Thứ Năm, 30 tháng 4, 2009

Cần công bằng với Thanh Tâm Tài Nhân


Hồi nhỏ tôi thường nghe mẹ tôi đọc Kiều, vì thương mẹ nên tôi gần như thuộc lòng luôn truyện Kiều, nhưng không mê. Lớn lên chút nữa, đọc Phạm Quỳnh “Truyện Kiều còn tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn” cũng không thấy mê món “quốc hồn quốc túy” này, dù tôi chưa bao giờ ghét cụ Phạm Quỳnh, cũng như không ghét cụ Ngô Đức Kế khi cụ kịch liệt bài bác Truyện Kiều.


Khi nghe ông Tố Hữu gọi “Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều” thấy hay hay, nhưng lúc ông bảo “Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân/Bâng khuâng nhớ cụ thương thân nàng Kiều” thì thấy ông không hẳn là thành thật.


Nói chung, khi người lớn đem Kiều ra làm chính trị, con nít không thấy hấp dẫn. Học Kiều ở trường phổ thông, bị buộc phải hiểu theo ý thầy cô, cũng không thấy thích.


Cho đến khi đọc Bùi Giáng, tôi mới thực sự thấy thích Kiều. Có lẽ vì tôi thích cái điên điên khùng khùng của Bùi Giáng nên thích luôn Kiều. Ngó tới ngó lui thì thấy người viết về Kiều vô tư hồn nhiên nhất là Bùi Giáng.


Khi thích Kiều rồi, tôi vẫn thấy lợn gợn một chuyện nhưng không sao tìm được lời giải đáp. Từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân mà Nguyễn Du phóng tác thành Truyện Kiều, ai cũng biết điều đó, nhưng giáo trình dạy cho học trò cũng như hầu hết các sách vở viết về Truyện Kiều đều nói rằng, Truyện Kiều của Nguyễn Du mới là kiệt tác văn chương bất hủ, còn Kim Vân Kiều truyện củaThanh Tâm Tài Nhân chỉ là một tác phẩm “tầm thường thô thiển”.


Tôi biết chắc những người nói điều này chưa bao giờ đọc Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, đơn giản là tác phẩm đó đã bị “thất truyền”. (Thực ra năm 1925 Nhà xuất bản Tân Dân có in thành sách một bản dịch Kim Vân Kiều truyện, sau đó có một vài bản dịch khác nữa, nhưng nói chung những sách này rất ít người biết, mãi đến năm 2005 nhiều người mới biết đến qua một bản dịch do Nhà xuất bản Văn học ấn hành. Nghe nói bản chép tay bằng chữ Hán đang được lưu giữ tại Viện Viễn Đông bác cổ Paris).


Khoảng 13-14 năm trước, một lần nói chuyện với nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân ở Đà Nẵng, ông bất ngờ đề cập đến Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Ông bảo, Kim Vân Kiều truyện hoàn toàn không phải là “tác phẩm tầm thường” như người ta nói. Lúc đó tôi đang giúp Báo Nông thôn ngày nay làm tờ Nguyệt san, tôi quá hào hứng chuyện này nên đề nghị cụ Nguyễn Văn Xuân viết luôn một bài phân tích. Bài đó đã được đăng ngay.


Trước đây khi ca ngợi Truyện Kiều của Nguyễn Du, một số nhà nghiên cứu thường dẫn lời hai ông vua Minh Mạng và Tự Đức. Đúng là Minh Mạng – một minh quân trong lịch sử, và Tự Đức – một trong hai ông vua “hay chữ” nhất (người kia là Lê Thánh Tôn), đã hết lời ca ngợi Truyện Kiều. Nhưng cụ Nguyễn Văn Xuân đưa ra nhiều chứng cứ cho thấy Minh Mạng và Tự Đức ca ngợi Kiều là ca ngợi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, chứ không phải ca ngợi Nguyễn Du. Có lẽ đây là bài nghiên cứu đầu tiên đặt ngược vấn đề lâu nay được số đông nhắm mắt thừa nhận. (Tôi hiện không có bài báo đó trong tay, nhưng chắc chắn tôi sẽ nhờ người tìm được).


