, ngày 08 tháng 11 năm 2012

Thiền và kinh tế học : "Thủy tự mang mang hoa tự hồng" (2)

"Tuyệt Thánh khí Trí, dân lợi bách bội"
- Lão Tử

Trong phần trước có nhắc tới lời Trang Tử, phải “tuyệt thánh khí trí” thì thiên hạ mới thái bình, cùng việc Hayek coi giới trí thức là “secondhand dealer” và môn kinh tế học chính thống hiện đại là “ngụy tạo tri thức”. Nhiều người dễ liên tưởng đến chuyện Mao Trạch Đông coi trí thức “không bằng cục phân”. Tôi không biết họ Mao có nói như vậy hay không và nói trong ngữ cảnh nào, nhưng nếu có chuyện đại loại như thế thì ông ta không phải là người đầu tiên, đầu tiên chính là Trang Tử và Lão Tử. Và người nói điều đó có “bài bản” nhất là Hayek.

Hayek cho rằng tai họa của thế kỷ 20 chính là chủ nghĩa duy khoa học. Theo ông thì không thể đem các phương pháp của khoa học tự nhiên như toán hay vật lý học để nghiên cứu, đo lường các hiện tượng kinh tế và xã hội nhằm rút ra các quy luật vận động của nó, vì xã hội là tập hợp vô số những hiện tượng phức đan xen tương tác giữa những ý chí, lợi ích, sở thích của hàng tỷ cá thể riêng lẻ. Không có bất cứ một bộ óc nào có thể thâu tóm hết những hiện tượng phức đó. Người ta chỉ có thể biết được những gì người ta có thể biết, người ta chỉ có thể đo được những gì có thể đo, mà những cái có thể biết có thể đo là rất ít ỏi và rất nhiều khi chúng không phải là các yếu tố chủ yếu của hiện tượng. Tri thức về một sự vật, một hiện tượng được quan sát, đo lường theo cách đó nhất định không phải là bản thân sự vật, hiện tượng. Đó là tri thức ngụy tạo.

Hayek chỉ thừa nhận kinh tế học vi mô, ông bác bỏ kinh tế học vĩ mô. Người ta có thể biết một doanh nghiệp, không thể biết cả một nền kinh tế. Tri thức vi mô là tri thức thật, tri thức vĩ mô là tri thức ngụy tạo. Nhà nước, dù gồm những thiên tài quản lý, không bao giờ có đủ tri thức để lập kế hoạch và điều khiển nền kinh tế theo kế hoạch. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nền kinh tế kế hoach hóa Đông Âu là minh chứng.

Nhà nước cũng không đủ tri thức can thiệp vào thị trường, dù với sứ mệnh cao cả “bảo đảm công bằng xã hội”. Hậu quả của việc ngang ngược xóa bỏ bản vị vàng và thực hiện “chủ nghĩa can thiệp”, từ F.D. Roosevelt (Tổng thống Mỹ) đến Clement Attlee (Thủ tướng Anh), đã để lại những di hại nghiêm trọng cho đến tận ngày nay, khiến cho thế giới trở nên hỗn loạn không kiểm soát nổi. Cuộc khủng hoảng nợ châu Âu hiện nay có nguồn gốc sâu xa từ mô hình “Nhà nước phúc lợi” của nước Anh thời kỳ Attlee. Anh Quốc vốn là “quê hương” của thị trường tự do, dẫn đầu thế giới về sự thịnh vượng ở thế kỷ 19, đã bị chủ nghĩa can thiệp của Attlee và Công Đảng Anh làm suy kiệt, cho đến khi Margaret Thatcher lên cầm quyền.

Xin nói thêm một chút việc bà đầm thép Thatcher đã “phá chấp” để đưa nước Anh “phản bản hoàn nguyên” như thế nào. Ngay khi mới lên cầm quyền, bà tuyên chiến với hai thế lực lớn : độc quyền kinh tế của các ngành quốc hữu hóa và độc quyền nghiệp đoàn. Bà cắt giảm các khoản chi tiêu công khổng lồ, giảm thiểu vai trò của Nhà nước, trả các hoạt động sản xuất kinh doanh lại cho thị trường. Ngày nay chúng ta đã quen với khái niệm “tư nhân hóa”, chính khái niệm đó đã ra đời ở nước Anh thời Thatcher. Đáp trả lại sự phản đối gay gắt trong nội các về việc bà áp dụng  “chủ nghĩa kinh tế tự do của Giáo sư Hayek”, bà nói : “Ồ, vâng, tôi biết, gần đây chúng ta đã được không dưới 365 nhà kinh tế học hàn lâm cho biết rằng những điều này là không thể … Sự tự tin về tính chính xác trong dự đoán của họ khiến tôi nín thở. Nhưng tôi đã lớn lên trong một cửa hàng kinh doanh, tôi tự hỏi liệu họ có dám đặt cược bằng tiền của chính họ cho những dự đoán đó hay không” (trích từ Daniel Yergin và Joseph Stanislaw - Commanding Heights : The Battle for the World Economy). Và bà đã thắng, nước Anh đã hồi sinh.

Ở Việt Nam, Đổi Mới là câu chuyện kinh thiên động địa. Đổi Mới hơn 25 năm, đất nước đã tiến một bước tiến dài. Đó thực chất là câu chuyện “bỏ bớt” Nhà nước, là Nhà nước từng bước lùi khỏi thị trường. Những tuyên bố “cởi trói”, “xóa bỏ”, “nới lỏng” dần dần thay cho các khẩu hiệu “tăng cường”, “siết chặt”, “đẩy mạnh”. Nói “kinh thiên động địa” là vì ngay một nước tư bản chủ nghĩa như nước Anh, hồi đó dù độc quyền kinh tế nhà nước nhưng thị trường chưa bị phế bỏ, mà trở lại kinh tế thị trường tự do còn khó đến như vậy, huống gì một nền kinh tế đã nằm gọn trong gọng kiềm kế hoạch hóa như Việt Nam.

Không ai biết các nhà kinh tế học Việt Nam làm được những trò trống gì để thúc đẩy Đổi Mới. Người ta chỉ biết ông Kim Ngọc khoán chui, ông Tạ Đình Đề hai lần bị bắt, hai lần ra tòa về “tội” dám tổ chức sản xuất kinh doanh của Xưởng Cao su Đường sắt theo thị trường, người ta chỉ biết các doanh nghiệp vượt rào, biết những người đứng mũi chịu sào như ông Võ Văn Kiệt xúi bà Ba Thi vượt ngăn sông cấm chợ để lưu thông lương thực với lời bảo đảm “nếu chị đi tù tôi sẽ đem cơm”, biết ông Phan Văn Khải khi làm Thủ tướng đã từng tuyên bố “Nhà nước chỉ làm những gì mà dân không làm được” – chủ nghĩa tự do của Hayek tựu trung cũng chỉ như vậy thôi.

