Thứ Năm, 16 tháng 6, 2011

Thứ Ba, 14 tháng 6, 2011

Bí ẩn trầm hương (1)

Trên thế giới, giá bán cao nhất 1 kg trầm hương có thể lên tới 160 triệu đồng, còn giá 1 kg kỳ nam thì lên đến mức hoang tưởng: 7 tỉ đồng. Sự kỳ dị đó của giá cả, cộng với sự thiếu trách nhiệm trong quản lý tài nguyên thiên nhiên đã khiến cho trầm hương vốn không bao giờ thiếu trên rừng núi chúng ta suốt hơn 4.000 năm qua, đã gần như bị tuyệt chủng chỉ trong vòng 35 năm.

Kỳ 1: Vài dòng lịch sử

So với giá cả trên mây xanh thì những tri thức về trầm hương vẫn còn dưới mặt đất. Người ta biết quá ít về nó. Tri thức về trầm hương nghèo nàn đến mức sách vở chỉ trích qua trích lại 2 tài liệu, xưa nhất là của Lê Quý Đôn (Phủ biên tạp lục), gần nhất là của Đỗ Tất Lợi. Còn tài liệu khoa học trên thế giới thì chủ yếu nói về đặc tính của cây dó, liệt kê các hoạt chất và một số dược lý của trầm, chưa ai nói được cặn kẽ trầm được hình thành như thế nào, có những giá trị độc đáo gì mà giá của nó mắc đến như vậy.

“Trong đau thương dó biến thành trầm”, tôi từng đọc ở đâu đó câu thơ này, nó khiến ta suy tư về lẽ sinh tồn của đời người. Trầm đã hình thành đúng như thế. Khi nào thân cây dó bị một vết thương (do va đập, do bị côn trùng đục, bị bom đạn...), xung quanh vết thương đó lâu ngày biến thành trầm. Vì hiểu được “nguyên lý” này nên ngày nay người ta có thể làm trầm “nhân tạo”, tức là trồng cây dó rồi tạo ra vết thương, cấy hóa chất vào để gây tác động cho ra trầm. Đến nay, nhiều người đã trồng dó và đã lấy được trầm theo phương pháp trên, tuy trầm nhân tạo có mùi thơm của trầm nhưng giá trị như thế nào thì vẫn còn mù mờ.

Thực ra, tôi không quan tâm mấy đến trầm hương, ngoài sự liên tưởng về cái “đau thương” nói trên. Cho đến khi tôi gặp được một kỳ nhân dụng trầm tôi mới hiểu sự “đau thương” đó có quá nhiều bí ẩn.

Đó là ông Nguyễn Phúc Ưng Viên. Là cháu nội hoàng tử thứ 12 con vua Minh Mệnh, ông Ưng Viên gọi vua Minh Mệnh bằng ông cố. Theo “đế hệ thi” của vua Minh Mệnh thì hàng “Ưng” ngang với vua Hàm Nghi và là hàng ông nội của vua Bảo Đại. Hàng “Ưng” nay chỉ còn vỏn vẹn 3 vị: ông Ưng Linh hiện ở Đà Nẵng gần 90 tuổi, ông Ưng Ân ở Huế gần 80, ông Ưng Viên trẻ nhất, mới xấp xỉ 70. Giải thích về thứ bậc và tuổi tác của mình trong dòng họ, ông bảo: “Tôi thuộc dòng thứ”.

