Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2009

Atlas Shrugged của Ayn Rand


Cuốn The Fountainhead (Suối Nguồn - bản dịch của NXB Trẻ) của Ayn Rand tôi đã có bài giới thiệu ở đây. Nhiều thế hệ người Mỹ đã chịu ảnh hưởng cuốn sách này. Đọc Alan Greenspan thấy ông này coi bà Rand là thầy mình. Đọc cuốn Bộ chín bên trong thế giới bí mật của tòa án tối cao Mỹ (The Nine inside the Secret World of the Supreme Court) cũng thấy điều thú vị : Đại thẩm phán Clarence Thomas rất tôn sùng Ayn Rand, đễn nỗi tất cả các thư ký luật mới đến làm việc đều được ông yêu cầu xem bộ phim dựng theo Fountainhead.

Rất tiếc, ở Việt Nam mới chỉ có Nhà xuất bản Trẻ lần đầu tiên in một tác phẩm của Rand. Mong rằng những tác phẩm của bà sẽ được dịch hết ra tiếng Việt.

Cuốn tiểu thuyết Atlas Shrugged là tác phẩm cuối cùng và dài nhất của Rand, những người yêu thích Rand hy vọng sẽ sớm có bản dịch tiếng Việt. Sau đây là một đoạn video phỏng vấn bà Rand được thực hiện năm 1959 sau khi Atlas Shrugged xuất bản (1957) và một đoạn giới thiệu cuốn sách, lấy trên Youtube :




Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2009

Tui đang thèm cháo gà Đo Đo đây


Người ta bảo “trà tam tửu tứ du hành nhị”, còn đi ăn Đo Đo phải mấy người mới đủ bộ thì chưa có tổng kết. Riêng tui thì chưa bao giờ đi ăn một mình.


Từ ngày chị Thu mua dài hạn mỗi ngày 10 tờ Thanh Niên Thể thao&Giải trí cho nhân viên và thực khách đọc, Đo Đo thành khách “sộp” của người đi bán báo là tui đây. Nhưng gần đây ít ra Đo Đo, vì ngày nay tui đã “chuyển công tác khác” nên trưa trưa ít còn ai để rủ ra đó nữa. Thỉnh thoảng thèm Đo Đo phải gọi Nguyễn Nhật Ánh đi cùng, nhưng cha Ánh là đứa ham chơi hơn ham ăn nên cứ 7 lần gọi thì 6 lần nói “kẹt”. Tui không hề có ý định dìm hàng khi nói chả ham chơi và “nói bậy”. Đã viết văn thì phải ham chơi, không ham chơi không viết được. Các văn nhân thi sĩ nổi tiếng kim cổ đông tây đều thế cả. Không chơi thì biết gì đời mà viết, đúng không ?


Nói bậy cũng vậy, không biết nói bậy thì viết văn thế quái nào được. Nhìn Lev Tolstoy coi, ông ta còn nổi tiếng do nói bậy nữa. Tui cũng biết, Nguyễn Nhật Ánh lỡ chọn con đường viết văn cho con nít, nên ham chơi thì thỏa mái nhưng nói bậy trong văn chương thì hơi bị gò bó, chỉ nói bậy được chuyện con nít thôi.


Nhìn cha Ánh nhiều khi thấy tức cười. Một mặt cũng muốn tứ đốm tam khoanh như thiên hạ, một mặt thì hồn nhiên thơ dại, thành thử già không đều. Nhưng cộng lại chia ra thì thành một thằng thanh niên, hehe, cái này là “nâng hàng” rồi đó nhé.


Chiều qua ra Đo Đo được ăn cháo gà. Cháo gà Đo Đo ngon tuyệt. Nhưng phát hiện ra bữa cháo gà này rất thiếu lành mạnh, vì người trả tiền là cha Đỗ Trung Quân thua độ bóng đá. Cha Ánh thắng nên mặt cứ nhơn nhơn, lộ rõ nguyên hình gã Chu Đình Ngạn chuyên nghiên cứu bóng đá để viết bài kiếm cơm. Cha Đỗ Trung Quân lơ mơ hình như chưa biết trái banh có mấy múi, thắng thế nào được lão Chu Đình Ngạn có sạn trong đầu. Từ đây mới biết những cuộc như thế này diễn ra khá thường xuyên, mỗi hôm thành phần có thay đổi nhưng Chu Đình Ngạn và con cừu non Đỗ Trung Quân thì thường trực.