Hôm nay Obama vừa tái cử thêm một nhiệm kỳ Tổng thống Mỹ. Điều kỳ lạ là báo chí Việt Nam không giấu nổi sự hân hoan, thậm chí trước bầu cử có báo còn hào hứng đưa tin “thế giới mong Obama thắng cử”. Nhưng cần nhớ rằng, cũng như F.D. Roosevelt trước đây, Obama tiếp tục cầm quyền thì Nhà nước Mỹ to ra, tự do tạm thời ít đi, các biện pháp lấy lòng tầng lớp trung lưu (Middle America) sẽ khiến cho nợ nước Mỹ phình to thêm, vàng sẽ tiếp tục lên giá vì lượng cung tiền sẽ tăng, tóm lại là kinh tế giới giới sẽ có thêm 4 năm tích tụ bất ổn cho một cuộc khủng hoảng trầm trọng hơn trong tương lai. Nhưng biết làm sao được khi đa số người Mỹ ngày nay thích đổi tự do để lấy sự an toàn trong hiện tại, còn tương lai thì mặc xác !

Trở lại câu chuyện của Thiền, về sự “Biết” (tri thức). Theo Hòa thượng Thích Trí Quang : Mục đích của việc hành thiền là làm cho “tâm nhất tánh cảnh”, nói nôm na là làm sao cho cái “Biết” của mình đồng nhất với đối tượng mà mình quan sát, tức là tri thức về đối tượng phản ánh đúng chân tướng của đối tượng. Thiền tông phân biệt sự “Biết” theo 2 cấp độ : đệ nhất phong đầu và đệ nhị phong đầu (ngọn núi thứ nhất và ngọn núi thứ hai). Đệ nhất phong đầu là chân tướng của đối tượng. Đệ nhị phong đầu, còn gọi là “tương tục tâm”, không phải là chân tướng của đối tượng, nghĩa là do sự nhận định tốt xấu và thái độ yêu ghét chủ quan của con người thêm thắt hoặc cắt xén, khiến cho đối tượng bị biến dạng, méo mó đi. Khốn nỗi con người bao giờ cũng có sẵn những định kiến tốt xấu và thái độ yêu ghét khi quan sát đối tượng, nên cái “Biết” thường chỉ là đệ nhị phong đầu. Đệ nhị phong đầu bao giờ cũng lấn át, che khuất đệ nhất phong đầu. Mọi thứ trần lao phiền não từ đó mà sinh ra. Khi nào cái “Biết” đúng với đệ nhất phong đầu, khi ấy mới giải thoát khỏi mọi trần lao phiền não, và như vậy là đã kiến tánh thành Phật rồi.

Cái “Trí” mà Trang Tử Lão Tử bảo phải bỏ (khí Trí) chính là đệ nhị phong đầu. Thứ “tri thức ngụy tạo” mà Hayek nhắc tới cũng là đệ nhị phong đầu…

(lúc nào rảnh viết tiếp) 

Phần 1

Thứ Bảy, ngày 03 tháng 11 năm 2012

Thiền và kinh tế học : "Thủy tự mang mang hoa tự hồng" (1)

Am trung bất kiến am tiền vật
Thủy tự mang mang hoa tự hồng

- Khuếch Am thiền sư 

Thiền đang là cái mốt thời thượng, đâu đâu cũng thấy sách vở về thiền, đâu đâu cũng thấy các lớp tập thiền. Thiền để cải ác quy thiện, để xóa bỏ phiền não, thiền để sáng suốt làm việc, để phục hồi nguyên khí nhằm có sức bày mưu tính kế giữa hai hồi đấm đá, để tĩnh tâm đối phó với các đối thủ kinh doanh đối thủ chính trị, thiền để chữa bệnh cho sống lâu trăm tuổi,  thiền để quên đi sự đau khổ khi bị tình phụ và quên đi tội lỗi khi phụ tình, thiền để đưa mình vào thế giới thanh cao giữa muôn loài chúng sanh tạp nhạp…, thiên hình vạn trạng biến hóa khôn lường.

Có lẽ thiền sư Nhất Hạnh hiện là người đi “quảng bá” thiền nhiều nhất. Những lớp giảng thiền, những buổi hướng dẫn tập thiền của ông ở nước ngoài được rất nhiều người theo học, sách vở về thiền và những bài giảng về thiền của ông được in, được lưu hành trên mạng Internet nhiều nhất. Ông là người “hiện đại hóa” thiền, là người nỗ lực đưa thiền “cập nhật” vào mọi lĩnh vực của đời sống.

Ngày xưa tôi ngưỡng mộ thượng tọa Thích Nhất Hạnh sau khi đọc cuốn sách mỏng “Bông hồng cài áo” của ông, sau này nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ phổ thành một bài hát, tôi cũng rất thích. Bây giờ người ta gọi ông là thiền sư. Nhưng đọc sách thiền của ông, mở Internet nghe ông giảng về thiền, tôi có cảm giác na ná như đọc những sách và nghe những bài giảng  “Bí quyết dẫn đến thành công” hoặc “7 bước làm giàu” hay đại loại như thế.

Đọc Thiền nghe Thiền từ thiền sư Nhất Hạnh người ta thấy tự tánh thì ít  mà thấy thiền sư Nhất Hạnh thì nhiều, hình như ông cố dụng công đạt cho được điều đó. Làm cho thiên hạ ngưỡng mộ mình không có gì xấu, miễn sao hướng mọi người đến được với chút ít an lành. Tôi không thấy an lành hơn khi đọc sách của thầy Nhất Hạnh, lý do vì sao tôi không giải thích được, có lẽ tôi còn quá nhiều cố chấp.

Thiền, bắt đầu từ một cuốn sách mỏng : Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục tổ. Người Trung Quốc rất tự hào về Lục tổ Huệ Năng, coi Huệ Năng ngang, thậm chí còn hơn Trang Tử, Lão Tử, Khổng Tử. Cuốn sách gối đầu giường, cuốn sách mà Mao Trạch Đông luôn luôn mang bên mình không phải là sách của Marx, Lenine hay Khổng Tử mà là cuốn Pháp Bảo Đàn Kinh (xin chớ vì bi kịch của cuộc “Đại cách mạng văn hóa” mà coi thường Mao Trạch Đông, cũng như chớ coi thường Tần Thủy Hoàng, Hán Cao tổ Lưu Bang hay Tào Tháo).

Đó là cuốn sách khai sơn phá thạch mà tĩnh lặng như không. Có nó mới có Thiền Tông Trung Quốc, có nó mới có Zen Nhật Bản, có nó thư pháp, thư họa, Đường thi mới trở thành bất hủ, có nó mới có những kiệt tác “thi trung hữu họa, họa trung hữu thi” của Vương Duy, mới có những nét bút thần tiên hồn nhiên tươi mát như cỏ cây hoa lá của Tề Bạch Thạch... Ảnh hưởng của Pháp Bảo Đàn Kinh vượt xa văn hóa Phật giáo, vượt xa văn hóa Phương Đông, nó đã kiến tạo lại nền văn minh Trung Hoa và âm thầm kiến tạo lại nền văn minh thế giới.