Ông Ưng Viên sống ở TP.HCM như một ẩn sĩ âm thầm chữa bệnh cứu người. Từng có thời gian tiếp cận khá sâu vào ngành y của người Mỹ, nhưng ông không theo nghề bác sĩ mà chuyên tâm ứng dụng thuốc nam - xin lưu ý là thuốc nam chứ không phải thuốc bắc. Cả nhà ông không bao giờ sử dụng thuốc tây, kể cả đối với những vật nuôi như con heo con gà. Ông bảo dân tộc Việt từ một nhóm nhỏ mấy ngàn người, đã dựa vào thiên nhiên mà sống, mà sinh sôi phát triển mà mở rộng bờ cõi, đến nay đã lên tới hơn 80 triệu người, dân tộc đó ắt phải biết cách phòng và chữa bệnh bằng chính những gì mình có. Thuốc tây mới du nhập vào khoảng 150 năm nay thôi. Thế giới có biết bao nhiêu là trận dịch chết người hàng loạt, còn trong suốt chiều dài lịch sử của mình, Việt Nam có một trận dịch nào khiến nhiều người chết không? Chết hàng loạt vì đói thì có, còn chết hàng loạt vì dịch thì không.


Cây trầm ở độ cao 1.500m trong dãy Yang Sin (Buôn Ma Thuột) trên 100 năm tuổi, mật độ nhiễm trầm 80% được ông Ưng Viên tạc thành tượng Phật. Tượng cao 2,82m, chu vi đế 3m - Ảnh: Ưng Viên

Ông cũng không coi trọng thuốc bắc bằng thuốc nam. Ông bảo từ ngàn năm trước người Việt hằng năm phải cống nạp các thầy thuốc giỏi cho Trung Quốc. “Dòng họ tôi, chỉ riêng thời nhà Đinh đã phải cống nạp đến 18 thầy thuốc giỏi sang Tàu”, ông nói.

La sơn phu tử Nguyễn Thiếp đã từng nhắc vua Quang Trung rằng nước Nam ta sẽ còn phụ thuộc vào Trung Quốc chừng nào vẫn còn phụ thuộc vào thuốc bắc.

Tổ chức Y tế thế giới ngày nay cũng khuyến nghị loài người nên áp dụng những thức ăn - dược liệu hữu ích của các dân tộc có lịch sử lâu đời để chăm sóc sức khỏe. Việc sử dụng tảo Spirulina từ châu Phi cho cả thế giới là một minh chứng.

Tôi phải giới thiệu sơ qua một chút “lý lịch” của ông Ưng Viên, không phải để nhấn mạnh cái gốc hoàng tộc của con người này, mà vì nó liên quan đến tư cách “dụng trầm” và y thuật của ông. Mọi người đều biết, Lê Quý Đôn ở Đàng Ngoài, mà trầm thì xuất từ Trung Bộ, nên dù là một nhà bác học nhưng Lê Quý Đôn chỉ có thể khảo sát qua tư liệu cổ và hỏi thêm một số người khai thác trầm để viết sách, ông không thể có cơ hội trải nghiệm với trầm. Còn nhà Nguyễn, chính là gia tộc dụng trầm số 1, tính từ Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên) trở đi.

Có những cuộc tương ngộ làm nên lịch sử. Riêng cuộc tương ngộ giữa Nguyễn Hoàng và Nguyễn Bỉnh Khiêm thì làm nên một cuộc xoay trời chuyển đất. Đọc sử sách ta chỉ biết đến lời khuyên nổi tiếng “Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân” mà Nguyễn Bỉnh Khiêm nói với Nguyễn Hoàng, nghe lời khuyên đó mà họ Nguyễn được bảo toàn để cho Việt Nam có thêm một nửa giang sơn gấm vóc. Nhưng không lẽ Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ giúp cho Chúa Tiên một lời khuyên thôi sao? Sử sách không ghi thêm điều gì nữa. Sử sách cũng chỉ cho biết Nguyễn Bỉnh Khiêm là ông Trạng Trình tinh thông dịch số, là nhà nho yêu nước thương dân, là một ẩn sĩ “thu ăn măng trúc đông ăn giá”, là một nhà tiên tri. Chỉ là nhà tiên tri sao có thể khiến được cả ba nhà Mạc, Trịnh, Nguyễn đều đến xin tham vấn trong những thời điểm ngặt nghèo? Nhà tiên tri, dù nổi tiếng đến đâu cũng chỉ có thể thuyết phục được người thường, đâu có thể khiến nổi các bậc đế vương đem sự nghiệp tiền đồ của mình mà gửi gắm. Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn còn là sự bí ẩn của lịch sử.