Xin mách thêm, trong những cuộc đó “chúng nó” toàn nói bậy không à, không có chuyện văn chương thơ phú gì cao siêu đâu, hehe. Tại cuộc hôm qua, tui có đóng góp, kể chuyện trước đây tui xem một chương trình hướng dẫn sinh đẻ có kế hoạch của VTV2, thấy người ta chỉ vào hình vẽ bảo cái này là cái gì, cái này chạm vào cái kia gọi là làm gì, nói bằng thứ ngôn ngữ giản dị dễ hiểu của chính nông dân. Tui thề đó là sự thật, nhưng cha Ánh gân cổ lên cãi rằng làm gì có chuyện đó. Chả tưởng những chuyện mấy chả nói trong bữa cháo gà người ta không đưa lên truyền hình được chắc !


Nếu bạn nào chiều chiều ra Đo Đo mà thấy Nguyễn Nhật Ánh nhơn nhơn giữa cuộc cháo gà thì làm ơn gọi tui một tiếng, những cuộc này “chúng nó” không chủ động mời người ngoài đâu, nhưng nếu biết thì có thể đến ăn thoải mái. Tui đang thèm cháo gà đây, hehe.


HOÀNG HẢI VÂN

(đăng trên quandodo.com)

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2009

Con Háu bỗng dưng thắc mắc...


"Bố ơi, tại sao bố không viết về con trên Blog nữa ?", con Háu bỗng dưng thắc mắc. "Ừ ừ...", tui hơi bị cứng họng. Tại sao ? Tại sao ? Con Háu giãy đành đạch một hồi rồi lên đường với "Như chưa hề có cuộc chia ly", niềm say mê vô bờ bến của Háu ta.

Tui cứng họng vì tui đã làm sai "tôn chỉ mục đích". Mục đích chủ yếu khi lập cái Blog này là suy ngẫm về lịch sử và nói chuyện con Háu, nhưng được một thời gian thì con Háu "biến mất" trên Blog của tui.

Người ta thường nghĩ là con nít không thể hiểu được nhiều chuyện người lớn làm. Nhưng tui, kẻ theo trường phái Saint-Ex, có quan niệm ngược lại. Mỗi khi nhìn lên trời lại nhớ đến Hoàng tử bé và nỗi cô đơn của Saint-Ex : lúc ông nghĩ con cừu không ăn bông hoa của Hoàng tử bé, ông thấy bầu trời sáng trong rạng rỡ, còn khi nghĩ đến con cừu đã ăn bông hoa rồi thì bầu trời trở nên u ám.Ông bảo những người lớn không ai hiểu được điều đó đâu.

Con Háu biết tỏng tòng tong vì sao tôi làm sai "tôn chỉ mục đích". Những ý đồ của người lớn, những niềm hứng thú nhơn nhơn và sự khổ đau cay cú của bọn họ thường không đáng giá một xu và làm sao có thể thoát được cặp mắt tinh tường của con nít. Nhưng lượng khoan dung của con nít lại to hơn người lớn. Bởi vậy nên ngoài những lúc mè nheo, con Háu vẫn nhìn sự tầm thường của một người lớn là tui đây bằng cái nhìn độ lượng. Nó bảo : "Sao bố viết cái gì cũng nhất quán thế !". Tui lại chỉ biết ậm ừ. Tui hiểu, tâm hồn tui không còn hồn nhiên như cây cỏ nữa.

Gần đây tui thấy con Háu chơi thân với một người bạn mới. Đó là chú chó con 1 tháng tuổi của chị bán thuốc lá trước cổng báo Thanh Niên. Hàng ngày chú cún ngồi chơi một mình trong tủ thuốc, lúc nào chú mắc tè chị thuốc lá sẽ mở cửa cho ra. Mỗi lần đi qua đây con Háu đều sà vào chơi với chú cún. Nhìn cảnh con Háu thơm nó và nó liếm mặt liếm tai con Háu, tui như thấy từng mảng xơ cứng trong tâm hồn mình rạn nứt, tan chảy.

Chiều hôm qua, con Háu bận đi xa không đến, tui ra đường đến chỗ chị thuốc lá đưa tay cho chú cún con, nhưng nó đứng trơ lỳ không nhúc nhích. Tui thoáng lặng người, cái thoáng lặng người đó không một người lớn nào có thể nhận ra. Nhưng cô bé con chị thuốc lá lại dễ dàng nhìn thấy. Cô bé thương hại động viên tui : "Con cún hiền lắm chú ơi, nó không cắn đâu".

Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2009

Công cụ dân chủ hàng đầu của Tự do


Alexis de Tocqueville (1805-1859), nhà chính trị học vĩ đại người Pháp viết tác phẩm bất hủ “De la démocratie en Amérique” (Nền dân trị Mỹ), xuất bản vào năm 1835 và 1840. Điều lạ lùng là cuốn sách của một người Pháp viết về Mỹ, nó đề cao nền dân trị Mỹ song không ca ngợi một chiều, mà ngược lại còn chỉ ra một cách cụ thể những khiếm khuyết và cảnh báo một loạt vấn đề nảy sinh trong tương lai, nhưng lại được người Mỹ tôn thờ như một thứ “tôn giáo chính trị”, bên cạnh bản Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp Hoa Kỳ. Hơn 170 năm sau ngày cuốn sách được xuất bản, lịch sử Hoa Kỳ và thế giới diễn ra nhiều sự kiện đúng như những lời tiên tri của Tocqueville : hai cuộc đại chiến thế giới, sự phình to của bộ máy nhà nước - từ các loại "kế hoạch hóa" đến New Deal của F.D. Roosevelt, Great Society của L.B. Johnson và các loại Nanny State ở châu Âu... đều là những biểu hiện khác nhau của tình trạng chuyên chế, bức hiếp, hạ thấp tự do cá nhân. Ngay cả điều tưởng như đơn giản, như sự không hạn chế thời gian tái cử tổng thống , ông cũng cảnh báo sự nguy hại của nó từ hơn 1 thế kỷ trước khi nước Mỹ giới hạn lại còn tối đa 2 nhiệm kỳ...


Tự do là khát vọng ngàn đời của con người, khát vọng đó xuyên suốt lịch sử nhân loại cũng như xuyên suốt một đời người. Tagore bảo “trong bụng mẹ, đứa trẻ được tự do lần thứ nhất”, vì ở đó con người không bị can thiệp tùy tiện. Marx từng tuyên bố về một xã hội “từ vương quốc tất yếu sang vương quốc tự do” như là cứu cánh của học thuyết của mình. Cụ Hồ cũng bảo (câu này hình như nhiều người muốn lờ đi không dám nhắc tới) : “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (Báo Cứu quốc 17-10-1945).


Như sau này Friedrich Hayek nhấn mạnh, dân chủ chủ yếu là một phương tiện để bảo vệ tự do cá nhân, nhưng dân chủ chưa phải là một phương tiện chắc chắn, rằng một chính phủ được bầu cũng có thể trở thành một chính phủ độc tài, học thuyết của Tocqueville, về bản chất, là học thuyết về tự do.


Tuy dân chủ mở ra một khung trời mới để nhân loại khôi phục và nuôi dưỡng tự do, nhưng khung trời đó vẫn bị giới hạn. Ngay từ đầu thế kỷ 19, khi laissez-faire đang là chủ đạo, khi toàn bộ quân đội Mỹ lúc đó chỉ có 6000 người, khi kích cỡ bộ máy nhà nước của các nước dân chủ còn rất bé so với hiện nay, bằng những chiêm nghiệm từ nước Mỹ và châu Âu, Tocqueville đã cảnh báo :


Nếu như thời nay mà các quốc gia dân chủ có xác lập được nền chuyên chế, thì hẳn là nền chuyên chế đó sẽ phải có những đặc điểm khác : nó sẽ trải ra trên diện rộng hơn và nó có một dáng vẻ hiền lành hơn nhiều, nó có thể sẽ làm cho con người bị mất phẩm chất người đi, nhưng nó không làm cho lương tâm con người quằn quại đau khổ…


Tôi không hồ nghi chút gì rằng, trong những thời kỳ của ánh sáng và của quyền bình đẳng như thời đại chúng ta, những kẻ cầm quyền tối cao lại dễ dàng làm cho mọi quyền lực công cộng đều tập hợp được vào trong đôi tay mình, và thâm nhập khôn khéo hơn và sâu xa hơn vào các miền lợi ích riêng tư, những điều mà không một kẻ chuyên chế nào của thời Cổ đại có thể làm được…