Và điều này ít người nghĩ tới, là từ những ẩn ngữ trong Nam Hoa Kinh và Pháp Bảo Đàn Kinh mà các bậc chân y mới lần ra hệ thống kinh lạc trong cơ thể con người để hoàn thiện phương pháp chẩn trị bệnh tật. Trang Tử và Huệ Năng chính là hai vị tổ sư đưa nền y học cổ truyền phương đông lên đỉnh cao mà y học hiện đại chỉ có thể vươn tới trong tương lai xa.

Tôi không dám múa bút viết về Lục tổ, chỉ xin mượn lời giáo sư Phạm Công Thiện : “Huệ Năng chính là Phật, đủ mười danh hiệu tối thắng, tối thượng; nếu còn mảy may khác nhau giữa Đức Phật và Ngài Huệ Năng thì Huệ Năng không thể là tổ sư của Thiền Tông. Bồ Đề Đạt Ma chỉ là một tên khác của Huệ Năng và Huệ Năng mới thực sự là Tổ sư Thiền Tông hiện nay”. Cũng theo Phạm Công Thiện, “tất cả những quyển sách khắp thế giới viết về Thiền Tông và Mật Tông đều là hý luận. Tổ sư Thiền và Như Lai Thiền không khác nhau. Chỉ có Thiền đúng nghĩa là Thiền của Lục tổ Huệ Năng”.

(Giáo sư Phạm Công Thiện còn nhấn mạnh : “Lục tổ Huệ Năng sinh ở đất Lãnh Nam, tức là Việt Nam ngày xưa”. Nhưng đây là câu chuyện khác, hy vọng sẽ có dịp đề cập để nhắc cho những người Việt Nam tự liệt mình vào hàng nhược tiểu, những người Việt Nam tự “làm nhỏ” mình nhớ lại biên giới nước Việt Nam từng tới đâu, người Việt đã kiến tạo được những gì, đã để lại những di sản gì cho văn minh nhân loại).

Tuy nhiên, cũng giống như môn kinh tế học đang rối rắm thiên kinh vạn quyển mà chân lý chỉ nằm trong những lời giản dị của Adam Smith hơn 250 năm trước, rằng hãy để cho mỗi cá nhân tự do theo đuổi những lợi ích riêng của mình và một “bàn tay vô hình” sẽ điều tiết, sẽ biến những hành vi tự do theo đuổi lợi ích riêng của mỗi cá nhân đó thành sự thịnh vượng cho xã hội cho đất nước, rằng “chỉ cần một vài điều kiện là có thể đưa một đất nước từ tình trạng dã man lên trạng thái phú cường nhất, đấy là hòa bình, thuế khóa dễ chịu và việc thực thi công lý có thể chấp nhận được : tất cả những điều còn lại sẽ xảy ra một cách tự nhiên”, Thiền đã bị giới trí thức biến thành “hý luận” rối rắm, khiến cho người ta đi vào Thiền lạc đường, không phải đi vào “tự tánh” mà quá bận tâm đến luận lý, đến sứ mệnh giáo hóa, đến những thứ bên ngoài mình.

Không phải ngẫu nhiên mà trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Ngài Huệ Năng nhắc đi nhăc lại là mình không biết chữ, không phải ngẫu nhiên mà Đức Phật trước khi viên tịch đã buông một câu chấn động “Ta 49 năm chưa từng nói một lời nào”. Đó là do các vị tiên lượng chữ nghĩa ghi lại lời của các vị có khả năng biến thành những sợi dây trói ngăn con người đi vào tự tánh. Trang Tử chẳng đã từng nói sách vở là “cặn bã”, là “đôi dép mục” của tiền nhân đó sao !

Nói tọa thiền để tịnh tâm là nói trật lất. Lục tổ bảo tâm là “huyễn”, là ảo, nên tọa thiền trước hết là không dính mắc vào tâm (nguyên bất trước tâm). Trong một công án Thiền nổi tiếng, khi Huệ Khả chặt đứt cánh tay và nói với Tổ sư Đạt Ma đang diện bích “Xin thầy an tâm cho con” – “Tâm của ngươi đâu đưa ta an cho ?” – “Con không thấy tâm đâu cả” – “Ta đã an tâm cho ngươi rồi đó”, chữ “an tâm” này không có nghĩa như ta sử dụng, phải hiểu đó là “phóng tâm”, là “bỏ mất” tâm, mới đúng. Cũng không dính mắc vào sự yên tịnh (diệc bất trước tịnh), cũng không phải là ngồi yên bất động (diệc bất thị bất động). Huệ Năng phá bỏ luôn sự yên tịnh, ông nói tịnh không có hình tướng, lại lập ra hình tướng yên tịnh, rồi bảo đó là công phu, hiểu như vậy là bị sự yên tịnh trói buộc. Như thế nào gọi là tọa thiền ? Ông nói : “Trong pháp môn này không có sự che lấp, không có sự ngăn trở. Đối với hết thảy những việc lành dữ, tâm chẳng khởi ra điều nghĩ, gọi là tọa. Trong tâm thấy tánh của mình chẳng động, gọi là thiền”. 

Vấn đề là tọa thiền để làm gì ? Để giải thoát, để thành Phật, để vào cảnh giới niết bàn. Nhưng thành Phật, vào cảnh giới niết bàn để làm gì ? Thành Phật rồi, lên niết bàn rồi để  cha mẹ vợ con bè bạn lại cho ai đây ? Trước đây linh mục Nguyễn Ngọc Lan từng viết, nếu lên thiên đường một mình thì buồn quá, ông nhất quyết không lên. Tagore có một bài thơ nói về nhà sư khổ hạnh và cô gái hái củi, nhà sư ngồi hành xác trong rừng, cô gái đem lòng yêu thương hàng ngày đến chăm sóc nhà sư, nhưng nhà sư quyết từ chối tình yêu của cô gái, chán chường cô gái bỏ đi, nhà sư tiếp tục tu hành cho đến khi đắc đạo, Thượng đế cử thiên sứ xuống mời nhà sư lên thiên đường, nhưng nhà sư từ chối nói bây giờ thì ta không cần đến thiên đường nữa, thiên sứ hỏi nhà sư cần gì, ông bảo bây giờ ta chỉ cần cô gái hái củi thôi.

Là Thiền, nhưng Pháp Bảo Đàn Kinh phá bỏ luôn sự trói buộc của Thiền, phá bỏ “hết thảy”, phá bỏ tất tần tật mọi sự trói buộc, dù là niết bàn, dù là Phật, phá bỏ một cách ngắn gọn không dài dòng văn tự. Huệ Năng bảo pháp môn này “tiên lập vô niệm vi tông, vô tướng vi thể, vô trụ vi bản”. Vô tướng là ở nơi tướng mà lìa tướng, vô niệm là trong chỗ nghĩ tưởng mà không nghĩ tưởng, còn vô trụ là “coi như không” những thị phi thiện ác tốt xấu trên thế gian, là không bị những thứ đó trói buộc.