Gần đây, một bài viết của cụ Vũ Quốc Thúc công bố tại Pháp năm 2006, có đề cập đến những tác phẩm của Minh Mạng và Tự Đức liên quan đến Truyện Kiều mà cụ thân sinh của cụ Thúc còn lưu giữ. Bài viết của cụ Vũ Quốc Thúc hoàn toàn không đề cập đến việc so sánh hơn kém giữa Thanh Tâm Tài Nhân và Nguyễn Du, nhưng chỉ riêng tên gọi của những tài liệu này cũng phát ra một thông báo quan trọng. Từ thời vua Minh Mạng đến đầu thế kỷ 20 đã có ba thế hệ thi gia Việt Nam viết về Kiều, tập hợp lại thành một bộ với cái tựa chung là “Thanh Tâm Tài Nhân thi tập”. Tập đầu tiên soạn khi Minh Mạng mới lên ngôi (1820) gồm những bài thơ xướng và họa bằng chữ Hán dựa theo từng hồi của Kim Vân Kiều truyện, do Phụ chính đại thần Hà Tôn Quyền chủ xướng, đến năm Minh Mạng thứ 11 (1830), đích thân nhà vua viết một bài Tổng thuyết cho thi tập, cũng bằng chữ Hán. Vào năm 1871, tập tiếp theo do Tự Đức chủ xướng, đích thân nhà vua làm các bài thơ xướng cho mỗi hồi và viết lời tựa (Tổng từ)chung cho thi tập. Tập thứ ba ra đời vào cuối thế kỷ 19, có Chu Mạnh Trinh và Nguyễn Khuyến tham gia. Những bản chép tay các tập thời Minh Mạng và Tự Đức mang tên "Thanh Tâm tài tử cổ kim minh lương đề tập biên" hiện lcũng được lưu giữ tại Thư viện quốc gia Hà Nội, ký hiệu VNV 240.


Nói tóm lại, dù Truyên Kiều của Nguyễn Du có ra đời trước, sau hay cùng lúc với “Thanh Tâm Tài Nhân thi tập” thì, như chính tên gọi của công trình này, nó chỉ có thể là sự hưởng ứng với chính tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân.


Trên tạp chí Văn học số 2, 1998, trong bài viết "Không có "Bản Kinh" Truyện Kiều do vua Tự Đức sửa chữa đưa in", tuy không phải là bài đánh giá so sánh tác phẩm, nhưng nhà nghiên cứu Đào Thái Tôn sau khi phân tích, đã khẳng định : "Chắc chắn là : trong khi cầm bút viết Tổng thuyết hay Tổng từ, Minh Mệnh và Tự Đức đều viết về Kim Vân Kiều truyện của Trung Quốc, chứ không phải viết về Truyện Kiều của Nguyễn Du".


Như vậy là trong suốt 4/5 thế kỷ 19 và mấy năm đầu của thế kỷ 20, ba thế hệ thi gia xuất sắc nước ta, trong đó có hai ông vua có học vấn uyên thâm là Minh Mạng và Tự Đức, dấy lên một cuộc xướng họa vô cùng tâm đắc với tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, thì liệu nó có phải là một tác phẩm “tầm thường thô thiển” ? Lại nữa, qua lời của Tự Đức và ngày nay nhiều người đã biết, Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân có lời bình của Kim Thánh Thán. Nhà phê bình tài giỏi và kiêu ngạo đệ nhất Trung Hoa này liệu có để tâm đến một thứ phẩm văn chương ?


Nhưng vì lý do gì mà từ lâu văn học sử Trung Hoa không hề nhắc đến Kim Vân Kiều truyện ? Nó đã bị thất truyền ? Nhưng vì sao nó bị thất truyền ? Tôi không biết được. Chỉ biết rằng cho đến năm 1981 người Trung Quốc mới phát hiện ra nó.