Tôi muốn hình dung xem sự chuyên chế mới sẽ mang những nét mới nào trong cuộc sống này : tôi nhìn thấy một đám đông vô cùng với những con người giống hệt nhau, họ đang không ngừng quay đầu tìm lẫn nhau ở những thú vui nhỏ bé và thô lậu chất chứa đầy đầu óc họ… Bên trên những con người này là một quyền lực bao la và cũng là thế lực đỡ đầu họ, riêng nó chịu trách nhiệm bảo đảm cho họ có mọi hưởng thụ và chăm lo cho số phận của họ. Quyền lực này là tuyệt đối, chăm lo tỉ mỉ chi tiết, chính quy, nhìn xa trông rộng và mềm mỏng. Quyền lực này sẽ như thể quyền của người cha với người con nếu như mục đích của nó là chuẩn bị cho đàn con lớn khôn mạnh mẽ; nhưng trái lại, quyền lực này chỉ nhằm làm sao cho con cái mãi mãi bị cột chặt vào tuổi ấu thơ; quyền lực này muốn các công dân được hưởng thụ, miễn sao hưởng thụ phải là mục tiêu duy nhất của họ, thế là được. Quyền lực này tình nguyện hoạt động vì hạnh phúc của những con người kia; nhưng nó muốn chỉ có nó tạo ra hạnh phúc đó và quyết định thế nào là hạnh phúc…


Sau khi theo cách đó để lần lượt nắm từng công dân vào đôi bàn tay cực mạnh của mình và nhào nặn nó tùy thích, kẻ cầm quyền tối cao giang rộng đôi cánh tay ra toàn bộ xã hội. Nó bao trùm bề mặt xã hội bằng một hệ thống những quy tắc nhỏ nhặt rắc rối, tỉ mỉ chi tiết và đồng loạt, qua đó ngay cả những đầu óc độc đáo nhất và những tâm hồn mạnh mẽ nhất cũng chẳng thể nào ngoi lên nổi để có thể đi xa hơn toàn bộ đám đông. Nó không bóp nát mọi ý chí con người, nhưng nó làm cho ý chí con người mềm nhũn đi, bắt mọi ý chí phải cúi đầu và điều khiển chúng. Hiếm khi nó bắt buộc con người phải hành động, nhưng nó luôn luôn chống lại khi con người hành động. Nó không thủ tiêu cái gì cả, nó chỉ ngăn chặn sinh sôi. Nó không dùng lối bạo hành với ai hết, nó chỉ gây phiền hà, nó đè nén, nó chọc tức, nó làm tắt ngấm, nó khiến cho con người chỉ còn biết há hốc mồm kinh ngạc…


Các quốc gia dân chủ đã du nhập Tự do vào phạm vi chính trị, đồng thời với việc họ làm gia tăng tính chuyên chế trong phạm vi hành chính, tất cả đều dẫn tới những điểm lạ kỳ. Khi phải tiến hành làm những công việc nhỏ mà chỉ cần thiên lương là đủ, thì họ nghĩ rằng các công dân không đủ sức làm điều đó. Khi sang chuyện cai quản cả một Nhà nước, thì họ lại trao cho cũng các công dân ấy những đặc quyền vô cùng lớn. Lần lượt, họ biến các công dân lúc thì thành những đồ chơi trong tay kẻ cầm quyền tối cao và lúc lại thành các ông chủ của kẻ cầm quyền đó, khi thì to hơn cả các ông vua và khi thì ít hẳn phẩm chất người. Sau khi đã sử dụng cạn kiệt mọi hệ thống bầu cử khác nhau mà vẫn chẳng tìm ra một hệ thống nào thích hợp nhất, họ tỏ ra ngạc nhiên và lại tiếp tục kiếm tìm…


Tật xấu của những kẻ cầm quyền và sự ngu xuẩn của những kẻ bị cai trị sớm muộn sẽ dẫn tai họa tới. Và nhân dân, khi đã mệt mỏi vì những kẻ đại diện mình và vì cả bản thân mình, sẽ tạo ra những thiết chế tự do hơn nữa, hoặc là sẽ sớm quay lại nằm dài dưới chân của một ông chủ duy nhất.