“Trong chỗ nghĩ tưởng mà không nghĩ tưởng”, tức là đối cảnh mà tâm không bị đắm nhiễm, không đối cảnh mà sinh tâm, chứ không phải “tận diệt” sự nghĩ tưởng. Bởi vì, “nhất niệm tuyệt tức tử, biệt xứ thọ sanh” - chấm dứt nghĩ tưởng là lập tức chết, là đã sanh vào cõi khác rồi. Đó không phải là mục đích của Thiền, Thiền không phải là tự tử.

Thiền để đến cảnh giới Ma ha Bát nhã Ba la mật đa. Cảnh giới đó chính tự tánh. Nhưng tự tánh vốn vô biên không hình tướng. Lại không được dính mắc vào cái vô biên không hình tướng đó. Dính mắc vào cái “không” đó, rồi tự cho mình đạt đạo, Hòa thượng Thích Trí Quang bảo đó là hạng “cuồng thiền”, thứ Thiền của những người này chỉ là “Thiền bệnh”. “Không tâm tĩnh tọa” cũng là thứ mê mờ tà kiến.

Như thế là thế nào ? Trở về với tự tánh Ma ha Bát nhã Ba la mật đa nói vòng vo tam quốc cũng không ngoài việc trở lại với chính mình trong mối tương quan vốn có với tự nhiên. Không có Phật ở đâu cả, không có niết bàn ở đâu cả. Chúng sanh các loại con nào trở về nguyên con ấy như trời sinh ra vốn thế, đó là Phật. Là ếch thì làm đúng ếch, chớ có ý định biến thành bò. Là ếch sống đúng như ếch, đó chính là Phật, ếch mà muốn làm bò ắt sẽ thành ma. Là người sống đúng như người, đó là Phật, người mà muốn thành Thánh thành Phật, ắt cũng thành ma.

Trong một cuốn sách giảng về “Thập mục ngưu đồ” (Mười bức tranh chăn trâu), đến bức tranh thứ 10 “Nhập triền thùy thủ” (Thõng tay vào chợ) vẽ hình một thiền sư ngực trần chân không mang bầu rượu xách con cá vào chợ, nhà sư viết sách (tôi không tiện nêu tên)  nói đó  là thiền sư sau khi đã vào cảnh giới Phật rồi mới “vào cảnh giới ma” để “dạy cho những người bán cá, bán thịt ở ngoài chợ, ở quán rượu, những người không có chút đạo đức, khiến cho họ có chút đạo đức biết tu hành”. Không có gì báng bổ Phật pháp bằng lời giảng đó. Ông bán thịt, bà bán cá, nếu bán đúng cân, bán đúng thịt tươi cá tươi, không ướp hóa chất độc hại để “làm tươi” giả tạo thì đúng là Phật rồi, sao gọi những người làm những nghề nghiệp lương thiện là ma ? là không có chút đạo đức ?. Còn ông thiền sư, việc thõng tay vào chợ là hành vi tự nhiên, là sự trở về cuộc sống bình thường vốn phải như vậy, ông ấy chẳng có ý định giáo hóa ai cả, cũng chẳng tự cho mình có tư cách giáo hóa ai c. Nếu không như vậy, nếu ông ấy thõng tay vào chợ để “cải trang vi hành” nhằm đi giáo hóa người khác, thì chính ông ấy mới là ma. Chưa chắc chùa chiền có nhiều Phật hơn chợ búa, chưa chắc chợ búa có nhiều ma hơn chùa chiền.

Nhưng tại sao một vấn đề tưởng đơn giản như vậy lại biến thành phức tạp ? Tất cả đều do tri thức mà ra cả. Tri thức là sự phản ánh sự vật, hiện tượng vào đầu óc con người, nhưng sự phản ánh đó không bao giờ chính xác. Sự hiểu biết của con người về sự vật không phải là sự vật. Tri thức tích tụ trong đầu óc lâu ngày biến thành định kiến, rồi nhìn sự vật thông qua định kiến đó, từ đây sai lầm chồng lên sai lầm. Thay vì sống thuận theo tự nhiên, con người lại nhất quyết sống theo những tri thức sai lạc về tự nhiên. Phật gọi đó là “chấp”.

Phá cái chấp đó không hề dễ, Phật phải dùng đến kinh Kim Cương, hàm ý rằng phải dùng một thứ công cụ rắn như kim cương mới mong phá nổi. Trang Tử bảo phải “tuyệt Thánh khí Trí” thì thiên hạ mới thái bình. Vào thời hiện đại, Friedrich Hayek, người đoạt giải Nobel kinh tế năm 1974 gọi giới trí thức là “secondhand dealer” (người buôn đồ cũ), còn môn kinh tế học chính thống lúc đó (và bây giờ) là “ngụy tạo tri thức”.

Am trung bất kiến am tiền vật/Thủy tự mang mang hoa tự hồng” (Ngồi trong am không thể thấy vật ở ngoài am/(Hãy để cho) sông tự chảy và hoa tự hồng). Bi kịch của con người lkiêu ngạo tưởng rằng mình có thể biết hết mọi thứ...

 

Thứ Tư, ngày 07 tháng 3 năm 2012

Mon men theo Trang Tử (2)