Cho đến một buổi trưa ông Ưng Viên đãi tôi ăn món thịt dê do chính ông nấu. Tôi chưa bao giờ được ăn món thịt dê ngon như vậy. Nó ngon dĩ nhiên là do sự thiện nghệ của người nấu, nhưng nó còn ngon hơn vì câu chuyện được nghe. Ông Ưng Viên nói một trong những thứ mà Chúa Tiên mang vào Nam là những đàn dê, việc này do chính Nguyễn Bỉnh Khiêm đề nghị. Dê là con vật độc đáo, không những có giá trị y thực phục vụ sức khỏe cho dân chúng, mà còn rất tiện ích cho hậu cần quân sự. Dê dễ nuôi, có thể dẫn các đàn dê theo quân, khi có chiến sự chúng ở đâu nằm im ở đó không chạy nhặng xị như trâu bò gà vịt, lại dễ phân phối trong quân, một con dê có thể phục vụ gọn bữa ăn cho một “tiểu đội”. Cha ông của ông Ưng Viên dặn dò con cháu ngoài việc nhớ ơn và thờ phụng tổ tiên mình, còn phải nhớ ơn và thờ phụng Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bởi Nguyễn Bỉnh Khiêm là người đề xuất với Chúa Nguyễn từ chiến lược chiến thuật, từ chuyện quân cơ, hậu cần cho đến những chuyện cụ thể liên quan đến bảo vệ sức khỏe cho quân dân như món ăn, bài thuốc để làm hành trang Nam tiến. Trong đó có chuyện “dụng trầm”.

Nhà Nguyễn để lại nhiều di sản, có thứ để lại cho lịch sử, có thứ chỉ để lại cho con cháu. Những ai nói công thức rượu Minh Mệnh đã bị thất truyền là nhầm to. Hoàng tử Vĩnh Giu con vua Thành Thái, thuộc hàng cháu nội ông Ưng Viên, lúc khốn khó đã bỏ rượu cho các nhà hàng để sinh sống, đó là rượu Minh Mệnh chính hiệu. Ông Ưng Viên cho hay ông Vĩnh Giu có giữ bí quyết làm men nhưng không biết làm rượu, chính ông đã làm rượu giúp cho ông Vĩnh Giu. Rượu cung đình nhà Nguyễn có tới 175 dòng men, hơn 3.000 loại rượu. Ông Vĩnh Giu lưu giữ được 30% dòng men, ông Ưng Viên giữ được 70%. Chỉ riêng hai ông gộp lại cũng đã đủ 175 dòng, không có dòng men nào thất truyền cả, chỉ có điều là chúng không được truyền ra ngoài.

Còn việc dụng trầm thì kế thừa tri thức của tiền nhân do Nguyễn Bỉnh Khiêm truyền lại, nhà Nguyễn đã có gần 400 năm ứng dụng trầm hương trong y học và đời sống, kể cả phục vụ quốc phòng, rồi hoàn thiện pho y lý về trầm hương, đồng thời có chính sách hữu hiệu bảo vệ triệt để nguồn tài nguyên trân quý ấy. Ông Ưng Viên kế thừa đủ di sản dụng trầm của dòng họ, do ông nội ông truyền lại, những bí quyết đó cũng không truyền ra ngoài. (Còn tiếp)

Hoàng Hải Vân
(Bài đăng trên Thanh Niên, 3-01-2011)

Thử lật lại "vụ án" Trần Thủ Độ giết hết tôn thất nhà Lý

Nhà Lý và nhà Trần đều có công lớn đối với lịch sử dân tộc. Tuy nhiên mỗi lần đọc sử sách lại thấy “cộm” lên câu chuyện Trần Thủ Độ “giết hết” tôn thất nhà Lý. Hãy thử lật lại “vụ án” này.