Nguyên do là Truyện Kiều của Việt Nam quá nổi tiếng được nhiều nước trên thế giới quan tâm. Trong giáo trình văn học nước ngoài dạy cho sinh viên Trung Quốc, Truyện Kiều của Nguyễn Du được coi là “viên ngọc sáng” của văn học phương Đông. Giới nghiên cứu Trung Quốc đánh giá Truyện Kiều của Nguyễn Du là “tác phẩm lớn vạch thời đại”, là “toàn vẹn không khuyết”. Và khi biết rằng cái truyện đó có nguồn gốc từ Trung Quốc, họ bắt đầu “nóng mặt” lao đi tìm kiếm. Năm 1981, một nhà nghiên cứu nước này tên là Đổng Văn Thành bất ngờ phát hiện một bản Kim Vân Kiều truyện tại Thư viện Đại Liên. Năm 1983, Nhà xuất bản Xuân Phong văn nghệ ấn hành tác phẩm này, từ đó nó mới được biết đến ở Trung Quốc. Giáo sư Đổng Văn Thành đã tiến hành một loạt các nghiên cứu chuyên sâu về Kim Vân Kiều truyện, trong đó có nghiên cứu “So sánh truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”. Bài so sánh này được nhà nghiên cứu Phạm Tú Châu dịch, sau 10 năm “lưu hành nội bộ”, đã in trong cuốn “200 năm nghiên cứu bàn luận truyện Kiều” (NXB Giáo dục, 2005).


Bài nghiên cứu của ông Đổng Văn Thành được thực hiện công phu, đề cao cả Thanh Tâm tài Nhân lẫn Nguyễn Du, tuy nhiên ông lại lấy quan điểm giai cấp pha thêm một chút tư tưởng Đại Hán để chê những chuyện không đáng chê của Nguyễn Du và đề cao những chuyện không đáng đề cao của Thanh Tâm Tài Nhân. Bởi vậy mà những phân tích của Đổng Văn Thành không có sức thuyết phục, khiến người đọc lại định kiến với Thanh Tâm Tài Nhân. Tôi đọc cũng thấy choáng. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi không im lặng được, đã tức khí viết một bài dài “Trở lại câu chuyện so sánh Kim Vân Kiều truyện với Truyện Kiều của ông Đổng Văn Thành” đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học tháng 12-2005, “đấu” trực diện với quan điểm lệch lạc của ông này, để bảo vệ Nguyễn Du.


Thành ra câu chuyện về giá trị thật của Kim Vân Kiều truyện cuối cùng vẫn … để đó, dù cả hai tác phẩm đã được in ra phổ biến rồi. Lẽ đời là vậy, phải bảo vệ “người nhà” trước đã, công bằng với “người ngoài” tính sau. Trăm sự đều do thói hồ đồ của cái ông Đổng Văn Thành này cả, ông ta lại một phen làm hại đến uy tín của Thanh Tâm Tài Nhân. Cũng cần ghi nhận là đã có một số tác giả đã cho giới thiệu song song hai tác phẩm của Nguyễn Du và Thanh Tâm Tài Nhân trong một công trình để người đọc tự đối chiếu, mở đầu cho việc đánh giá công bằng đối với Thanh Tâm Tài Nhân.


Tôi tay ngang trong văn chương, chỉ có thể nói leo tới đó.

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2009

Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (5)

(tiếp theo)

"Công bằng xã hội" : sứ mệnh hay sự giả dối ?

Trong toàn bộ tư tưởng triết học và kinh tế của mình, Hayek không bao giờ đề xuất xây dựng các thiết chế quản lý xã hội, không đề xuất giải pháp “nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế” hay những chuyện đại loại như vậy. Giải pháp của ông đơn giản là : giảm thiểu, loại bỏ sự can thiệp của Nhà nước. Nhà nước càng tránh xa catallaxie (trật tự tự phát) bao nhiêu tốt bấy nhiêu, dù trong bất kỳ tình huống nào.