"Ngô sinh dã hữu nhai, nhi tri dã vô nhai; dĩ hữu nhai tùy vô nhai, đãi dĩ ! Dĩ nhi vi tri giả, đãi nhi dĩ hĩ ! Vi thiện vô cận danh, vi ác vô cận hình, duyên đốc dĩ vi kinh, khả dĩ bảo thân, khả dĩ toàn sinh, khả dĩ dưỡng thân, khả dĩ tận niên".
(吾生也有涯,而知也無涯。以有涯隨無涯,殆已!已而為知者,殆而已矣!為善無近名,為惡無近刑,緣督以為經,可以保身,可以全生,可以養親,可以盡年)
Tạm dịch :
"Đời ta có hạn mà tri thức thì không bờ. Lấy cái có hạn mà đuổi theo cái không bờ thì nguy. Đã biết nguy mà còn đuổi theo thì càng nguy hơn. Làm điều thiện không gần danh, làm điều ác không gần hình phạt, duyên đốc dĩ vi kinh, có thể giữ được thân mình, có thể bảo toàn được sinh mệnh, có thể phụng dưỡng được mẹ cha, có thể sống trọn tuổi trời".
Riêng 5 chữ "duyên đốc dĩ vi kinh", theo tôi thì không thể dịch được, mặc dù đã có nhiều người dịch.
Ông Nhượng Tống dịch là "dựa theo sống lưng để làm đường dọc", đọc nghe sượng trân, không ai hiểu ý của câu này là gì.
Ông Nguyễn Hiến Lê dịch "chỉ người nào giữ cái đạo trung", dù phía dưới ông có chua thêm : "duyên đốc" là "theo mạch đốc", có nghĩa là giữ đạo trung, không thiên lệch, không thái quá. Dịch như vậy đọc cũng không hiểu. Nếu vậy thì tại sao Trang Tử không nói luôn là "giữ đạo trung" cho dễ hiểu mà phải nói "theo mạch đốc" cho rắc rối ?
Ông Nguyễn Duy Cần thì dịch "theo con đường giữa mà đi", phía dưới ông có chua thêm : Duyên đốc: Duyên có nghĩa là thuận; đốc là giữa. Muốn giữ được Đạo dưỡng sinh, cần ăn ở mực thước, đừng có cái gì thái quá. No quá, đói quá không nên; vui quá, buồn quá cũng không nên. Dịch như vậy cũng na ná như ông Nguyễn Hiến Lê dịch, lời chua cũng không làm người ta hiểu thêm được điều gì.
Tóm lại, 5 chữ đó không dịch ra tiếng Việt được. Nó cũng là một thứ "vô nhai". Tôi hoàn toàn không có ý nói tiếng Việt ta là “hữu nhai”, không đuổi kịp 5 chữ Hán “vô nhai” kia. Tôi dám chắc rằng hơn hai ngàn năm nay, bất kỳ văn nhân học giả nào, dù là người Hán hay Việt, khi đọc đến 5 chữ trên đều ngắc ngứ.
Trang Tử biết rõ hơn ai hết sự giới hạn của ngôn ngữ. Ông đã phải sử dụng “tam ngôn” – ngụ ngôn, trùng ngôn, chi ngôn – để có thể diễn đạt một cách tối đa những gì ông muốn nói. Nhưng giữa ngổn ngang những ngụ ngôn trùng ngôn chi ngôn của Trang Tử, bạn phải nhìn cho ra những chỗ nhiếp dẫn và mon men theo đó mà dòm vào chỗ “vô ngôn” và những mật ngữ.
Trong 5 chữ trên, 2 chữ “Đốc” và “Kinh” là những mật ngữ. Dòm thấy rồi, nhưng để hiểu thì bạn nhất định phải đi tìm một bậc chân y theo học nghề thầy thuốc để biết bắt mạch. Học nghề thầy thuốc không thể học qua sách vở, vì sách vở đông y trôi nổi trên thị trường không thể tin được, thầy thuốc không do chân truyền cũng không thể tin. Học từ sách ấy, từ thầy ấy bạn có thể bị tẩu hỏa nhập ma.Chân y thời nay có thể có vài người, trong vài người đó tôi biết một người. Đó là ông Nguyễn Phúc Ưng Viên. Nhưng ông Ưng Viên bảo rằng nghề thầy thuốc ngay cả cha truyền cho con, ông truyền cho cháu, đứa nào thông minh cũng phải mất 15 năm mới biết được 8 trong số 24 mạch danh căn bản mà một thầy thuốc cần biết.
Phải biết rõ 24 mạch danh thì mới hiểu được Trang Tử muốn nói gì qua 5 chữ “Duyên đốc dĩ vi kinh”, tức là từ khi dòm thấy hai chữ “Đốc” và “Kinh” đến khi hiểu “Duyên đốc dĩ vi kinh” bạn phải mất ít nhất 45 năm, nếu bạn là một người thông minh.
Chỉ nghĩ đến số năm thôi, đã thấy hơi bị tổn thọ rồi, trong khi Nam Hoa Kinh vốn không phải là cuốn sách đọc để mà tổn thọ. Tạm stop câu chuyện tổn thọ này tại đây để đọc lại mấy câu thơ lô hỏa thuần thanh của Bùi Giáng cho vui vẻ trường thọ :
Phật ngồi dưới gốc bồ đề
Tiên nương dừng bước tóc thề chấm vai

Thưa rằng Phật thật là tài

Thấy mà như chẳng tự ngoài vào trong
(còn tiếp)

Thứ Bảy, ngày 11 tháng 2 năm 2012

Mon men theo Trang Tử (1)