Đúng là Đại Việt sử ký toàn thư có ghi :

“(Năm 1226)… Mùa thu, tháng 8, ngày mồng 10, Trần Thủ Độ giết Lý Huệ Tông ở chùa Chân Giáo.

Trước đó, Thượng hoàng nhà Lý có lần ra chơi chợ Đông, dân chúng tranh nhau chạy đến xem, có người thương khóc. Thủ Độ sợ lòng người nhớ vua cũ, sinh biến loạn, cho dời đến ở chùa Chân Giáo; bề ngoài giả vờ là để phụng sự, nhưng bên trong thực ra là để dễ bề giữ chặt.

Có lần Thủ Độ qua trước cửa chùa, thấy Huệ Tông ngồi xổm nhổ cỏ, Thủ Độ nói: “Nhổ cỏ thì phải nhổ cả rễ sâu”.

Huệ Tông đứng dậy, phủi tay nói: “Điều ngươi nói, ta hiểu rồi”.

Đến nơi, sai người bày biện hương hoa đến bảo (Huệ Tông): “Thượng phụ sai thần đến mời”.

Thượng hoàng nhà Lý nói: “Ta tụng kinh xong sẽ tự tử”.

Nói rồi vào buồng ngủ khấn rằng: “Thiên hạ nhà ta đã về tay ngươi, ngươi lại còn giết ta, ngày nay ta chết, đến khi khác con cháu ngươi cũng sẽ bị như thế”.

Bèn thắt cổ tự tử ở vườn sau chùa.

Thủ Độ ra lệnh cho các quan đến khóc, khoét tường thành phía nam làm cửa (người bấy giờ gọi là “cửa khoét”), đưa linh cữu ra phường Yên Hoa để thiêu, chứa xương vào tháp chùa Bảo Quang, tôn miếu hiệu là Huệ Tông…”.

Đoạn sử trên đây có nhiều điều cần bàn.

Thứ nhất, từ hai câu đối đáp giữa Trần Thủ Độ và Lý Huệ Tông, đến Lý Huệ Tông tự tử, để nói Trần Thủ Độ giết Lý Huệ Tông là không thỏa đáng.

Thứ hai, lời khấn của Lý Huệ Tông trong phòng ngủ nếu có thì chỉ có Lý Huệ Tông biết và chắc chắn không đem ra kể lại, thế thì tại sao có người biết mà ghi ? Hơn nữa, Trần Thái Tông là con rể của mình, con cháu họ Trần sau này cũng chính là con cháu của Lý Huệ Tông, sao ông nỡ có lời khấn như vậy được. Cả hai câu đối đáp ở trên cũng có khả năng là sự đồn đại, không thể có xuất xứ từ một tài liệu tin cậy. Cần biết, do bối cảnh Đại Việt sử ký toàn thư được biên soạn vào thời Lê sau khi nhà Minh tiêu hủy gần hết sách vở tài liệu của các đời trước, vua Lê Thánh Tông đã cho phép sử quan tập hợp tất cả truyền thuyết, dã sử và các câu chuyện kể trong dân gian vào sử sách, nên có khả năng những đoạn như thế này được lấy từ những câu chuyện hư cấu.


Hổ đá tại lăng Thái sư Trần Thủ Độ (Thái Bình) - Ảnh: T.L

Đại Việt sử ký toàn thư ghi tiếp :

"(Năm1232)… Trần Thủ Độ giết hết tôn thất nhà Lý.

Khi ấy Thủ Độ chuyên chính lâu ngày, đã giết Huệ Tông, tôn thất nhà Lý đều bùi ngùi thất vọng.

Mùa đông năm ấy, nhân người họ Lý làm lễ tế các vua Lý ở Thái Đường, Hoa Lâm, Thủ Độ ngầm đào hố sâu, làm nhà lên trên, đợi khi mọi người uống rượu say, giật máy chôn sống hết”.