Cảnh báo những nguy cơ của nền dân chủ lấy số đông thống trị số ít, nhưng Tocqueville không hề có ý định khước từ dân chủ để trở lại chế độ “quý tộc trị”, nơi mà “sự thịnh vượng của đại đa số con người bị hy sinh cho sự vĩ đại của vài ba cá nhân”. Vấn đề, theo ông là “làm cho Tự do thoát thân ra từ trong lòng xã hội dân chủ.”.


Tocqueville không “thầm kêu rên cho số phận đồng loại”, ông tin vào Tự do và đưa ra một loạt các giải pháp khắc phục những nguy cơ của nền dân chủ bằng việc phân quyền và giới hạn quyền lực của nhà nước, bằng những bảo đảm tự do cá nhân trong Hiến pháp, bằng sự độc lập của tòa án, bằng các thiết chế tự nguyện của "xã hội dân sự" (sociétés civiles), bằng bằng báo chí tự do, bằng việc phổ cập các giá trị tự do truyền thống…


Đối với báo chí tự do, Tocqueville tự nhận rằng ông “không có được cái tình yêu trọn vẹn” đối với nó, rằng ông yêu báo chí vì “tôn trọng việc nó ngăn chặn được những cái xấu hơn là vì những cái tốt đẹp nó tạo ra”, nhưng từ 170 năm trước ông đã nhìn thấy rõ tầm quan trọng của báo chí trong một xã hội dân chủ. Ông viết :


Cá nhân vào thời dân chủ dễ dàng bị tống ra khỏi bầy đoàn, và anh ta dễ dàng bị xéo dưới chân. Ngày nay, một công dân bị đè nén áp bức chỉ còn có một phương tiện tự vệ, đó là gửi lời kêu gọi tới toàn thể dân tộc; anh ta chỉ có một phương tiện thực thi điều đó, đó là báo chí… Sự bình đẳng làm cho con người xa cách nhau và làm cho con người yếu kém đi; nhưng báo chí đem đặt bên cạnh mỗi con người hèn yếu đó một vũ khí cực mạnh mà kẻ yếu nhất và kẻ bị xa lánh nhất cũng đều có thể đem sử dụng. Quyền bình đẳng tước đi mất của mỗi cá nhân khả năng hỗ trợ những kẻ có chung số phận; nhưng báo chí cho phép kêu gọi tất cả các công dân và đồng loại tới ứng cứu…


Để bảo đảm có độc lập cá nhân cho những con người sống ở các quốc gia dân chủ này, tôi chẳng tin cậy vào những cuộc đại hội nghị chính trị, cũng chẳng tin gì vào những quyền hành của nghị viện, và chẳng tin gì hết vào tuyên ngôn về chủ quyền tối thượng của nhân dân.


Tất cả những trò đó trong chừng mức nào đó đều có thể dung hợp được với sự nô lệ của cá nhân con người; nhưng có tự do báo chí thì cảnh nô lệ đó sẽ không diễn ra hoàn toàn được. Báo chí là công cụ dân chủ hàng đầu của Tự do.


Và như vậy là, cũng theo Tocqueville, cho dù có tự do báo chí thì nguy cơ của nền dân chủ số đông thống trị số ít, mà một trong những nguy cơ đó là cảnh nô lệ, cũng mới chỉ “không diễn ra hoàn toàn” mà thôi. Nhưng không có tự do báo chí thì dứt khoát không được.

____________

(Những đoạn trích của Tocqueville theo cuốn : Nền Dân trị Mỹ, bản dịch tiếng Việt của Phạm Toàn, NXB Tri Thức, Hà nội, 2008)

Thứ Năm, 21 tháng 5, 2009

Người nổi tiếng và báo chí


Trong những ngày này báo chí Anh đang phanh phui tình trạng lạm dụng công quỹ trong Hạ viện (xin nói thêm, Hạ viện Anh là cơ quan có thực quyền cao nhất nước này). Những bê bối tiền nong to nhỏ từ đương kim Thủ tướng cho đến các dân biểu đều được tung hê lên mặt báo. Vụ này khiến Chủ tịch Hạ viện từ chức, một số chính khách khác cũng đã và sẽ từ giã chính trường. Dĩ nhiên, không có “cơ quan chức năng” nào của Anh quốc dám cản làn sóng báo chí. BBC, một hãng truyền thông “quốc doanh”, cũng cập nhật đầy đủ thông tin cho công chúng trong và ngoài nước biết (BBC tiếng Việt xem tại đây. Tài liệu đầy đủ về vụ bê bối bằng tiếng Anh có thể xem tại theyworkforyou.com - theo giới thiệu trên Blog của A Reader - A Traveller). “Người của công chúng” tất phải đương đầu với búa rìu dư luận, đó là tập tục bình thường ở các nước Âu-Mỹ.