Trâu ngựa có bốn chân, ấy là Trời
Khớp đầu ngựa xỏ mũi trâu, ấy là Người
(Trang Tử)
Trang Tử chỉ để lại một Nam Hoa Kinh vỏn vẹn mười vạn chữ, nhưng gần hai ngàn rưỡi năm nay thiên hạ đã phải dùng tới thiên kinh vạn quyển để mổ xẻ mười vạn chữ đó, mà nào có mổ xẻ xong đâu.
Mười vạn chữ mà “bao la vạn khoảnh, biến hóa khôn lường” (lời Lỗ Tấn).
Có người còn nói nếu như mọi sách vở cổ kim của Trung Quốc buộc phải biến mất khỏi mặt đất, chỉ cho phép để lại một cuốn duy nhất thôi thì cuốn đó phải là Nam Hoa Kinh.
Điều kỳ dị của cuốn Nam Hoa Kinh là ở chỗ không ai có thể tự cho mình hiểu hết được nó, càng cố hiểu càng thấy rối mù. Ngay cả việc cuốn sách ấy phần nào do chính Trang Tử viết, phần nào do người đời sau viết, cũng khó mà xác định. Nhiều thế hệ học giả Trung Quốc đã dày công so sánh, đối chiếu, loại suy và xác định được 7 thiên thuộc phần Nội thiên là do chính Trang Tử viết, còn phần Ngoại thiên và Tạp thiên nhiều khả năng do người đời sau viết thêm vào. Nhưng ông Bùi Giáng của chúng ta thì bảo chưa chắc, biết đâu Trang Tử đã dùng lối nghịch hành.
Tư Mã Thiên nói các bậc vương công không ai biết nổi Trang Tử là người như thế nào. Mà đâu chỉ có các vương công, các văn nhân học giả cũng vậy thôi, đâu có mấy người biết nổi. Phải lấy Trang Tử mà giải thích Trang Tử, tuyệt đối không nghe sự giải thích của bất kỳ ai và đừng bắt ai phải theo Trang Tử, đó là lời khuyên của các bậc túc học “biết biển biết rừng” thời xưa ở Trung Quốc.
Việt Nam hiện có 4 bản dịch Nam Hoa Kinh, của Nhượng Tống, của Nguyễn Hiến Lê, của Nguyễn Duy Cần và của Nguyễn Tôn Nhan. Đọc mỗi bản dịch kèm theo lời bình giải, bạn sẽ hiểu Trang Tử theo mỗi cách khác nhau. Ông Nguyễn Hiến Lê soạn sách công phu nhất, nhưng đọc sách của Nguyễn Hiến Lê người ta thấy cái công phu của Nguyễn Hiến Lê thì nhiều mà thấy Trang Tử thì ít nhất. Nhưng nếu đọc những trang ngao du cà rỡn của Bùi Giáng về Trang Tử, bạn lại thấy Trang Tử nhiều hơn bất cứ chỗ nào.
Để mon men theo Trang Tử thật không biết phải đi đường nào, bởi mọi “con đường” đều không đến được ông. “Đạo” của Trang Tử không phải là một “con đường”, mà ở mọi vật mọi chốn mọi nơi, mênh mông bát ngát. Ông phất ống tay áo lên là biến thành tấm lưới lồng lộng thâu tóm luôn hai ngàn rưỡi năm dâu bể.
Cần phải có học cao biết rộng mới tiếp cận được Trang Tử chăng ? Không hẳn. Trang Tử bảo kiến thức sách vở là “đôi dép mục”, là “cặn bã” của tiền nhân. Theo đó thì “lấy Trang Tử mà giải thích Trang Tử” chắc cũng không ổn, vì Nam Hoa Kinh cũng chỉ là “đôi dép mục” mà thôi.
Phải là chính nhân quân tử mới tiếp cận được Trang Tử chăng ? Cũng không luôn. Trang Tử phản đối nhân nghĩa. Theo ông thì dân vốn sống tự nhiên cùng đồng ruộng cây cối chim muông, “dệt mà mặc, cày mà ăn”, “ngậm cơm mà vui, vỗ bụng mà chơi”, “không biết gì là quân tử với tiểu nhân”. Đó là đạo đức thường hằng hồn nhiên như cây cỏ. Chính những kẻ gọi là thánh nhân “cặm cụi làm nhân, tập tễnh làm nghĩa, mà thiên hạ sinh ngờ; lan man làm nhạc, khúm núm làm lễ, mà thiên hạ mới phân chia”. Phải hủy đạo đức mới làm được nhân nghĩa, vì đạo đức không phế thì lấy đâu ra nhân nghĩa ?
Trang Tử lên án cả những “người tốt” lúc chết khiến mọi người thương khóc. Lão Tử chết, “người già khóc như khóc con mình, người trẻ khóc như khóc mẹ mình”, Trang Tử cho rằng người này lúc sống ắt có những chuyện “không cần nói mà nói, không cần khóc mà khóc”, khiến cho thiên hạ nhớ những gì ông ta đã “cho” mà quên đi những gì ông ta đã “nhận”. Đó là “vi thiện cận danh”, ông coi chẳng ra gì. Chủ trương “vi thiện vô cận danh” (làm thiện không gần danh) của ông nghe dễ hiểu mặc dù khó làm, ở một phương trời khác Jésus cũng từng nói : “Tay phải làm điều thiện không được cho tay trái biết”. Nhưng Trang Tử lại bảo “vi ác vô cận hình” (làm ác không gần hình phạt) thì nghe quá choáng, mặc dù nó không khác mấy bài “lách luật” mà ngày nay thiên hạ vẫn thường áp dụng.
Ông “tề vật” một cái là sống chết như nhau, nhỏ to không phân biệt, thiện ác phải quấy san bằng. Cái chiêu “tề vật” của ông có kình lực ghê người, làm rung chuyển hơn hai thiên niên kỷ, khiến cho các công hầu khanh tướng lũ lượt giũ áo từ quan về nấu cơm cho vợ, kéo vua chúa từ ngai vàng xuống đồng rộng và lôi sư sãi ra khỏi chùa chiền “thõng tay vào chợ”. Một nhị tổ Thiền tông Huệ Khả sau khi đại ngộ được truyền y bát hẳn hoi, đã suốt đời lang thang lao động kiếm sống, uống rượu ăn thịt như một phàm phu. Không phải Trang làm cho Phật đảo điên. Phải chăng hội tụ với Trang, Phật trở lại với cái vô biên vốn có của đời thường, “Như lai giả vô sở tùng lai diệc vô sở khứ cố danh Như Lai” ?
(còn tiếp)

Chủ Nhật, ngày 04 tháng 9 năm 2011

Không đề về anh Hồ Giáo (*)


Hồi nhỏ đọc thơ Tố Hữu tôi ngưỡng mộ anh Hồ Giáo. Sau khi gặp ông, viết bài về ông, tôi càng ngưỡng mộ ông Hồ Giáo hơn. Sự ngưỡng mộ sau không giống như sự ngưỡng mộ trước, nhưng nó khác nhau như thế nào tôi không lý giải được. Thỉnh thoảng tôi cứ nghĩ về ông, nghĩ miên man mà không biết mình nghĩ gì.

Trong kinh sách Thiền tông có "Thập ngưu đồ" (Mười bức tranh con trâu) là tác phẩm vô cùng độc đáo. Dưới mỗi bức tranh có những bài kệ của các thiền sư cao tăng. Đọc "Thập ngưu đồ" ta có thể chiêm ngưỡng những điều sâu xa vi diệu của Thiền. Ở Trung Quốc xưa đã có những dòng thiền lấy chính cái chuồng trâu làm Thiền viện, nhiều vị thiền sư từ cái chuồng trâu mà thấy được Phật.

Mỗi lần nghĩ đến ông Hồ Giáo tôi lại đọc "Thập ngưu đồ". Mỗi lần đọc "Thập ngưu đồ" tôi lại nghĩ đến ông Hồ Giáo. Ông Hồ Giáo không đọc kinh niệm Phật, và có lẽ cũng không suy tư dằn vặt về lẽ sống chết của cuộc đời. Nhưng tự nhiên tôi nghĩ ông là một vị bồ tát. Tại sao không nhỉ !

Trong ông Hồ Giáo không danh không lợi, không vướng "bụi trần". Ông không coi mình là "đài gương sáng" mà "bụi trần" không thể bám được vào ông.

Phật bảo phá hết chấp thì thành Phật. Còn ông Hồ Giáo thì sống hồn nhiên với những con trâu, ông không cần "phá chấp", ông tự nhiên là không chấp.

Mỗi lần nghĩ đến ông Hồ Giáo tôi thấy bình an.

HOÀNG HẢI VÂN
-----------------------------
*Cái "Không đề" này đăng trong cuốn sách tuyển tập các phóng sự của báo Thanh Niên, trong đó có in loạt ký sự "Chiêm ngưỡng anh Hồ Giáo" của tui, cuốn sách xuất bản năm ngoái hay năm kia tôi không nhớ, hồi đó tòa soạn đề nghị tui viết thêm một đoạn "cảm nghĩ" in kèm theo.

Thứ Năm, ngày 08 tháng 1 năm 2009

Người tu hành và cuộc "hôn nhân chính trị"


Đại Việt sử ký toàn thư chép "(Tháng 6 năm 1306) gả công chúa Huyền Trân cho chúa Chiêm Thành Chế Mân. Nguyên trước Thượng Hoàng (Trần Nhân Tông) vân du đến Chiêm Thành đã trót hứa rồi. Văn nhân trong triều ngoài nội phần lớn mượn việc vua Hán đem Chiêu Quân gả cho Hung Nô, làm lời thơ quốc ngữ mà chê cười".