Tiếp theo đoạn này, Đại Việt sử ký toàn thư mở ngoặc: “Xét thời Trần Anh Tông còn có người họ Lý làm tướng, hơn nữa Phan Phu Tiên không ghi lại, việc này chưa chắc đã có thực, hãy tạm chép vào đây”.

Ngày nay một “nghi án” mà không có tài liệu, không có “nhân chứng vật chứng” thì không thể kết tội, không kết tội được thì phải tuyên bố đương sự vô tội. Sử sách cũng vậy thôi, đã ghi một điều thì phải có nguồn dẫn tin cậy. Vấn đề là lâu nay khi giáo dục truyền bá lịch sử người ta thường không lưu ý đến câu mở ngoặc này của Ngô Sỹ Liên. Khi nghiên cứu lịch sử, nhiều nhà nghiên cứu cũng không để ý đến bối cảnh có chỉ dụ của Lê Thánh Tông.

Để làm rõ hơn mối quan hệ kế thừa giữa nhà Trần và nhà Lý, có thể dẫn thêm một nguồn khác. Đó là An Nam chí lược của Lê Tắc. Dù Lê Tắc là người “có vấn đề”, nhưng An Nam chí lược chứa đựng những sử liệu hết sức quý giá, là cuốn sử cổ nhất của nước ta viết từ thời nhà Trần đến nay còn truyền bản.

Đề cập đến Lý Huệ Tông và Trần Thừa (cha Trần Thái Tông), An Nam chí lược viết:

“(Trần) Thừa có công đánh giặc, xin cho con kết hôn với công chúa Chiêu Thánh. Vương (Lý Huệ Tông) bằng lòng”. Đến đoạn nói về Lý Chiêu Hoàng, An Nam chí lược viết: “Lên ngôi được một năm, năm Canh Dần (1230) trao quốc chính cho chồng là Trần Nhật Cảnh”.

Và An Nam chí lược có một đoạn rất quan trọng: “Lúc nhà Lý truyền ngôi được ba đời, Vương Võ Xứng nhà Tống làm sách Đông Đô sử lược Giao Chỉ phụ lục có đoạn : (…) Nay họ Lý truyền ngôi tám đời 220 năm. Huệ Tông không con, truyền nước cho rể. Đến nay họ Lý vẫn được tế tự luôn luôn, kể sự may thì may biết bao nhiêu”.

Dẫn như vậy để thấy nhà Trần đã kế thừa ngôi nhà Lý một cách danh chính ngôn thuận, không có lý do để “nhổ cỏ tận gốc”. Trần Thủ Độ, Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông… đều là những anh hùng có công với nước, đặc biệt có có công trạng lẫy lừng trong cuộc kháng chiến chống đội quân xâm lược mạnh nhất hành tinh lúc bấy giờ là quân Nguyên - Mông. Không thể vì những đoạn sử thiếu căn cứ mà làm tổn hại đến uy danh của tiền nhân.

Đối với Trần Thủ Độ, ông một tay quán xuyến cơ nghiệp nhà Trần trong buổi đầu, dù quyền hành “nghiêng nước” nhưng ông quang minh lỗi lạc, chí công vô tư, dù cho hết lòng bảo vệ nhà Trần ông cũng không thể dùng thủ đoạn lừa dối để giết người bừa bãi như vậy được.

Vả lại, Trần Thái Tông là con rể của Lý Huệ Tông và Trần Thánh Tông chính là cháu ngoại của Lý Huệ Tông. Nhà Trần, kể từ Trần Thánh Tông có một nửa dòng máu của họ Lý. Cho nên nói “Họ Lý vẫn được tế tự luôn luôn” là có cơ sở.