Nếu đem những tư tưởng của Hayek ra “phản biện”, lấy số đông đè số ít như cách thức thời thượng hiện nay thì ông thua là cái chắc.

Câu chuyện tiến sĩ Ludwig Erhard “lén lút” xóa bỏ những quy định kiểm soát giá cả làm hồi sinh nước Đức (đề cập ở phần trước) trở thành một “điểm nhấn” của lịch sử. Vừa mới nhận nhiệm vụ, Erhard đã nhìn thấy một chỗ sơ hở và lợi dụng nó ngay. Theo “quân pháp”, bất cứ sự thay đổi quy định nào cũng phải được sự phê duyệt của quân Đồng minh, đứng đầu là tướng Mỹ Lucius Clay, nhưng cũng không có sự “chế tài” nào nếu những quy định đó đã bị xóa bỏ trong thực tế. Sau đây là một đoạn đối thoại nổi tiếng giữa tướng Clay và Erhard. Tướng Clay bực dọc : “Ông Erhard, các cố vấn của tôi đã nói với tôi rằng điều mà ông đang làm là một sai lầm tệ hại”. Erhard : “Thưa tướng quân, mặc kệ nó. Các cố vấn của tôi cũng nói như vậy”. Câu chuyện này do Erhard kể lại với Hayek. Hayek đánh giá rất cao Erhard, ông cho rằng thành tựu đó “gần như của chỉ một người”, là Erhard. Ông bình luận : “Hẳn không bao giờ có thể đạt được những gì mà ông (Erhard) đã làm nếu phải chịu những ràng buộc quan liêu hay dân chủ. Một khoảnh khắc may mắn khi một con người thích hợp ở vào một địa vị thích hợp được tự do làm những gì mà anh ta coi là đúng, cho dù anh ta có thể chưa bao giờ từng thuyết phục được bất kỳ ai khác rằng điều đó là đúng”.

Cũng bắt đầu từ việc tháo bỏ rào cản thị trường trong nông nghiệp, mới chỉ cho phép người nông dân được mua bán một phần sản phẩm do họ làm ra thôi, đã là một cú hích vĩ đại để Đặng Tiểu Bình làm thay đổi nước Trung Hoa…

Cũng từ việc “khoán chui” của ông Kim Ngọc và hiệu quả của việc lén lút xóa bỏ ngăn sông cấm chợ, dù thị trường chỉ được khai thông một chút xíu thôi, cũng đủ làm Việt Nam thức tỉnh để bước vào Đổi Mới. Cần biết rằng, vào thế kỷ 16, nhà Mạc ở nước ta đã xóa bỏ ngăn sông cấm chợ, nhưng đầu những năm 80 của thế kỷ 20 tình trạng ngăn sông cấm chợ lại nặng nề đến mức chính ông Võ Văn Kiệt khi “bật đèn xanh” cho bà Ba Thi “xé rào” mua gạo từ đồng bằng sông Cửu Long về cho dân thành phố đang thiếu lương thực đã thốt lên một câu nổi tiếng “Nếu chị ở tù, tôi sẽ đem cơm”.

Lịch sử cho thấy : sự thịnh vượng gắn liền với sự giải thể của chủ nghĩa can thiệp, mức độ thịnh vượng tỉ lệ thuận với khoảng cách tránh xa của Nhà nước đối với thị trường. Chưa bao giờ xảy ra điều ngược lại.

Nhưng Hayek không phải là người tự do vô chính phủ. Theo ông, nhiệm vụ của Nhà nước chung quy lại có mấy việc : Tạo khuôn khổ pháp lý để đảm bảo cho catallaxie vận hành theo trật tự của chính nó (đương nhiên bản thân Nhà nước cũng phải hoạt động trong khuôn khổ pháp lý đó). Nhà nước có quyền cưỡng bức để không ai xâm phạm tự do của người khác. Đó là độc quyền hợp lý duy nhất của Nhà nước và quyền này càng ít sử dụng càng tốt, vì chỉ riêng việc Nhà nước có quyền này cũng đủ để răn đe những kẻ muốn ức hiếp người khác rồi. Dĩ nhiên, Nhà nước còn có nhiệm vụ phòng chống kẻ thù bên ngoài và bảo vệ môi trường sống. Để đảm trách những việc người dân không thể làm được đó, Nhà nước phải thu thuế, thu thuế trong chừng mực đủ để đảm trách những công việc hợp lý này.