Tôi không rõ luật pháp nước Anh “xử lý” như thế nào trong trường hợp báo chí đưa tin sai, chỉ biết Sở Cảnh sát London vừa tuyên bố không điều tra về việc ai đã tiết lộ tài liệu về chi tiêu của các dân biểu cho Daily Telegraph – nhật báo đầu tiên phanh phui vụ bê bối.


Ở nước Mỹ thời điểm hiện tại không có vụ bê bối lớn nào đáng nói, nhưng không phải vì vậy mà kém phần vui nhộn. Nhiều tờ báo liên tục chỉ trích các chính sách của đương kim tổng thống Obama, trong đó có “gói kích thích kinh tế” 787 tỷ USD, cái “gói” này thuộc hàng “chủ trương chính sách lớn” của Nhà nước. Báo chí nói gì mặc kệ, việc của Nhà nước Nhà nước cứ làm. Đó cũng là tập tục bình thường, không đáng bàn luận.


Nhưng báo chí mà phỉ báng cá nhân thì sẽ có luật "điều chỉnh". Luật pháp Mỹ đối với vấn đề này rất thú vị, nó “phân biệt đối xử” giữa cá nhân bình thường và cá nhân người nổi tiếng.


Nước Mỹ không có luật báo chí. Toàn bộ hoạt động báo chí ở Mỹ chỉ được “điều tchỉnh” bởi một điều khoản duy nhất, nói chính xác hơn là được “ghép” trong một điều khoản này, đó là Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp Mỹ (The first Amendment) : “Quốc hội sẽ không ban hành đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, hoặc hạn chế tự do ngôn luận hay báo chí hoặc quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình” (Congress shall make no law respecting an establishment of religion, or prohibiting the free exercise thereof; or abridging the freedom of speech, or of the press; or the right of the people peaceably to assemble, and to petition the Government for a redress of grievances). Như lời văn của nó chỉ rõ, The first Amendment chỉ "răn đe" chính quyền, không "răn đe" báo chí.


Nhưng Tu chính án thứ nhất chỉ là một khái niệm chung chung mơ hồ nếu các quan tòa không độc lập và không biết cách đưa nó vào cuộc sống. Và thực tế là từ khi có Tu chính án này cho đến năm 1964, tức là trong một thời gian rất lâu, Tối cao pháp viện Hoa Kỳ chưa bao giờ áp dụng nó để bảo vệ báo chí.


Quá trình đưa Tu chính án này vào cuộc sống có một lịch sử lâu dài. Thời thuộc địa (chưa có Hiến pháp Mỹ), việc phỉ báng quan chức dù nội dung đó có đúng hay không đều phạm tội. Vào năm 1734, khi Hoa Kỳ vẫn còn là thuộc địa của Anh, có một vụ án lịch sử, đó là vụ Zenger. John Peter Zenger, một chủ báo ở New York đã cho đăng bài trên tờ New York Weekly Journal của mình, công kích viên Thống đốc Hoàng gia Anh tại đây, cho ông này là bất tài và nhận hối lộ. Zenger đã phải vào tù vì tội phỉ báng. Nhưng người bào chữa cho Zenger, luật sư Andrew Hamilton, đã làm nên một chuyện mang tính lịch sử khi ông chứng minh những lời “phỉ báng” của Zenger là không sai và đã thuyết phục tòa án tuyên bố Zenger vô tội. Vụ Zenger đã tạo ra một tiền lệ về pháp lý quan trọng : Từ đây, trong những vụ kiện về tội phỉ báng (ngày nay đều là các vụ kiện dân sự), nguyên đơn chỉ có thể thắng kiện nếu chứng minh được lời phỉ báng đó là sai sự thật. Đó là bước tiến lớn về quyền tự do ngôn luận ngay giữa chế độ thuộc địa mà giá trị pháp lý của nó tồn tại đến ngày nay. Tuy nhiên, các vụ kiện cáo về lĩnh vực này vẫn được các tòa án xét xử theo luật của từng bang, không thống nhất trên toàn quốc.