Hoàng Hải Vân

(Bài đăng trên Thanh Niên)

Hoàng Thành Thăng Long, quá khứ và tương lai (3)

Hà Nội ngày sau (xem tại đây)

Hoàng Thành Thăng Long, quá khứ và tương lai (2)

Vì sao Hoàng Thành bị chôn vùi ? (Xem tại đây)

Chủ Nhật, 17 tháng 10, 2010

Hoàng Thành Thăng Long, quá khứ và tương lai (1)

Lần theo những chi tiết ghi trong sử sách kết hợp với những tài liệu mới nhất về cổ địa chất, chúng ta có thể hình dung rõ hơn quá trình hình thành, phát triển và lý do bị chôn vùi của Hoàng thành Thăng Long (Hoàng thành); đồng thời cũng cung cấp thêm những căn cứ cho việc phát triển thủ đô...

Ai khai sinh ra thành Đại La ?

Trong Chiếu dời đô bất hủ, Lý Công Uẩn viết:

“...Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời...”.

Nghìn năm trôi qua thời gian đã khẳng định tầm nhìn của Lý Thái Tổ.

Chi tiết “nhạy cảm” trong đoạn trích ở trên là ông đã nhắc đến Cao Biền mà ông trân trọng gọi là “Cao Vương”. Nhiều nhà nghiên cứu lấy làm tiếc rằng áng văn này chưa mạnh mẽ dứt khoát bằng Bình Ngô đại cáo hay Nam quốc sơn hà vì có chỗ “khuyết” đó.

Bởi Cao Biền tuy được sử sách nước ta nhìn nhận theo nhiều cách khác nhau nhưng trước hết ông ta vẫn là một viên quan đô hộ.


Lý Nam Đế là vị vua đầu tiên đóng đô ở nơi mà sau này Lý Thái Tổ dời đô đến, nơi trở thành Thăng Long - Hà Nội 1.000 năm.


Người Việt Nam cho đến nay dù ít dù nhiều đều có nghe những câu chuyện huyền thoại hư hư thật thật về nhân vật này. Chúng đã được ghi lại trong Lĩnh Nam chích quái Việt điện u linh. Người ta bảo Cao Biền thường cưỡi diều giấy đi khắp nơi xem xét các hình thế đất đai sông núi, nơi nào có “long mạch” thì dùng bùa phép yểm đi. Ở nước ta hiện vẫn còn lưu truyền một số sách địa lý phong thủy được cho là do Cao Biền viết, như Cao Biền di cảo, Cao Biền địa cảo tập, An Nam địa cảo lục. “Đời Đường Ý Tông (860 - 873)... Nghĩ đến việc Triệu Đà xưng đế, vua bèn sai Thái sử Cao Biền làm đô hộ An Nam. Khi Biền sắp ra đi, vua triệu vào điện bảo: “Trẫm nghe An Nam có nhiều ngôi đất thiên tử, ngươi tinh thâm về địa lý, nên hết sức yểm đi và vẽ hình thế đất ấy đem về cho trẫm xem”. Biền đến An Nam, dạo qua sông núi nào tốt thì đều yểm cả. Biền có làm tờ tấu tâu rằng chỉ có núi Tản Viên là rất thiêng, yểm không được, nên không đụng đến” (trích lời tựa Cao Biền di cảo, dẫn theo Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo VN tập II).

Có lẽ do bản năng chống ngoại xâm luôn luôn trỗi dậy mạnh mẽ trong dân gian, nên đi kèm từng chuyện “trấn yểm” của Cao Biền là những sự tích linh thiêng địa linh nhân kiệt làm cho họ Cao phải nể sợ, như chuyện thần núi Tản Viên, sự tích đền Bạch Mã, chuyện Cao Lỗ, sự tích núi Cánh Diều... Không thể xác minh những sách vở được lưu truyền trên có phải là của Cao Biền thật hay không, chỉ biết chắc rằng sử sách Trung Quốc hoàn toàn không ghi những chuyện đó. Nhưng truyền thuyết cũng đã bị đáp trả bằng truyền thuyết.