Nhà nước cũng có nhiệm vụ cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ công cộng, mà do sự đặc thù của chúng trong những hoàn cảnh nhất định, các lực lượng thị trường không làm được. Tuy nhiên, ngay cả việc cung cấp những dịch vụ đó cũng phải được tiến hành theo một phương thức cạnh tranh : nghĩa là đến khi nào các lực lượng thị trường có thể làm được dịch vụ nào thì Nhà nước phải “rút lui” đối với những dịch vụ đó và trong lúc Nhà nước và thị trường vẫn còn “cùng làm” một dịch vụ thì dứt khoát các dịch vụ đó phải mang tính cạnh tranh.

Nhiều người đã phê phán rằng Hayek muốn bỏ mặc cho “cá lớn nuốt cá bé” khi ông thẳng tay vạch trần sự giả dối của những tuyên bố “công bằng xã hội” – những tuyên bố dẫn đến việc thiết lập các chính sách “an sinh xã hội” và điều tiết thu nhập của Nhà nước “vú em”.

Người giàu, trong phạm vi catallaxie - tức là không phải giàu do dùng các lợi thế chính trị hoặc quyền lực để tước đoạt, chèn ép người khác - thường là những người sáng tạo, những người có ý tưởng và biết khai thác tốt nhất các nguồn lực để làm ra nhiều của cải. Chính họ tạo ra thịnh vượng và thúc đẩy nền văn minh. Tước một phần thu nhập của họ để chia cho người khác vốn đã không công bằng, huống hồ chính sách điều tiết thu nhập thực chất là tước đoạt của người giàu nhưng phần lớn của cải “tước đoạt” được lại không nhằm để giúp đỡ những người bất hạnh nhất. Hayek phản đối điều đó và đề nghị Nhà nước có trách nhiệm đối với những người khốn khó bằng cách thiết lập một mức thu nhập tối thiểu để đảm bảo cuộc sống cho những người tàn tật, những người bất hạnh không có sức lao động và không nơi nương tựa. Đó mới là sự phòng vệ hoàn toàn chính đáng.

Hệ thống phúc lợi đồ sộ và khó hiểu của các nhà nước hiện đại từ lâu đã vượt quá và đi chệch khỏi chức năng bảo vệ người yếu thế. Nó chủ yếu nhằm đáp ứng yêu sách của tầng lớp trung lưu vốn đố kỵ với những người thành đạt nhưng lại mong muốn một cuộc sống khá giả hơn những gì mà tầng lớp này tạo ra. Hơn ai hết, chính tầng lớp này là tác giả của các yêu sách “công bằng xã hội”. Điều nguy hiểm là, cũng chính họ là tầng lớp điều khiển nền dân chủ. Bởi vậy mà theo Hayek, dân chủ chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để bảo đảm cho một xã hội tự do, vì dân chủ cũng có thể xâm phạm đến tự do.

Chỉ riêng việc nhân danh “công bằng xã hội” thôi, bộ máy của một Nhà nước đã có lý do phình to ra rồi. Tiền thuế đáng lý ra chỉ dùng để đảm trách những công việc hợp lý “dân không làm được” như đã nói, Nhà nước lại tự gán cho mình vô số những sứ mệnh “công bằng xã hội”, kéo theo là một bộ máy thực thi những sứ mệnh đó. Lại phải cần thêm tiền để nuôi bộ máy luôn có khuynh hướng phình to ra này. Ngân sách gia tăng, chi tiêu vô tội vạ...

(còn tiếp)