Một bước ngoặt mang tính cách mạng về quyền tự do ngôn luận diễn ra vào năm 1964 khi Tối cao pháp viện thụ lý một vụ án lịch sử : Vụ New York Times kiện Sullivan. Vụ kiện xuất phát từ một trang quảng cáo đăng trên tờ New York Times của một số mục sư nhằm quyên tiền để bào chữa cho nhà hoạt động nhân quyền lừng danh nước Mỹ - mục sư Martin Luther King, sau khi ông bị bắt giam. L.B Sullivan, người phụ trách Sở cảnh sát thành phố Montgomery, bang Alabama, cho rằng nội dung quảng cáo đã nói không đúng về các hành vi của lực lượng cảnh sát và phỉ báng mình, nên đã kiện New York Times và các mục sư ra tòa án. Xét thấy nội dung quảng cáo có một số thông tin không đúng, tòa án đã quyết định cho Sullivan thắng kiện, buộc các bị đơn phải bồi thường cho ông này 500 ngàn USD. New York Times và các mục sư đã kháng cáo lên Tối cao pháp viện.


Tòa tối cao cho rằng không thể dùng các quy định điều chỉnh về tội phỉ báng để áp đặt hình phạt đối với việc phê phán hành vi ứng xử của các công chức, rằng dù nội dung phê phán có sai sót nhưng việc yêu cầu những người phê bình các quan chức phải bảo dảm độ chính xác trong phát biểu của họ là hành động “tự kiểm duyệt”. Tòa cũng cho rằng, những công chức Nhà nước muốn thắng kiện trong trường hợp này không chỉ phải chứng minh những nội dung được đăng tải là sai mà còn phải chứng minh những người đăng tải nội dung này là “có ác ý”, nhưng tòa nhận thấy rằng không có bằng chứng nào chứng tỏ tờ New York Times và các mục sư đã “có ác ý” khi đăng nội dung đó. Vì vậy, Tòa tối cao phán quyết New York Times và các mục sư thắng kiện.


Phán quyết của Tối cao pháp viện Hoa Kỳ trong vụ án lịch sử này có giá trị như một điều luật, và hơn thế nữa, nó có giá trị ngang với một điều khoản của Hiến pháp, để từ thời điểm này áp dụng cho tất cả các vụ kiện về tội phỉ báng : một nguyên đơn là quan chức Nhà nước muốn thắng kiện nhất thiết phải chứng minh rằng những lời phỉ báng của bị đơn là sai, đồng thời phải chứng minh được cái sai đó là “có ác ý”.


Ngoạn mục hơn, là “án lệ” của vụ New York Times kiện Sullivan không chỉ dành cho các quan chức nhà nước mà còn được Tối cao pháp viện mở rộng luôn cho những “nhân vật của công chúng”, bao gồm các ngôi sao giải trí, các nhà văn nổi tiếng, các vận động viên thể thao và những người “thường xuyên thu hút sự quan tâm của giới truyền thông”.


Như vậy là tại nước Mỹ, người bình thường kiện báo chí về tội bôi nhọ chỉ cần chứng minh việc bôi nhọ đó không đúng sự thật là thắng kiện, nhưng những người nổi tiếng thì khác. Người nổi tiếng muốn thắng kiện phải chứng minh 2 việc : thông tin sai và thông tin “có ác ý”. Phê phán những người nổi tiếng mà không đúng sự thật nhưng không “có ác ý” thì luật pháp nước Mỹ “chấp nhận được”.


Tất nhiên về mặt đạo lý thì không nên, nhưng những nhà lập quốc và các đại thẩm phán Hoa Kỳ đã tiên liệu những hạn chế có thể có về tự do ngôn luận, nên đã biết cách phòng ngừa. Bởi vậy mà phán quyết của Tối cao pháp viện trong vụ New York Times kiện Sullivan được coi là một phán quyết “mở rộng tự do ngôn luận”.


Làm một quan chức, làm một người nổi tiếng ở Mỹ quả là khó hơn làm một người bình thường, do vậy mới có "văn hóa từ chức", do vậy mới không khuyến khích thói háo danh.


Tham khảo :

+Website BBC.

+Hiến pháp Hoa Kỳ và các tài liệu liên quan về lịch sử tòa án và lịch sử báo chí Mỹ.

________

Bài liên quan :

*Tự do ngôn luận Mỹ từng góp phần ngăn chặn chiến tranh Việt Nam

*Sự kiện báo chí lớn nhất thế kỷ 20