Khai quật Hoàng thành Thăng Long năm 2004 - Ảnh: Lưu Quang Phổ

Chuyện Cao Biền “trấn yểm” cũng gặp phải sự phản kháng quyết liệt của các cao tăng Phật giáo, điều này được ghi lại trong Thiền uyển tập anh, một trong 3 cuốn sách cổ nhất viết từ thời nhà Trần còn truyền bản đến ngày nay (2 cuốn kia là Việt điện u linh Lĩnh Nam chích quái). Thiền uyển tập anh đã ghi lại lời của một thiền sư - Trưởng lão La Quý (852 - 936) dặn đệ tử trước khi viên tịch: “Trước kia, Cao Biền xây thành ở Tô Lịch, biết đất Cổ Pháp ta có khí tượng đế vương, nên đã đào đứt sông Điềm và những ao Phù Chẩn... đến 19 chỗ để trấn yểm. Nay ta đã khuyên Khúc Lãm lấp lại như xưa...”.

Nhưng chính sử thì “án phải tự hồ sơ”, nên đã có cái nhìn hơi khác.

Không giống như Sỹ Nhiếp (người có tổ tiên 6 đời ở nước ta, nên thực chất là một người Việt), Cao Biền chính hiệu là một viên quan phương bắc cử sang đô hộ. Họ Cao làm quan có công với nhà Đường, được thăng chức Tần Châu Phòng ngự sứ trước khi được sai đi “đánh dẹp” ở phương nam và cử làm “Tĩnh hải quân Tiết độ sứ” cai trị nước ta. Tuy nhiên, sau khi phá xong quân Nam Chiếu, Cao Biền đã có động thái rất không bình thường. Sử Trung Quốc không hề ghi Cao Biền được phong vương, nhưng chính sử nước ta lại viết: “Cao Biền giữ phủ xưng vương, đắp La Thành vòng quanh 1.982 trượng lẻ 5 thước, thân thành cao 2 trượng 6 thước, chân thành rộng 2 trượng 5 thước, bốn mặt thành đắp các nữ tường nhỏ trên bốn mặt thành cao 5 thước 5 tấc, lầu nhìn giặc 55 sở, cửa ống 6 sở, cừ nước 3 sở, đường bộ 34 sở. Lại đắp con đê vòng quanh dài 2.125 trượng 8 thước; cao 1 trượng 5 thước, chân rộng 2 trượng, cùng làm nhà cửa hơn 40 vạn gian” (Đại Việt sử ký toàn thư - ĐVSKTT, tập 1, tr.200, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004).

Việc “giữ phủ xưng vương” này đương nhiên không phải do triều đình nhà Đường sai bảo, đây có khả năng là hành động tự ý cát cứ.

ĐVSKTT còn chép rằng, sau khi xây xong thành Đại La, Cao Biền còn thực hiện một kỳ công là đục đá ngầm mở đường biển cho thuyền bè đi lại. “Nay khai đường biển để giúp dân sinh, nếu mình không theo lòng riêng thì có gì khó”, Cao Biền tuyên bố. Còn sử thần Ngô Sĩ Liên của nước ta thì bình luận: “Đó là vì việc làm hợp lẽ cho nên được trời giúp”.

Do lo ngại về mưu đồ cát cứ của Cao Biền, nên đến năm 875 (đời Đường Hy Tông), Cao Biền bị triệu hồi về làm Tây Xuyên Tiết độ sứ. Đến cuối đời Đường, nhân loạn Hoàng Sào, Cao Biền kháng chỉ từ chối đem quân về cứu giá, sau đó tạo phản chiếm giữ Dương Châu. Cuối cùng thua quân triều đình, bị bắt và bị giết.

Vì lẽ đó, cũng như công tâm ghi nhận trong khi cai trị nước ta Cao Biền đã có công xây thành đắp lũy, mở mang giao thông cũng như một số chính sách an dân, ngăn chặn sự nhũng lạm của đám quan lại thừa hành, nên Cao Biền được chính sử Việt Nam có một cái nhìn khá trân trọng.