Cũng sách này chép tiếp : " (1307) đổi 2 châu Ô, Lý làm Thuận Châu và Hóa Châu, sai hành khiển Đoàn Nhữ Hài đến ổn định dân chúng. Trước đó chúa Chiêm Thành là Chế Mân đem đất ấy làm vật dẫn cưới".

Cuộc hôn nhân lịch sử này làm cho đất nước dài thêm hơn 200 cây số. Mấy trăm năm nay người Việt Nam tự hào ngưỡng mộ Huyền Trân nhưng cũng thương tiếc cho Huyền Trân. Tự hào ngưỡng mộ thì đúng, nhưng thương tiếc thì chưa chắc đúng.

Châu Ô, Châu Lý của Chiêm Thành ngày xưa, ngày nay là dải đất dài từ nam Sông Hiếu tỉnh Quảng Trị đến bắc Sông Thu Bồn tỉnh Quảng Nam. Nhưng ý nghĩa của nó không chỉ là việc đất nước "dài ra" mà còn là vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng của vùng đất. Theo Nguyên sử ghi, đó là vùng đất mà bọn Toa Đô dùng làm bàn đạp để tấn công vào phía nam Đại Việt trong cuộc xâm lược của quân Nguyên năm 1283. Trong suốt một thời gian dài của lịch sử Đại Việt, Chiêm Thành luôn luôn đem quân đánh phá, có khi đem quân đến tận Thăng Long. Bởi vậy, "bình Chiêm" luôn luôn đi liền với cuộc đấu tranh tự vệ chống bành trướng phương Bắc, mà Châu Ô, Châu Lý luôn luôn là "hiểm địa".

Do có được vùng đất đó mà chưa đầy 100 năm sau, Hồ Qúy Ly đã mở rộng thêm bờ cõi đến Quảng Nam, Quảng Ngãi ngày nay. Và hơn 50 năm sau nữa, Lê Thánh Tông cắm được mốc biên giới phía Nam của Tổ quốc trên núi Đá Bia tỉnh Phú Yên. Từ những tiền đề đó mà Nguyễn Hoàng và con cháu ông vẽ tiếp bản đồ đất nước đến mũi Cà Mau... Lịch sử là chuổi nối tiếp các sự kiện, cái trước là tiền đề, là bàn đạp cho cái sau. "Đây là cống hiến vĩ đại của vua Trần Nhân Tông đối với dân tộc, mà muôn đời về sau con cháu vẫn còn ghi nhớ" (Lê Mạnh Thát, Trần Nhân Tông toàn tập). Nếu không có cuộc hôn nhân ngoạn mục đó thì đất nước ta bây giờ hình chữ gì ? Rất khó nói.

Cần biết rằng Huyền Trân là người con gái duy nhất của vua Trần Nhân Tông. Và cần biết khi Huyền Trân được gả cho Chế Mân, Thượng Hoàng Trần Nhân Tông đã là người tu hành. Ông xuất gia năm 1299, "đi thẳng vào núi Yên Tử, siêng năng tu hành 12 hạnh đầu đà, tự gọi là Hương Vân Đại Đầu Đà, dựng Chi Đề tinh xá, mở pháp độ tăng, người học đến như mây" (theo Thánh Đăng ngữ lục). Thiền sư - sử gia Lê Mạnh Thát cho rằng : "Chưa bao giờ trong lịch sử Phật giáo ở nước ta hay ở bất cứ một nước nào khác, một người xuất gia lại có thể mở mang bờ cõi, và mở mang bờ cõi một cách hòa bình". Vị thiền sư này cũng cho rằng : "Căn cứ vào giới luật của hàng Phật tử bình thường sống ở các chùa chiền, mà ta hay gặp, thì một người xuất gia không bao giờ được phép đi làm mai mối cho việc dựng vợ gả chồng. Thế mà Hương Vân Đại Đầu Đà đã làm việc đó và đã làm một cách thành công".

Giới trí thức đương thời (tức các nho sĩ) chống đối quyết liệt cuộc hôn nhân này, như sử sách còn ghi lại "Văn nhân trong triều ngoài nội phần lớn mượn việc vua Hán đem Chiêu Quân gả cho Hung Nô, làm lời thơ quốc ngữ mà chê cười". Đích thân sử thần Ngô Sĩ Liên sau này cũng lớn tiếng : "Xưa Hán Cao Hoàng vì Hung Nô nhiều lần làm khổ biên giới, đem con gái nhà dân làm công chúa để gả cho thiền vu. Kết hôn với người không phải giống, tiên nho đã từng chê, song có ý muốn việc binh đao được chấm dứt và dân được yên. Điều đó còn có thể nói được... Còn Nhân Tông đem con gái gả cho chúa Chiêm Thành là nghĩa gì ? Nếu nói nhân đi chơi, trót hứa, sợ thất tín, thì sao không đổi mệnh được ư ? Vua giữ ngôi trời, còn Thượng Hoàng thì đã xuất gia, vua đổi mệnh có khó gì, mà lại đem gả cho người ta không phải giống, cho đúng lời hứa trước, rồi lại dùng mưu gian đánh cướp lại về sau, thế thì tín ở đâu ?".

Trung Quốc "Đại Hán" coi dân ta là mọi rợ, đám nho sĩ ta lại học đòi coi các dân tộc nhỏ hơn là mọi rợ. Còn Trần Nhân Tông thì khác. Ông và con gái ông đã vì đại cuộc của quốc gia, lại không phân biệt chủng tộc mà coi các dân tộc là bình đẳng như nhau. Đây là cuộc "hôn nhân chính trị" vì lợi ích của nước nhà, nhưng không thể nói cuộc hôn nhân này là không chân thật. Nhưng khi người ta định thiêu sống công chúa Huyền Trân (vì theo tục lệ Chiêm Thành, vua Chế Mân chết thì Huyền Trân phải chết theo), thì phải cứu Huyền Trân chứ, sao lại nói hồ đồ là "dùng mưu gian để cướp lại" ? Cái ông Ngô Sĩ Liên này thật quá lôi thôi.

Trần Nhân Tông đắc đạo thành Phật, ngày nay chúng ta gọi là "Phật Hoàng Trần Nhân Tông". Nhưng công đức lớn nhất của Phật Hoàng không phải là việc ông hành thiền tụng kinh gỏ mõ trên núi cao Yên Tử. Ông đã hành thiền bằng việc hai lần chỉ huy toàn dân Đại Việt đánh thắng đội quân hùng mạnh nhất hành tinh là quân Mông Cổ, bằng việc tổ chức Hội nghị Diên Hồng (do Thường Hoàng Trần Thánh Tông chủ trì) vang dội đến ngày nay, bằng việc ngồi trên Yên Tử mà mở mang bờ cõi như đã nói... "Thiền", rất nhiều khi đồng nghĩa với đi đánh giặc.

"Tiếc thay cây quế giữa rừng/Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo", hồi nhỏ tôi được người lớn giải thích rằng câu ca dao đó nói lên sự tiếc thương đối với công chúa Huyền Trân. Dù có đúng hay không đó cũng là câu "phân biệt chủng tộc", nên "đuổi cổ" ra khỏi kho tàng ca dao Việt Nam ta.

Cách đây hơn 10 năm, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân trong một bài viết đăng trên báo Nông thôn ngày nay, đã thiết tha đề nghị (tôi đọc lâu rồi nên không nhớ nguyên văn) nếu những con đường to ở các thành phố lớn "có nơi có chốn" rồi thì nên lấy đoạn quốc lộ từ Quảng Trị băng qua đèo Hải Vân đến Quảng Nam đặt tên là đường Huyền Trân Công chúa.

Thứ Ba, ngày 30 tháng 12 năm 2008

Thiền là gì ?


Một y sĩ đến gặp thiền sư Nanin để xin học Thiền.

Nanin bảo : “Nếu anh là y sĩ, hãy về chữa trị tử tế cho bệnh nhân đi. Đó là thiền”
(Trích từ Góp nhặt cát đá của thiền sư Muju, Nhật Bản, thế kỷ 13)

Chủ Nhật, ngày 28 tháng 12 năm 2008

Thiền và chính trị


1. Theo sách Cao tăng dị truyện, vào năm 431, vua Tống Văn Đế cung kính hỏi thiền sư Gunavarmam (Cầu Na Bạt Ma, còn gọi là Công Đức Khải) :
- Quả nhân thường muốn trì trai không sát sanh; đem thân tiếp vật, mà chẳng tròn sở nguyện, xin thầy dạy cho.
Thiền sư đáp:
- Ðạo tại tâm chứ không tại việc. Pháp do mình chứ không do người. Hơn nữa, đế vương tu khác với thất phu. Thất phu nếu không khắc kỷ, không tiết chế thì còn làm gì nữa? Còn đế vương lấy bốn biển làm nhà, lấy muôn dân làm con. Ban một lời khen thì sĩ thứ đều vui, công bố một chính sách tốt thì thần dân an hòa. Hình phạt không làm chết người, sưu dịch không làm nhọc sức người, thì mưa gió đúng thời, nóng lạnh hợp tiết, lúa đậu dồi dào, cây trái tốt tươi. Lấy điều này thay cho trì trai, đó là trì trai lớn, lấy điều này thay cho việc không sát sanh, thì lợi hơn sát sanh. Ðâu phải ở chỗ ngày ăn một bữa, bảo toàn tính mệnh cho một con vật, mới gọi giúp đỡ rộng rãi ?
Vua vỗ ghế than :
- Người tục thì mê những triết lý xa xôi, tăng nhân thì trệ ở kinh điển thiển cận. Còn như lời của thầy, có thể nói gồm cả trời và người vậy.
2. Năm 1237, do vua Trần Thái Tông lấy Lý Chiêu Hoàng đã lâu mà không sinh con, Trần Thủ Độ lo sợ cho sự tồn vong của triều Trần, mà sự tồn vong của triều Trần lúc đó gắn liền với sự tồn vong của xã tắc, nên ép Trần Liễu (anh của vua Trần Thái Tông) nhường vợ là Thuận Thiên công chúa (lúc đó đang có thai) cho Trần Thái Tông, giáng Lý Chiêu Hoàng xuống làm công chúa. Trần Thủ Độ tính chuyện "chắc ăn" cho dòng họ, lấy đại cục làm trọng, bất chấp đạo lý thông thường của người đời. Nhưng việc này khiến cho Trần Liễu bất mãn. Vua cũng không tán đồng, nên đang đêm bỏ ngai vàng lên Yên Tử. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng sáng hôm sau Trần Thủ Độ đem quần thần lên núi đón vua. Vua nói : “Trẫm vì tuổi trẻ chưa cáng đáng nổi công việc nặng nề, mà phụ hoàng đã vội lìa bỏ, Trẫm mất chỗ trông cậy, nên không dám ngồi ở ngôi vua để làm nhục xã tắc” Thủ Độ ba lần cố mời, vua vẫn không nghe, bèn bảo mọi người : “Hễ xa giá ở đâu, tức đó là triều đình”. Bèn cắm nêu trong núi, chỗ này là điện Thiên An, chỗ kia là gác Đoan Minh, sai người xây dựng. Quốc sư (Phù Vân) nghe vậy tâu rằng : “Bệ hạ nên gấp hồi loan, chớ khiến chặt phá núi rừng của đệ tử”. Vua bèn trở về kinh đô.
Nhưng chuyện này thực tế có khác một chút. Thiền sư Lê Mạnh Thát, trong Trần Thái Tông toàn tập có dẫn bài tựa do nhà vua viết cho sách Thiền tông chỉ nam tự, trong đó chính Trần Thái Tông kể về sự kiện này, có đoạn như sau :
“Sáng hôm sau lên thẳng đỉnh núi, vào yết kiến Quốc sư là đại sa môn phái Trúc Lâm, Quốc sư vừa thấy trẫm thì mừng rỡ, rồi ung dung bảo rằng : ‘Lão tăng lâu ở núi hoang, xương gầy mặt võ, ăn rau đắng, nếm hạt dẻ, chơi cảnh rừng, uống nước suối, lòng như mây nổi, theo gió đến đây. Nay bệ hạ bỏ ngôi nhân chủ, tìm sự nghèo hèn nơi rừng núi, chẳng hay bệ hạ muốn cầu điều gì mà đến chốn này ?’ Trẫm nghe sư nói, rơi hai hàng nước mắt, đáp lại rằng : ‘Trẫm đương trẻ thơ, mẹ cha vội mất, trơ vơ đứng trên dân chúng, không chỗ nương tựa. Lại nghĩ sự nghiệp đế vương thuở trước, hưng phế bất thường, cho nên tìm đến núi này chỉ muốn cầu làm Phật, chứ không cầu gì khác’.
Sư nói : ‘Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng. Lòng lặng mà hiểu, đó chính là chân Phật. Nay nếu bệ hạ giác ngộ tâm đó thì lập tức thành Phật, không nhọc kiếm bên ngoài’…”
Trong bài viết này vua cũng kể lại chuyện Trần Thủ Độ đem quần thần lên núi và dẫn lại lời Trần Thủ Độ “… Như thần nghĩ, bệ hạ tính kế tự tu đã vậy, nhưng còn quốc gia xã tắc thì sao ? Nếu chỉ để lời nói suông lại cho đời sau, sao bằng đem thân mình làm gương trước thiên hạ. Nhược bằng bệ hạ không nghĩ lại thì chúng thần và người trong thiên hạ xin cùng chết ngay hôm nay, lòng quyết không về nữa”.
Trần Thái Tông viết tiếp :
“Trẫm thấy Thái sư (Trần Thủ Độ) cùng các cố lão khăng khăng không chịu bỏ trẫm, liền đem lời nói ấy bày tỏ với Quốc sư. Quốc sư cầm tay trẫm nói : ‘Phàm làm bậc nhân quân thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình'...”