Lý Công Uẩn gọi Đại La là “đô cũ của Cao Vương”, ngoài lý do nói trên, có lẽ còn có lý do quan trọng khác mà ông muốn nhấn mạnh: Cao Biền là người rất giỏi về địa lý và phong thủy. Chúng ta có thể thấy điều đó đằng sau những chuyện “trấn yểm” mang tính huyền thoại kia.

Nhưng thành Đại La có từ bao giờ? Dựa theo những ghi chép từ lịch sử, phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng nó bắt đầu được xây dựng từ năm 621 do Đại tổng quản Giao Châu của nhà Đường là Khâu Hòa thực hiện, gọi là Tử Thành, có chu vi 900 bộ. Kế đó, vào năm 767, Kinh lược sứ nhà Đường là Trương Bá Nghi đã cho đắp thêm cao hơn, gọi là La Thành. Năm 791, một quan cai trị khác là Triệu Xương đắp lại kiên cố hơn. Năm 808, Trương Chu đắp thêm một lần nữa... Đến năm 866 Cao Biền đến đây “giữ phủ xưng vương” và đắp thành hoành tráng như đã nói. Như vậy là thành Đại La, tiền thân của Hoàng thành Thăng Long, chỉ là thành cũ do các quan cai trị phương bắc dựng lên và mở rộng, làm cho kiên cố dần. Có đúng như vậy không?

Hãy lật lại những trang sử trước nữa. Vào năm 541, theo ĐVSKTT, Lý Bí “dấy binh đuổi giặc (nhà Lương), xưng là Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên”. Những người dịch ĐVSKTT ghi chú: “Vị trí của thành Long Biên đến nay vẫn chưa xác định được, có thể ở vùng gần thị xã Bắc Ninh, tỉnh Hà Bắc”. Ghi chú này có liên quan đến chương về Sỹ Nhiếp cũng trong ĐVSKTT, tại đây ghi Sỹ Nhiếp làm Thái thú Giao Châu, “đóng đô ở Liên Lâu (tức Long Biên)”, tuy nhiên những người dịch ĐVSKTT lại ghi chú: “Liên Lâu: cũng thường đọc là Luy Lâu, ở Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, nay còn di tích thành, theo nhiều nhà khoa học, thành Liên Lâu không phải là Long Biên”. Thế thì Long Biên ở đâu?

Lần theo sử Trung Quốc thì sẽ thấy Lương thư ghi rằng: Lý Nam Đế “dựng thành lũy bằng tre gỗ ở cửa sông Tô Lịch” (dẫn theo Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo VN tập II). Đối chiếu với lời của nhà sư La Quý (chú ý: La Quý là người sống cùng thời với Cao Biền) ghi trong Thiền uyển tập anh đã dẫn ở trên “Trước kia, Cao Biền xây thành ở Tô Lịch...”, chúng ta có thể thấy nơi mà Lý Nam Đế đóng đô chính là nơi Cao Biền dựng thành. Thành Long Biên của Lý Nam Đế là tiền thân xưa nhất của thành Đại La. Thành này Lý Nam Đế đã dựng cung Vạn Thọ làm nơi triều hội và xây chùa Khai Quốc tồn tại đến ngày nay (nay là chùa Trấn Quốc). Mãi đến năm 602, Lý Phật Tử còn sai anh là Lý Đại Quyền giữ thành Long Biên, nghĩa là nó tồn tại suốt hơn 60 năm trước khi bị quân xâm lược phương bắc chiếm giữ.

Có thể dẫn thêm một số chi tiết khác “ẩn” trong sử sách để minh chứng cho điều này, nhưng chừng ấy cũng đủ để khẳng định Lý Nam Đế là vị vua đầu tiên đóng đô ở nơi mà sau này Lý Thái Tổ dời đô đến, nơi trở thành Thăng Long - Hà Nội 1.000 năm. Nó do chính người Việt Nam ta phát hiện, chứ không phải do người Trung Quốc.

Hoàng Hải Vân

(Bài đăng trên Thanh Niên, 27.9.2010)

Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2010